Tiểu sử Nguyễn Văn Vĩnh

TÓM TẮT TIỂU SỬ CỦA HỌC GIẢ NGUYỄN VĂN VĨNH

NguyenVanVinh

 

THÂN THẾ

Nguyễn Văn Vĩnh là con trai đầu lòng, sinh ngày 15/6/1882 tại thôn Phượng Vũ, xã Phượng Dực, huyện Thường Tín, phủ Hà Đông (nay là huyện Phú Xuyên, Hà Nội). Thân phụ là Nguyễn Văn Trực (người gốc làng Phượng Vũ, Phượng Dực, Thường Tín, Hà Đông). Thân mẫu không rõ tên (do tập quán xưa kia, khi người phụ nữ lấy chồng sẽ mang tên chồng). Sau thời điểm này, thân phụ Nguyễn Văn Trực đưa cả gia đình lên ở nhờ và sinh sống tại nhà một người họ hàng bên ngoại ở số nhà 46 phố Hàng Giấy, Hà Nội.

Khi còn nhỏ, gia đình cho Nguyễn Văn Vĩnh đi chăn bò thuê ngoài bãi sông Hồng (nay là khu vực chân cầu Long Biên- Doumer 1887-1902).

HỌC VẤN VÀ NGHIỆP CÔNG CHỨC

Năm lên 8 tuổi, bỏ việc chăn bò thuê, Nguyễn Văn Vĩnh xin được làm công việc kéo quạt mát (lúc đó chưa có điện) cho lớp học của người Pháp dạy các học viên đã đỗ tú tài, cử nhân, học để làm thông ngôn (phiên dịch). Cơ sở giáo dục này, được gọi là trường Hậu bổ (Tức học xong sẽ được bổ nhiệm). Hiện nay, mái trường vẫn còn nguyên vẹn, nằm trong khuôn viên trường PTCS Mạc Đĩnh Chi, quận Ba Đình, Hà Nội (sát hồ Trúc Bạch).

Khi Nguyễn Văn Vĩnh 10 tuổi, Lớp học do Vĩnh ngồi kéo quạt mãn khoá. Nguyễn Văn Vĩnh được nhà trường cho phép thi cùng các học viên. Nguyễn Văn Vĩnh đã đỗ thứ 12 trong số 40 học viên của khoá học. Vì quá nhỏ, nhà trường đã cho phép Nguyễn Văn Vĩnh được học lại từ đầu (khóa học 4 năm). Kết thúc khóa học, Nguyễn Văn Vĩnh đỗ đầu (thủ khoa).

15 tuổi Nguyễn Văn Vĩnh được đưa đi làm thông ngôn (phiên dịch) tại tòa sứ Lào Cai (1897).

17 tuổi: Nguyễn Văn Vĩnh được điều chuyển về tòa sứ Hải Phòng, tại đây Vĩnh đã “tự tốt nghiệp phổ thông” nhờ việc mua lại từ một thuỷ thủ người Anh, bộ sách giáo khoa tiếng Pháp (Encyclopédie autodidactique quilet – Sách tự học chương trình phổ thông).

18 tuổi, cụ bà Nguyễn Văn Trực qua đời, cụ ông Nguyễn Văn Trực có phần phiền muộn, để khắc phục tình cảnh này, Nguyễn Văn Vĩnh quyết định lập gia đình với bà Đinh Thị Tính (sinh năm 1881, ở số nhà 12 ngõ Phất Lộc, Hà Nội- Nay thuộc phường Hàng Bạc, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội).

20 tuổi Nguyễn Văn Vĩnh được điều chuyển về tòa sứ tỉnh Bắc Giang (bao gồm cả Bắc Ninh).

24 tuổi được điều chuyển về Tòa Đốc lý Hà Nội. Cùng năm (1906), Vĩnh được cử đi hội chợ thuộc địa tại thành phố cảng Mác xây (Marseille) Pháp. Kết thúc hội chợ Nguyễn Văn Vĩnh xin ở lại thêm 3 tháng. Trở lại Việt Nam, Nguyễn Văn Vĩnh xin thôi làm công chức của Tòa Đốc lý Hà Nội và chính thức theo nghiệp làm báo chí tự do. Tính từ thời điểm này cho đến khi qua đời, Nguyễn Văn Vĩnh không nhận và không giữ bất kỳ vị trí nào trong hệ thống cai trị của chính quyền đương thời.

