-
Tháng 6 là tháng ngày sinh của học giả Nguyễn Văn Vĩnh (15.6.1882), cũng tháng này, trang thông tin tannamtu.com cũng vừa tròn một năm ra đời. Để ghi nhận những diễn biến này, để đem đến cho các độc giả của mình một món quà nhỏ, BBT chúng tôi xin gửi tới các độc giả xa gần bài viết của Nguyễn Văn Vĩnh từ hơn 80 năm trước, thể hiện tấm lòng của ông với tổ quốc này và cả sự hiểu biết uyên thâm về quá khứ của đất nước này. Chúng tôi cũng xin được chuyển đến các quý vị độc giả nguyên bản tiếng Pháp của bài viết. Bản dịch này của hai người con trai đã khuất và dịch từ hơn 20 năm trước. BBT chúng tôi đã làm công việc chỉnh sửa kỹ thuật đối với bài dịch với một ý thức rất nghiêm túc. Tuy nhiên, nếu thấy có chi tiết nào sai sót, rất mong các quý vị độc giả chỉ dẫn để những trường hợp tiếp theo sẽ có chất lượng tốt hơn, đem lại niềm tin cho cộng đồng.
Trân trọng! -
Các nhà báo đều hiểu, khi viết bài cho các tờ báo An Nam, chỉ nên viết vừa đủ những gì phải nói, những điều được phép nói. Những người lo việc kiếm sống, đã rất hiểu việc không nên tạo ra những khó khăn cho ông chủ của mình, người đang sử dụng mình, bằng những chiêu đánh lừa được sự sắc sảo của những kẻ kiểm duyệt. Qua đây, ngài Toàn quyền cũng nên nhận thấy rằng, các tờ báo An Nam đều rất “ngoan ngoãn”, việc hủy bỏ chế độ kiểm duyệt chẳng qua chỉ là cách tiết kiệm chi tiêu trong thời buổi này mà thôi.
...
Tôi nghĩ về sự tự do của báo chí An Nam cũng phải được trưởng thành như lời dạy của Victor Hugo: “Những chữ viết đầu tiên của người viết cũng phải được cân nhắc như những bước đi đầu tiên của một đứa trẻ khi tập đi”. -
Trong một giai đoạn dài dưới sự đô hộ của Phong kiến Trung Hoa ở nước ta, không hề có sự đàn áp nào trong lĩnh vực tư tưởng, hay sự hạn chế nào về tự do viết lách. Chỉ sảy ra những sự việc đơn lẻ trong lĩnh vực chuyển giao những phương thức sản xuất hoặc công nghệ sản xuất. Ngược lại, những người An Nam, khi tiếp thu được đầy đủ những phương thức sản xuất, họ cũng được vinh quang và đối xử ngang hàng. Nhưng người Pháp?! Họ đã bảo với chúng tôi rằng: Các vị vẫn là dân An Nam, các vị chỉ được trở thành người Pháp trong phạm vi mà chúng tôi cho phép, điều này để đảm bảo sự thuận lợi trong hoạt động của chúng tôi trên đất nước này!
-
Tiếng Pháp – tiếng để tranh luận (Le Francais - Langue de discussion)
"Công lao của biết bao nhiêu thế hệ, công cuộc mà bản thân tôi chỉ chiếm một phần rất nhỏ để tạo nên một ngôn ngữ mới cho người dân An Nam. Để hoàn thiện công việc này, đòi hỏi tất cả còn phải cố gắng, cố gắng liên tục cùng với sự sáng suốt của nhiều thế hệ kế tiếp để hòng đem lại cho ngôn ngữ của chúng ta ngày càng đầy đủ, ngày càng chính xác, nhằm tạo ra được khả năng tích lũy tính tư tưởng, điều mà chỉ có thể đúc kết và làm được từ những hiểu biết ngọn nguồn của kiến thức trong tiếng Pháp".
