1. Cách đây 10 tháng
    Maximilien Nguyễn Phùng...

                                       

    Năm 1900, đúng 18 tuổi, Nguyễn Văn Vĩnh lấy bà vợ tên là Đinh Thị Tính, 19 tuổi, cùng quê với ông. Cưới xong, hai vợ chồng rời Hà Nội dọn ra Hải Phòng, thuê một căn nhà nhỏ ở phố Cầu Đất, sống đời sống của một công chức trung bình, ngày ngày ông đi làm, bà lo việc nhà và đi chợ buôn bán thêm. Năm sau bà sinh con trai đặt tên là Nguyễn Hải (Hải Phòng), đây cũng là lúc ông Vĩnh đẩy mạnh hoạt động viết báo, dịch sách và tự học thêm. Tới khi chuyển về Bắc Giang, ông Vĩnh được hưởng lương cao hơn, bà buôn bán thuận lợi hơn, cảnh nhà nhờ vậy cũng đỡ chật vật hơn. Tới năm 1904 ông bà sinh thêm một cậu con trai đặt tên là Nguyễn Giang (Bắc Giang). Gia đình lúc này đã có 5 người: một bố già, hai vợ chồng và hai con trai. Sau 5 năm tần tảo, dành dụm, từ Hải Phòng tới Bắc Giang rồi về Hà Nội bà Vĩnh đã tậu được một căn nhà nhỏ ở số 34 phố Mã Mây. Nhà 2 tầng, gian dưới dành cho sinh hoạt gia đình, tầng trên là nơi làm việc của ông Vĩnh. Gian gác nhỏ trở thành nơi họp mặt bạn bè và đồng sự. Ông có nhà là có khách: khách hội Trí Tri, khách trường Đông Kinh Nghĩa Thục, khách tới nhờ viết đơn và thảo điều lệ xin thành lập trường học, hội từ thiện và các hội khác... Bạn bè thân thiết của ông lúc bấy giờ có các ông tân học như Phạm Duy Tốn, Phạm Huy Lục, cựu nho như Phan Kế Bính, Nguyễn Đỗ Mục... Gia đình ông Vĩnh sống hạnh phúc trong căn nhà nhỏ này từ 1906 tới 1921, 16 năm, tức suốt thời gian ông Vĩnh ra sức tôi luyện chữ Quốc Ngữ. Ông bà có thêm 8 người con, tổng cộng là 10: Nguyễn Hải 1901 ở Hải Phòng, Nguyễn Giang 1905 ở Bắc Giang, Nguyễn Thị Loan 1907, Nguyễn Thị Nội 1909, Nguyễn Thị Vân 1913, Nguyễn Dương 1914, Nguyễn Văn Phổ 1917, Nguyễn Kỳ 1918, Nguyễn Thị Mười 1919 và Nguyễn Dực 1921. Sau đó còn có thêm con út là Nguyễn Hồ, sinh năm 1923. Ông Vĩnh là người thông thạo nhiều ngoại ngữ nhưng lại rất bình dân trong việc đặt tên cho con cái. Con cả Nguyễn Hải sinh tại Hải Phòng, con thứ Nguyễn Giang sinh ở Bắc Giang, Nguyễn Văn Phổ sinh vào thời điểm chiến tranh Pháp - Phổ, Nguyễn Dực sinh ở làng Phượng Dực quê nhà... Thời đó, nước ta còn theo tập tục phong kiến, trai nám thê bảy thiếp là chuyện thườngh tình. Ông Vĩnh phương phi cao lớn, tài cao, học rộng, đàn ông thì ai ai cũng mến phục, phụ nữ thì cô nào cũng mê tít thò lò. Trong số những vị nữ lưu sáng giá của Hà Thành lúc đó có một cô tên là Hai Lựu, người cao ráo, trắng trẻo, giao du rất rộng, nói thạo tiếng Pháp, nguyên là con gái yêu của một thổ ty giàu có ngoài Lạng Sơn. Mỗi khi về Hà thành thời ấy, người đẹp Hai Lựu hay ghé phố Hàng Trống và cuối cũng đã lọt vào mắt xanh của ông chủ bút kiêm xuất bản hào phóng Nguyễn Văn Vĩnh. Hai người chung sống chính thức có với nhau 1 người con tên là Nguyễn Nhược Pháp, sinh năm 1914 (năm đó quân Pháp yếu, bị quân Đức dần cho nhiều trận thê thảm nên ông Vĩnh đã theo đó mà đặt tên cho con trai).