 SỰ NGHIỆP VĂN HÓA – CHÍNH TRỊ – XÃ HỘI:

Năm 1906, gia đình Nguyễn Văn Vĩnh chuyển từ Bắc Ninh về Hà Nội, ở số nhà 39 Mã Mây, nơi đây lập tức trở thành điểm hội tụ của các thân sỹ như Phạm Duy Tốn, Phan Kế Bính, Phạm Huy Lục, Nguyễn Đỗ Mục…

Tháng 3.1907, Nguyễn Văn Vĩnh chính thức đứng đơn gửi nhà cầm quyền xin thành lập trường Đông kinh Nghĩa thục ở số 10 phố Hàng Đào và do cụ cử Lương Văn Can làm thục trưởng. Tham gia Đông kinh Nghĩa thục, Nguyễn Văn Vĩnh lĩnh hội việc dạy môn chữ Quốc ngữ và Pháp văn.

Cùng thời kỳ này, Nguyễn Văn Vĩnh có quan hệ với một người Pháp là Francois Henry Schneider(Chuyên gia về xuất bản), thông qua mối quan hệ này, cùng với hoạt động của ĐKNT, Vĩnh chính thức là chủ bút của tờ báo tiếng Việt đầu tiên ở Bắc kỳ, tờ Đăng cổ tùng báo (1907). Sự nghiệp làm báo chính thức của Nguyễn Văn Vĩnh bắt đầu từ đây. Ông là chủ bút của 07 tờ báo cho đến khi từ giã cõi đời. Trong đó, tờ báo cuối cùng trong sự nghiệp báo chí của mình là tờ báo tiếng Pháp L’Annam nouveau (Nước Nam mới). Đây là tờ báo quy mô nhất, thành công nhất và có hệ lụy nặng nề nhất đến cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Văn Vĩnh.

Để phục vụ cho nội dung các tờ báo do mình làm chủ bút, phục vụ cho mục tiêu quảng bá và phổ cập chữ Quốc ngữ (Lúc này ở VN vẫn chưa chính thức được sử dụng chữ Quốc ngữ), Nguyễn Văn Vĩnh đã thực hiện việc dịch các tác phẩm văn hóa từ chữ Nôm ra Quốc ngữ, từ Hán văn ra Quốc ngữ, từ Pháp văn ra Quốc ngữ, từ Hán văn ra Pháp văn và từ Quốc ngữ ra Pháp văn từ khi còn rất trẻ. Số lượng các trang dịch của Nguyễn Văn Vĩnh từ Pháp văn ra Quốc ngữ là lớn nhất, bao gồm của nhiều tác giả và tác phẩm nổi tiếng trong lịch sử văn hoá của nhân loại, đồng thời những cuốn sách dịch của Nguyễn Văn Vĩnh cũng là những tác phẩm lần đầu tiên có mặt tại Việt Nam được in bằng chữ Quốc ngữ vào những thập kỷ đầu tiên của thế kỷ XX. Tổng số đầu sách Nguyễn Văn Vĩnh đã dịch vào khoảng 30 tác phẩm của khoảng 20 nhà bác học, nhà khoa học, nhà văn, nhà nghiên cứu, nhà phê bình nổi tiếng của châu Âu và thế giới. Ba tác phẩm gần gũi với bạn đọc nhất là: Tập truyện thơ ngụ ngôn của La Phông Ten (La Fontaine), Tiểu thuyết Những người Khốn khổ của Victo Huygo (Victor Hugo) và Ba chàng ngự lâm pháo thủ của Alếcxăng Duma (Alexander Dumas).

Tồn tại với vai trò là một nhà báo tự do, song thực chất Nguyễn Văn Vĩnh là người hoạt động trong nhiều lĩnh vực: văn hóa, xã hội và chính trị. Làm văn hóa trong một bối cảnh ở một đất nước cực kỳ lạc hậu do ảnh hưởng của xã hội Phong kiến cùng với sự thống trị hà khắc của chế độ Thực dân kiểu cũ, nên Nguyễn Văn Vĩnh đã tự nhận mình là “Người Nam mới” từ  năm 1905 (Tân Nam tử). Nguyễn Văn Vĩnh đã luôn đòi cải cách, thay đổi quan niệm cũng như lối sống lạc hậu của xã hội Việt Nam… Điều đó đã khiến ông mặc nhiên tự đặt mình vào vị trí của kẻ đối lập với chính thể đương thời.

