1. Cách đây 12 tháng
    TNT NGUYỄN VĂN VĨNH

    http://tannamtu.com/a/news?t=79&id=1002360 

    http://www.tannamtu.com/a/news?t=2 

    http://tannamtu.com/a/news?t=86 

    http://www.tannamtu.com/a/news?t=12 

    http://www.tannamtu.com/a/news?t=12 

    http://www.tannamtu.com/a/news?t=90 

    http://www.tannamtu.com/a/news?t=91 

    http://www.tannamtu.com/a/news?t=2&id=982774 

    http://www.tannamtu.com/a/news?t=2 

    http://www.tannamtu.com/a/news?t=85 

    << Trước Dừng Chạy > Tiếp >>


    TÓM TẮT TIỂU SỬ CỦA HỌC GIẢ NGUYỄN VĂN VĨNH

     
     

     


    THÂN THẾ

    Ông Nguyễn Văn Vĩnh sinh ngày 15/6/1882 tại số nhà 46, phố Hàng Giấy, Hà Nội. Thân phụ là Nguyễn Văn Trực (người gốc làng Phượng Vũ, Phượng Dực, Phú Xuyên, Hà Nội), thân mẫu không rõ tên (do tập quán xưa kia, khi người phụ nữ lấy chồng sẽ mang tên chồng). Khi còn nhỏ, gia đình cho đi chăn bò thuê ngoài bãi Long Biên (nay là chân cầu Long Biên).

     

    HỌC VẤN VÀ NGHIỆP CÔNG CHỨC

    Năm lên 8 tuổi, ông xin được làm công việc kéo quạt mát (lúc đó chưa có điện) cho lớp học của người Pháp dạy các học viên đã đỗ tú tài, cử nhân học để làm thông ngôn (phiên dịch).

    10 tuổi, ông được nhà trường cho phép thi cùng các học viên của chính lớp học mình ngồi kéo quạt. Khi lớp học mãn khóa, Nguyễn Văn Vĩnh đã đỗ thứ 12 trong số 40 học viên. Vì quá nhỏ, nhà trường cho phép Nguyễn Văn Vĩnh được học lại từ đầu (khóa học 4 năm). Kết thúc khóa học, Nguyễn Văn Vĩnh đỗ đầu (thủ khoa).

    15 tuổi Nguyễn Văn Vĩnh được đưa đi làm thông ngôn tại tòa sứ Lao Cai (1897).

    17 tuổi: Được điều chuyển về tòa sứ Hải Phòng, tại đây Nguyễn Văn Vĩnh đã “tự tốt nghiệp phổ thông” bằng việc mua và tự học bộ sách giáo khoa tiếng Pháp (Encyclopédie autodidactique quilet - Sách tự học chương trình phổ thông).

    18 tuổi, vì cụ bà Nguyễn Văn Trực đã qua đời, cụ ông Nguyễn Văn Trực có phần phiền muộn và ông Nguyễn Văn Vĩnh quyết định lập gia đình với bà Đinh Thị Tính (sinh năm 1881, ở số nhà 12 ngõ Phất Lộc, Hà Nội).

    20 tuổi Nguyễn Văn Vĩnh được điều chuyển về tòa sứ tỉnh Bắc Giang (bao gồm cả Bắc Ninh).

    24 tuổi được điều chuyển về Tòa Đốc lý Hà Nội. Cùng năm (1906), ông được cử đi hội chợ thuộc địa tại thành phố cảng Mác xây (Marseille) Pháp. Kết thúc hội chợ Nguyễn Văn Vĩnh xin ở lại thêm 3 tháng. Trở lại Việt Nam, Nguyễn Văn Vĩnh xin thôi làm công chức của Tòa Đốc lý Hà Nội. Tính từ thời điểm này cho đến khi qua đời, Nguyễn Văn Vĩnh không nhận và không giữ bất kỳ vị trí nào trong hệ thống cai trị của chính quyền.  