    Năm Nhược Pháp được 2 tuổi, ông Vĩnh lại lẹo tẹo, lập thêm phòng thứ ba. Bà Ba này tên Suzanne Papillon, có máu lai, nguyên là bạn của cô Hai Lựu, từng theo cô đi gặp Nguyễn Văn Vĩnh ở Hàng Trống. Cô Lựu buồn vì nhân tình thế thái, đã tự kết liễu cuộc đời bằng một phát súng khi mới 22 tuổi! Cô nổi tiếng là một tay sử dụng súng ngắn rất thạo, các tờ báo đứng đắn lẫn lá cải Hà thành thời ấy từng đăng tin vợ kế cụ Vĩnh - bà Hai Lựu - xách súng ngắn đáp xe sang trang trại nổi tiếng của Suzanne bên Gia Lâm quyết phải quấy một phen với chính người bạn thân của mình!

     

    Suzanne Papillon Giáp Thị Thục, một trong những khuôn mặt khả ái của đất Hà thành nói riêng và Bắc Kỳ nói chung vào những năm hai mươi của thế kỷ XX là con của một viên chức dân sự Pháp tòng sự ở Hà thành với một người con gái xứ Bắc Kỳ. Gia đình ông Tây này thuộc hạng khá giả, có mấy trại ấp ở ngoại thành, đáng kể nhất là bên mạn Gia Lâm. Nhan sắc nổi trội, chưa đầy 16 tuổi nàng Suzanne đã thạo thơ phú văn chương, đàn nhạc. Trai tài gái sắc gặp nhau ở phố Hàng Trống chỉ vài lần là dính, ông Vĩnh mỗi lần tâm đắc bài viết, đoạn dịch nào đều sai người cầm sang cho Suzanne thưởng thức trước nhất! Năm 1920, Suzanne hạ sanh con trai tên là Nguyễn Hiến. Năm sau cho ra đời đứa trai thứ nhì là Nguyễn Phùng (3/6/1921). Mãi tới năm 1927 bà mới đẻ được đứa con thứ ba, con gái, tên là Nguyễn thị Thu Hương. Cô út Thu Hương yểu mệnh, qua đời năm 1945, lúc đó chưa đầy 18 tuổi. Ông anh cả Nguyễn Hiến... khác hẳn bố mẹ; ông theo bà Suzanne di cư vào Nam năm 1954, phục vụ dưới mấy trào chính quyền, từng làm đến chức tổng trưởng ngành hải quan thời Nguyễn Văn Thiệu, sau 1975 phải đi học tập cải tạo một thời gian. Xong cải tạo, ông sang Mỹ định cư và mất tại đó năm 1996. Riêng Nguyễn Phùng tính khí hơi giống cha mẹ, cao lớn phương phi như bố. Bố là người Việt, nhưng vào hồi nhộn nhạo Pháp - Nhật, theo chỉ thị của toàn quyền Pháp, nếu mẹ là quốc tịch Pháp thì đương nhiên con cái đều là công dân Pháp. Mồ côi cha lúc 14 tuổi (đã cùng mẹ sang Lào nhận xác cha), Nguyễn Phùng học chương trình Pháp tại trường Lycée Albert Sarrault dành riêng cho con cháu người Pháp và một số người Việt có máu mặt. Nguyễn Phùng thông minh, học giỏi, có khiếu về văn học, đậu tú tài năm 16 tuổi, hai năm sau cưới vợ! Vào những năm bốn mươi thời đó, ở Hà Nội, gần nhà Gôđa Tràng Tiền có tiệm bánh ngọt nổi tiếng, chủ hiệu là một ông Tây tên là Coulier. Ông Coulier có vợ Việt Nam người làng Mục Xá, Hà Đông, có 3 cô con gái đều là hoa khôi, trong đó cô Michelle Thu Loan nổi trội hơn cả. Tuy là Tây lai con nhà giàu nhưng từ bé cô Loan sống tại quê mẹ trong dinh thự ở Mục Xá (hiện còn sót lại nhưng đã hoang phế), tính tình cô thuần hậu dịu dàng. Cô trở thành vợ của Nguyễn Phùng đúng vào lúc thế chiến thứ hai bùng nổ. Tình hình chính trị xã hội rối loạn, chính quyền thực dân lao đao vì những phong trào cách mạng đòi độc lập dân chủ, Nguyễn Phùng chọn con đường binh bị, gia nhập đội sĩ quan thông ngôn của quân lực thuộc địa, do có quốc tịch Pháp nên một thời gian sau đã đeo lon quan ba. Thời cuộc đổi thay với nhiều cảnh oái oăm, Nguyễn Phùng đi lính cho Pháp trong khi bà vợ cả của ông Vĩnh và các con như Nguyễn Dực, Nguyễn Phổ, Nguyễn Hồ... lại theo Việt Minh (Nguyễn Dực là người đã đóng góp cả gia sản cho việc thành lập Đài tiếng nói Việt Nam, phụ trách phần âm thanh trong buổi lễ "tuyên ngôn độc lập" ở Ba Đình ngày 2/9/1945). Thế chiến thứ hai kết thúc, Nhật đầu hàng, cuộc chiến Đông Dương bắt đầu, đến năm 1954 thì Pháp đại bại tại Điện Biên Phủ, đất nước bị chia đôi. Bị Việt Minh ruồng bố một thời gian chịu không nổi, hai vợ chồng và 6 đứa con cùng bà Suzanne buộc phải xuôi Nam rồi lên tàu đi Pháp lánh nạn, tạm trú trong một căn hộ trên Avenue Foch ở Paris. Lon sĩ quan thuộc địa không được nhìn nhận, gia cảnh túng thiếu cùng khốn, Nguyễn Phùng thêm một lần nữa dắt díu vợ con lên tàu, trực chỉ Algérie. Lúc này cuộc chiến Algérie đang hồi gay cấn, Nguyễn Phùng sản xuất đứa con thứ 7, tái đầu quân với lon adjudant. Ban gày đánh trận, buổi tối ông họp với một số bạn đồng ngũ học luật.