Ban Biên tập Tannamtu.com trân trọng giới thiệu tới quý vị bài báo được Nguyễn Văn Vĩnh viết năm 1935, có nhan đề:"Tiếng Pháp, tiếng để tranh luận" được đăng trên tờ L'Annam Nouveau. -
Khai-bút (Premiers coups de pinceau) Đông Dương tạp chí, số 38, ra ngày 25/2/1914
Mấy hôm tết, chơi xuân đã khí chán. Tuổi ba-mươi tính hay nhẩy, mà cũng đến đóng cửa ngồi nhà, băn khoăn suốt sáng, hồ nhấp nháy con mắt, tiếng pháo dật nảy mình. Đền này trống, chùa nọ chuông, ròm sang mấy nhà láng riềng, thì đây thấy đèn hương bàn độc cúng giữa giời; đó thấy đốt vàng hồ tiền giấy. Lũ trẻ nhà thì thấp thỏm đợi đến lượt nhà đốt pháo. Dưới ánh đèn giong mấy giò thủy-tiên trông thấy nở, mùi hương ngào ngạt, nhắc cho kẻ nhớ xa nghĩ đến những cảnh đôi ba mươi năm về trước. Dần dần tiếng pháo tiếng chuông, tiếng trống cũng thưa thưa. Trẻ con, người lớn lần lượt ngủ lăn, kẻ cạnh giường, người trên ghế, nhường chỗ cao sang cho ông bà ông vải. Hay thay cái tục, một năm được mấy ngày, tổ tiên về ở chung với con cháu !
-
Chính phủ bảo hộ, ngoài chính sách giáo dục xa lạ với chúng ta về mặt tinh thần, nếu không muốn nói là nó mập mờ và chỉ tương đối dễ hiểu ở khía cạnh thực tiễn và ứng dụng, cũng đã quan tâm đến việc tạo điều kiện cho việc hình thành một tầng lớp tinh hoa An-nam, nơi sẽ cung cấp đội ngũ thày dạy cho cả hai loại hình giáo dục: đương đại và cổ truyền. Đơn cử nhiều hiệp hội, nhiều câu lạc bộ của dân bản xứ được tài trợ một cách hào phóng, nơi người ta hy vọng sẽ quy tụ tất cả những gì là tiêu biểu cho xã hội chúng ta, cả về các hoạt động tri thức cũng như các trò giải trí được cho phép. Thật không may là cơ cấu của các tổ chức này lại hoàn toàn theo kiểu châu Âu và đương nhiên nó chỉ đem lại các kết quả có tính thực dụng. Các tổ chức đó không thể là cái gì khác ngoài hình ảnh của một xã hội hỗn loạn,
-
Dù không phải lúc nào cũng được định nghĩa chính xác, nhưng mỗi xã hội luôn công nhận một lớp người thuộc hàng đẳng cấp, được cấu thành một cách mơ hồ từ những nhân vật nổi lên trong dân chúng đông đảo, nhờ ở, hoặc các phẩm chất trí tuệ đã được xác nhận danh chính bởi các chức vị hay mặc nhiên được công nhận, hoặc chỉ đơn giản do vị trí người đó nắm giữ trong xã hội với lập luận là để đạt tới địa vị xã hội đó, đòi hỏi người ta phải có một trí tuệ nổi trội. Trong giới tinh hoa chính thức của bất cứ xã hội nào cũng tồn tại những cá nhân mà nếu tách riêng ra, có thể còn thấp kém hơn giới trí thức trung bình. Về đại thể, tầng lớp này được coi như sở hữu đa số những năng lực tinh thần và tri thức đã tạo ra uy quyền trên các lĩnh vực chính trị, văn học và nghệ thuật.
-
Năm mới nói mở hàng (Phan Kế Bính - Báo "Đông Dương tạp chí" số 37 ngày 22/1/1914)
Tục ta mỗi năm đến buổi chiều ngày ba mươi tháng chạp kêu là ngày trừ-lịch nghĩa là ngày hôm đó là ngày hết năm, trừ bỏ hết sự cũ mà sắp sửa tiếp các sự mới. Qua khỏi mười hai giờ đêm, bước sang một giờ, nhà nào nhà nấy làm lễ giao-thừa (ông thần năm cũ giao việc cho ông thần năm mới nhận lấy), từ đó thì là đầu năm mới rồi. Sáng hôm mồng một tết nhà nào cũng đã trang hoàng rực rỡ, cảnh tượng trông ra mới mẻ có, trong nhà bầy đồ thờ tự mới, treo nghi-mon màn-quán mới, (tuy cũ như mà bây giờ mới giở ra thì cũng là mới).