     

    SỰ NGHIỆP VĂN HÓA - CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI:

    Năm 1906, gia đình Nguyễn Văn Vĩnh chuyển về Hà Nội ở số nhà 39 Mã Mây, nơi đây trở thành điểm tập trung của các thân sỹ như Phạm Duy Tốn, Phan Kế Bính, Phạm Huy Lục, Nguyễn Đỗ Mục…

    Năm 1907, Nguyễn Văn Vĩnh chính thức đứng đơn gửi nhà cầm quyền xin thành lập trường Đông kinh Nghĩa thục ở số 10 phố Hàng Đào và do cụ Lương Văn Can làm thục trưởng. Trong Đông kinh Nghĩa thục, Nguyễn Văn Vĩnh là người dạy môn chữ Quốc ngữ và Pháp văn.

    Cùng thời kỳ này, Nguyễn Văn Vĩnh, với sự hợp tác của một người Pháp là Francois Henry Schneider, chính thức là chủ bút của tờ báo tiếng Việt đầu tiên ở Bắc kỳ, tờ Đăng cổ tùng báo. Con đường làm báo chính thức của Nguyễn Văn Vĩnh bắt đầu từ đây. Ông là chủ bút của 07 tờ báo cho đến khi từ giã cõi đời. Trong đó, tờ báo cuối cùng trong sự nghiệp báo chí của ông, tờ L’Annam nouveau (Nước Nam mới) là tờ báo quy mô nhất, thành công nhất và hệ lụy nặng nề nhất.

    Phục vụ cho sự nghiệp làm báo của mình, Nguyễn Văn Vĩnh đã thực hiện việc dịch các tác phẩm văn hóa từ chữ Nôm ra Quốc ngữ, từ Hán văn ra Quốc ngữ, từ Pháp văn ra Quốc ngữ, từ Hán văn ra Pháp văn và từ Quốc ngữ ra Pháp văn từ khi còn rất trẻ. Tổng số trang dịch của Nguyễn Văn Vĩnh từ Pháp văn ra Quốc ngữ là lớn nhất, của nhiều tác giả và tác phẩm nổi tiếng nhất, đồng thời cũng là những tác phẩm lần đầu tiên có mặt tại Việt Nam in bằng chữ Quốc ngữ vào những thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 20. Tổng số đầu sách Nguyễn Văn Vĩnh đã dịch vào khoảng 30 tác phẩm của khoảng 20 nhà bác học, nhà khoa học, nhà văn, nhà nghiên cứu, nhà phê bình nổi tiếng của châu Âu và thế giới. Ba tác phẩm gần gũi với bạn đọc nhất là: Tập truyện thơ ngụ ngôn của La Phông Ten (La Fontaine), Tiểu thuyết Những người Khốn khổ của Victo Huygo (Victor Hugo) và Ba chàng ngự lâm pháo thủ của Alếcxăng Duma (Alexander Dumas).

    Tồn tại với vai trò là một nhà báo tự do, song thực chất Nguyễn Văn Vĩnh là người hoạt động trong nhiều lĩnh vực: văn hóa, xã hội và chính trị. Làm văn hóa trong một bối cảnh đất nước cực kỳ lạc hậu do xã hội Phong kiến để lại với sự thống trị của chế độ Thực dân kiểu cũ nhưng Nguyễn Văn Vĩnh lại tự nhận mình là “Người Nam mới” (Tân Nam tử), luôn đòi cải cách, duy tân… Điều đó khiến ông mặc nhiên đã đặt mình vào vị trí kẻ đối lập.

    Năm 1922, Nguyễn Văn Vĩnh chính thức chia tay với Francois Henry Schneider (hết hạn về Pháp), từ thời điểm này, ông thực sự độc lập cả về nghĩa bóng lẫn nghĩa đen.

    Năm 1926, Nguyễn Văn Vĩnh tổ chức thành lập Trung tâm sách Âu Tây tư tưởng (Trụ sở đặt ở số nhà 1-3 phố Hàng Gai, nhìn ra Hồ Gươm, Hà Nội).