Năm 1922, Nguyễn Văn Vĩnh chính thức chia tay với Francois Henry Schneider (hết hạn về Pháp). Từ thời điểm này, Nguyễn Văn Vĩnh đã thực sự độc lập trước hệ thống cầm quyền, cả về nghĩa bóng lẫn nghĩa đen.

Năm 1926, Nguyễn Văn Vĩnh tổ chức thành lập Trung tâm sách Âu Tây tư tưởng (Trụ sở đặt ở số nhà 1-3 phố Hàng Gai, nhìn ra Hồ Gươm, Hà Nội- Nay là quảng Trường Đông Kinh Nghĩa Thục).

Thông qua nội dung các bài viết trên 07 tờ báo do ông làm chủ bút, tư tưởng chủ đạo của Nguyễn Văn Vĩnh là: Bài xích những hủ tục trong đời sống xã hội, lên án sự bất công trong xã hội Việt Nam, phê phán sự bất hợp lý của hệ thống cai trị, khích lệ và định hướng cho quần chúng hiểu được quan niệm thế nào là dân chủ, là bình đẳng, là văn minh và tiến bộ. Thực tế này, đã đi ngược với chính sách cai trị của Chính phủ thuộc địa. Từ bối cảnh này, nhà cầm quyền đã nhiều lần thương lượng, mặc cả và cả đe doạ để yêu cầu Nguyễn Văn Vĩnh phải “hợp tác” hoàn toàn với Chính phủ, chấm dứt việc lên án các chính sách của Chính phủ Thuộc địa và Triều đình Huế thông qua các hoạt động báo chí và xuất bản. Tuy nhiên, các cuộc “đàm phán” giữa Nhà cầm quyền với Nguyễn Văn Vĩnh đều thất bại!!!

Năm 1931, mâu thuẫn giữa đôi bên lên đến cao độ, Nguyễn Văn Vĩnh và những người cùng lập trường, quyết định thành lập tờ báo xuất bản bằng tiếng Pháp L’Annam nouveau (thời đó, viết tiếng Pháp không bị chính quyền kiểm duyệt) với mục đích: làm diễn đàn để đối chọi lại với chủ trương Quân chủ Lập hiến của một bộ phận các chính trị gia trong Chính phủ thuộc địa. Nguyễn Văn Vĩnh xây dựng và chứng minh tính hợp lý của học thuyết Trực trị do ông đề xướng, tạo dựng nền cộng hòa, xóa bỏ vai trò trung gian trong hệ thống hành chính của Triều đình Huế, lập nên một nước Việt Nam có hiến pháp, có nghị viện và tôn trọng quyền con người.

Đầu năm 1935, giọt nước tràn ly, Chính phủ Bảo hộ hết kiên nhẫn trước lập trường và tư tưởng của Nguyễn Văn Vĩnh, quyết định bẻ gãy ngòi bút của Nguyễn Văn Vĩnh bằng giải pháp: xiết nợ…để phải phá sản! Ba điều kiện của nhà cầm quyền dành cho Nguyễn Văn Vĩnh trong lần mặc cả cuối cùng nếu không muốn bị phá sản là:

         1/ Nhận làm Thượng thư cho Triều Đình Huế (Bộ trưởng).

         2/ Đi tù (dù chỉ 1 ngày).

         3/ Đi đào vàng bên nước Lào (Sê Pôn-Tchépone) để trả nợ.

Tháng 3 năm 1936 Nguyễn Văn Vĩnh đã chọn giải pháp thứ Ba,.

Ngày 1/5/1936, sau một đêm mưa gió, ngưòi ta tìm thấy Nguyễn Văn Vĩnh, một thân một mình trên một con thuyền độc mộc giữa dòng sông Sê Băng Hiêng (tên gọi một đoạn của sông Sê Pôn), toàn thân đã tím đen nhưng một tay vẫn giữ chặt cây bút và tay kia là quyển sổ đang viết dở. Thuyền cập vào chân cầu Sê Pôn, những người dân bản xứ đã đưa Nguyễn Văn Vĩnh lên trạm y tế của thị xã Sê Pôn… Nhưng …vô vọng! Nhà chức trách đã báo về gia đình rằng: Nguyễn Văn Vĩnh chết vì sốt rét…!