-
Hát ve gái (Những bài hát trẻ con - Les chansons d’enfants)
Trên trời có ông sao băng !
Ở dưới đồng-bằng có cô rỗ hoa.
Ta về ta bảo mẹ ta:
Giết lợn đi cưới, giết gà đi cheo.
Đầu lợn lớn hơn đầu mèo,
Làng ăn chẳng hết đem treo cột đình.
Ông sãi đánh trống thinh thinh.
Quan viên mũ áo ra đình tế vua. -
Có chồng rồi (Những bài hát trẻ con - Les chansons d’enfants)
Trèo lên cây gạo cao-cao.
Bước xuống vườn đào hái nụ tầm-xuân.
Nụ tầm-xuân nở ra xanh biếc,
Em có chồng rồi anh tiếc lắm thay !
Vẻ gì một miếng trầu cay ;
Sao anh không hỏi những ngày còn không?
Bây giờ em đã có chồng;
Như chim vào lồng, như cá cắn câu!
Cá cắn câu biết đâu mà gỡ?
Chim vào lồng biết thủa nào ra. -
Đi đâu cũng gặp nhau (Những bài hát trẻ con - Les chansons d’enfants)
Ông Nỉnh, ông Ninh !
Ông ra đầu đình,
Lại gặp ông Nang.
Ông Nảng, ông Nang !
Ông ra đầu làng,
Lại gặp ông Ninh. -
Gà gáy o o (Những bài hát trẻ con - Les chansons d’enfants)
Con gà mày gáy o ! o !
Chửa đi đến chợ đã lo ăn quà,
Bánh nếp ép lẫn bánh đa;
Củ từ khoai mịn nào là cháo kê.
Ăn rồi cắp đít ra về
Thấy hàng chả chó lại lê trôn vào.
Chả này bà bán làm sao ?
Ba đồng một gắp lẽ nào không mua !
Nói dối rằng mua cho chồng,
Đem ra quãng đồng ngả nón ngồi ăn.
Về nhà con khóc băn-khoăn
Nào mẹ đi chợ có ăn quà gì? -
Những bài ru (Những bài hát trẻ con - Les chansons d’enfants)
Cái ngủ mày ngủ cho lâu,
Mẹ mày đi cấy đồng sâu chưa về.
Bắt được con riếc con trê,
Cầm cổ lôi về cho cái ngủ ăn.
Cái ngủ ăn chẳng hết,
Để dành đến tết mùng ba.
Mèo già ăn trộm;
Mèo ốm phải đòn;
Mèo con phải vạ;
Con quạ đứt đuôi;
Con ruồi đứt cánh;
Đòn gánh có mấu;
Châu chấu có sừng;
Bánh chưng có lá;
Con cá sổi vây;
Ông thầy có sách;
Đào ngạch có dao;
Thợ rào có búa; -
Chi-chi chành-chành (Những bài hát trẻ con - Les chansons d’enfants)
Một đứa trẻ ngửa bàn tay phải, những đứa kia để ngón trỏ vào bàn tay ấy. Trong khi đó hát nhanh câu này, thì ai nấy có ý chờ cho gần hết, phải rút kịp ngón tay ra trước khi nó kịp ập lại! Kẻo khi nói đến chữ ập thì bàn tay ấy nắm lại, ngón nào bị nắm là thua.
-
Phụ đồng chổi (Những bài hát trẻ con - Les chansons d’enfants)
Đây là trẻ-con chơi lên đồng. Một đứa ngồi im, hai tay cầm cái chổi để đứng, ngọn chổi trở lên. Một đứa vừa đánh trống vừa đọc những lời phụ trên này, bắt-chước giọng phụ của thày phù-thủy. Khi phụ được lâu lâu thì đứa trẻ ngồi đồng, hoặc tảng-lờ đồng lên đảo đầu một lát như mê rồi đứng dậy cầm chổi mà quét la-liệt. Những trẻ đứng quanh sợ chổi quét vào chân chạy tán-loạn. Hoặc có khi mê thật, vì tiếng trống tiếng phụ khiến ra như vậy.