    Tư tưởng của Nguyễn Văn Vĩnh, thông qua nội dung các bài viết trên 07 tờ báo mà ông làm chủ bút là lên án hệ thống cai trị, khích lệ dân chúng đến với quan điểm dân chủ đã đi ngược với chính sách cai trị của Chính phủ thuộc địa. Từ bối cảnh này, nhà cầm quyền đã nhiều lần thương lượng với ông để ông hợp tác hoàn toàn với Chính phủ, chấm dứt việc lên án các chính sách của nhà cầm quyền thông qua ngòi bút của mình. Tuy nhiên, các cuộc mặc cả giữa Nhà cầm quyền với Nguyễn Văn Vĩnh đều thất bại!

    Năm 1931, mâu thuẫn giữa đôi bên lên đến cao độ, Nguyễn Văn Vĩnh và những người cùng lập trường, quyết định thành lập tờ báo xuất bản bằng tiếng Pháp L’Annam nouveau (thời đó, viết tiếng Pháp không bị chính quyền kiểm duyệt) với mục đích: làm diễn đàn đối chọi lại với chủ trương Quân chủ Lập hiến của một bộ phận các chính trị gia trong Chính phủ thuộc địa. Ông xây dựng và chứng minh tính hợp lý của học thuyết Trực trị do ông đề xướng, xây dựng nền cộng hòa, xóa bỏ vai trò trung gian trong hệ thống hành chính của Triều đình Huế, lập nên một nước Việt Nam có hiến pháp, có chính phủ…

    Năm 1935, giọt nước tràn ly, Chính phủ Bảo hộ hết kiên nhẫn, quyết định dập tắt ngòi bút của Nguyễn Văn Vĩnh bằng giải pháp: xiết nợ…để phải phá sản! Ba điều kiện của nhà cầm quyền dành cho Nguyễn Văn Vĩnh trong lần mặc cả cuối cùng nếu không muốn bị phá sản là:

             1/ Nhận làm Thượng thư cho Triều Đình Huế (Bộ trưởng).

             2/ Đi tù (dù chỉ 1 ngày).

             3/ Đi đào vàng bên nước Lào (Sê Pôn-Tchépone).

    Tháng 3 năm 1936 Nguyễn Văn Vĩnh đã chọn giải pháp thứ Ba,.

    Ngày 1/5/1936, sau một đêm mưa gió, ngưòi ta tìm thấy Nguyễn Văn Vĩnh, một thân một mình trên một con thuyền độc mộc giữa dòng sông Sê Băng Hiêng (tên gọi một đoạn của sông Sê Pôn), toàn thân đã tím đen nhưng một tay vẫn giữ chặt cái bút và tay kia là quyển sổ đang viết dở. Thuyền cập vào chân cầu Sê Pôn, họ đã đưa Nguyễn Văn Vĩnh lên trạm y tế của thị xã Sê Pôn… Nhưng …vô vọng! Nhà chức trách báo về gia đình rằng: Nguyễn Văn Vĩnh chết vì sốt rét…

    Cùng thời gian này, nhà cầm quyền đã hoàn tất chóng vánh việc phát mại toàn bộ tài sản của ông bao gồm: nhà in báo, tòa soạn báo, nhà cửa, vườn tược với giá chỉ bằng 2/10 giá trị thật, chấm dứt sự nghiệp cầm bút của ông, đẩy toàn bộ gia đình Nguyễn Văn Vĩnh vào cảnh khuynh gia bại sản, ly tán muôn đời!

    Một tổ chức tiến bộ mà Nguyễn Văn Vĩnh là hội viên, có nguồn gốc từ nước Anh  tên gọi là “Hội Tam điểm - Franc Maconnerie” (biểu tượng là chiếc êke) đã đứng ra lo toan, từ việc chuyển thi hài ông bằng tầu hỏa về đến Hà Nội, đến việc tổ chức lễ tang, cả việc túc trực bên linh cữu ông trong suốt 2 đêm và 1 ngày, tại trụ sở Hội Tam điểm ở số nhà 107 phố Trần Hưng Đạo, Hà Nội. Hàng vạn người đã đến tiễn đưa Nguyễn Văn Vĩnh về nơi an nghỉ cuối cùng. Người ta thấy đã có mặt hầu hết câc nhân sỹ nổi tiếng, những người lao động, những người dân thủ đô và các vị là đại diện của các chính giới trong xã hội đương thời đều đến nghiêng mình trước một người được gọi là “Người công dân vĩ đại”. Trong sáu bài điếu văn được đọc trước khi hạ huyệt, người ta thấy không biết bao nhiêu lời thương tiếc, không biết bao nhiêu lời ngợi ca. Nhưng không thể không nhắc đến đoạn điếu văn sau đây của ông Delmas, Chủ tịch Hội quyền con người, chi nhánh Hà Nội (Discours de M.Delmas, President de la Ligue dé Droits de L’Homme et du Citoyen Section de Hanoi) để thấm thía cái xót xa khi mất một con người như Nguyễn Văn Vĩnh: “… Ông là người đã tìm thấy những kho báu quý hiếm nhất, còn hơn cả những đống hạt vàng ghê tởm. Ông đã để lại phía sau một hàng ngũ hậu thế đông đảo, những người học trò, những người bạn chân thành ngập trong sự đau thương.  Cả một dân tộc biết ơn những công lao do ông để lại, một công lao không có sự lầm lỗi và một quá khứ không có vết nhơ.”