    Algérie dành được độc lập (18/3/1962), gia đình Nguyễn Phùng theo đội quân viễn chinh về Pháp, lúc đầu đóng đô tại thành phố Nîmes. Sau đó, Nguyễn Phùng chuyển sang ngạch dân sự, dọn về thành phố Montpellier ghi danh học trường luật, mở nhà hàng Việt Nam tại đây, tên là Le Domino Chinois. Tốt nghiệp ông được trường giữ làm trợ giáo (assistant), sau đó làm giảng viên chính thức (maître-assistant) rồi được phong giáo sư (professeur). Trong suốt thời gian ông lang bạt cho đến ngày ông nghỉ hưu, bà Suzanne vẫn ở Sài Gòn không sang Pháp gặp con trai, cho đến năm 1981 bà qua đời, thọ 79 tuổi, ông cũng chẳng có cơ hội được gặp lại mẹ hiền... Ông Maximilien Nguyễn Phùng là một giáo sư giỏi có tiếng với lối giảng bài hấp dẫn, dễ hiểu, ông đã góp phần đào tạo rất nhiều chính khách, luật sư trong vùng như chủ tịch luật sư đoàn André Ferran (Bâtonnier de l'Ordre des Avocats de Montpellier), cựu chủ tịch luật sư đoàn Toà Thượng Thẩm Jacques Martin (ancien Bâtonnier des Avocats de la Cour d'Appel), nhiều thị trưởng các tỉnh miền Nam nước Pháp trong thời gian học Luật ở Montpellier đều là học trò của ông. Đương kim chủ tịch Vùng Languedoc Roussillon Georges Frêche, cũng là giáo sư Luật, từng là bạn nối khố của ông. Ông có được 8 người con, tất cả đều thành đạt. Hai cậu quí tử Jean-Robert và Jean-Marc hiện đang cai quản một trong những tổ hợp luật tăm tiếng tại Montpellier, chuyên về hình sự.

     

    Với cộng đồng Việt Nam tại Montpellier, ông là một người vui tính, đầy nhiệt huyết, từng tham gia nhiều sinh hoạt của sinh viên Việt Nam tại Mông Thành. Năm 1996, lần đầu tiên sau mấy chục năm tha hương, ông về Việt Nam thăm lại quê cha đất tổ. Tình cờ gặp lại một ông thầy cũ, ông đã quỳ lạy ngay trên đường phố để tỏ lòng biết ơn công lao dạy dỗ của thầy. Gặp lại bà con thân thích, con cháu của bà cả ông Vĩnh, ông Phùng hẹn sang năm tức là năm 1997 sẽ về nước ở hẳn. Thế mà đến hẹn, ông đột ngột ra đi vĩnh viễn sau một cơn bạo bệnh vào ngày 10/12/1997 tại Montpellier, cách đây đúng 10 năm. Hôm đó, trước giờ khai giảng, toàn bộ hội đồng giáo sư đại học luật Montpellier đã dành riêng một phút tưởng niệm cho người đồng nghiệp tài ba.

     

    Lê Nguyên Dũng

    Nguồn bài dẫn: http://www.thivien.net/forum_viewtopic.php?ID=1171

Liên hệ với chúng tôi
15.1:0.000877141952515.