    CÁC MỐC QUAN TRỌNG TRONG CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP

    CỦA NGUYỄN VĂN VĨNH

    Sinh ngày 15/6/1882.

    Nơi sinh: 46 phố Hàng Giấy, Hà nội.

    1889: Chăn bò, bãi Long Biên (bên bờ sông Hồng).

    1890: Kéo quạt mát cho trường thông ngôn, đặt trong đình Yên Phụ, nay là   trường phổ thông cơ sở Mạc Đĩnh Chi, phố Phó Đức Chính, Ba Đình, Hà Nội (trong khuôn viên).

    1896: Thông ngôn (phiên dịch) cho Tòa sứ Lao Cai.

    1898: Thông ngôn cho Tòa sứ Hải Phòng.

    1900: Lập gia đình.

    1903: Thông ngôn cho Tòa sứ Bắc Giang (đặt tại thị xã Bắc Ninh).

    1906: Thư ký Tòa Đốc lý Hà Nội.

    1906: Quản lý gian hàng Đông dương tại hội chợ thuộc địa Mác Xây - Pháp.

    1906: Chấm dứt làm công cho Tòa Đốc lý Hà Nội.

    1907: Tham gia Đông kinh Nghĩa thục, giữ vị trí giảng dạy tiếng Việt và tiếng Pháp.               

    1907: Chủ bút báo, “Đại Nam đăng cổ tùng báo”.

    1908: Chủ bút báo tiếng Pháp “Notre Journal”.

    1909: Chủ bút báo tiếng Pháp “Notre Revue”.

    1910: Trợ lý cho tòa soạn báo “Lục tỉnh Tân văn”- Sài Gòn.

    1913: Chủ bút tờ “Đông dương tạp chí”.

    1917: Chủ bút báo “ Trung bắc Tân văn”.

    1919: Chủ bút tờ “Học báo”.

    1922: Lần thứ hai đi dự hội chợ thuộc địa Mác Xây - Thăm và tìm hiểu công nghệ in và xuất bản tại Đức. Trở lại Việt Nam thay toàn bộ dây chuyền công nghệ in ấn và thiết bị mới của Đức.

    1926: Thành lập Trung tâm sách Âu tây tư tưởng.

    1931: Thành lập tờ báo tiếng Pháp “L’Annam nouveau”.

    1935: Nhà cầm quyền đòi nợ sớm, siết nợ.

    1936: Tháng Ba, chấp nhận đi đày sang Lào với danh nghĩa “tìm vàng”.

    1936: Ngày 2/5/1936 chết tại Sê Pôn. Ngày 8/5/1936 tang lễ được tổ chức tại Hà Nội.


    Ban biên tập trang web Tân Nam Tử Nguyễn Văn Vĩnh
    Mọi chi tiết xin liên hệ:
    Ông Nguyễn Lân Bình - Địa chỉ: Số 55 - ngõ Lương Sử C - phường Văn Chương - Đống Đa – Hà Nội
    Điện thoại: (844) 374 70126 - 094 748 2805
    Email: nguyenlanbinh@gmail.com - binhln51@yahoo.com.

     

     

       

     

Bookmark and Share
Liên hệ với chúng tôi
15.1:0.00116300582886.