Cùng thời gian này, nhà cầm quyền đã hoàn tất chóng vánh việc phát mại toàn bộ tài sản của ông bao gồm: nhà in báo, tòa soạn báo, nhà cửa, vườn tược với giá chỉ bằng 2/10 giá trị thật, chấm dứt sự nghiệp cầm bút của ông, đẩy toàn bộ gia đình Nguyễn Văn Vĩnh vào cảnh khuynh gia bại sản, ly tán muôn đời!

Một tổ chức tiến bộ mà Nguyễn Văn Vĩnh là hội viên, có nguồn gốc từ nước Anh  tên gọi là “Hội Tam điểm – Franc Maconnerie” (biểu tượng là chiếc êke) đã đứng ra lo toan, từ việc chuyển thi hài ông bằng tầu hỏa về đến Hà Nội, đến việc tổ chức lễ tang, cả việc túc trực bên linh cữu ông trong suốt 2 đêm và 1 ngày, tại trụ sở Hội Tam điểm ở số nhà 107 phố Trần Hưng Đạo, Hà Nội. Hàng vạn người dân Hà Nội đã đến tiễn đưa Nguyễn Văn Vĩnh về nơi an nghỉ cuối cùng.

Trong đám tang đặc biệt này (đặc biệt vì Nguyễn Văn Vĩnh không phải là người có chức sắc hay giữ quyền bính của hệ thống chính trị, hoặc là kẻ thương nhân giàu có), người ta thấy đã có mặt hầu hết câc nhân sỹ nổi tiếng cùng thời, những người lao động, những người dân thủ đô và các vị là đại diện của các chính giới trong xã hội đương thời, đều đã đến nghiêng mình trước linh cữu một người được xướng danh là  “Người công dân vĩ đại”.

Trong sáu bài điếu văn được đọc trước khi hạ huyệt, người ta thấy không biết bao nhiêu lời thương tiếc, không biết bao nhiêu lời ngợi ca. Nhưng không thể không nhắc đến đoạn điếu văn sau đây của ông Delmas, Chủ tịch Hội quyền con người, chi nhánh Hà Nội (Discours de M.Delmas, President de la Ligue dé Droits de L’Homme et du Citoyen Section de Hanoi) để thấm thía cái xót xa khi xã hội mất đi một con người như Nguyễn Văn Vĩnh:“… Ông là người đã tìm thấy những kho báu quý hiếm nhất, còn hơn cả những đống hạt vàng ghê tởm. Ông đã để lại phía sau một hàng ngũ hậu thế đông đảo, những người học trò, những người bạn chân thành ngập trong sự đau thương.  Cả một dân tộc biết ơn những công lao do ông để lại, một công lao không có sự lầm lỗi và một quá khứ không có vết nhơ…”

 

CÁC MỐC QUAN TRỌNG TRONG CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP

CỦA NGUYỄN VĂN VĨNH

1896: Thông ngôn (phiên dịch) cho Tòa sứ Lao Cai.

1898: Thông ngôn cho Tòa sứ Hải Phòng.

1900: Lập gia đình.

1903: Thông ngôn cho Tòa sứ Bắc Giang (đặt tại thị xã Bắc Ninh).

1905: Thư ký Tòa Đốc lý Hà Nội.

1906: Quản lý gian hàng Đông dương tại hội chợ thuộc địa Mác Xây – Pháp.

1906: Chấm dứt làm công cho Tòa Đốc lý Hà Nội.

1907: Tham gia Đông kinh Nghĩa thục, giảng dạy tiếng Việt và tiếng Pháp.

1907: Chủ bút báo, “Đại Nam đăng cổ tùng báo”.

1908: Chủ bút báo tiếng Pháp “Notre Journal”.

1909: Chủ bút báo tiếng Pháp “Notre Revue”.

1910: Trợ lý cho tòa soạn báo “Lục tỉnh Tân văn”- Sài Gòn.

1913: Chủ bút tờ “Đông dương tạp chí”.

1917: Chủ bút báo “ Trung bắc Tân văn”.

1919: Chủ bút tờ “Học báo”.

1922: Lần thứ hai đi dự hội chợ thuộc địa Mác Xây –

          Thăm và tìm hiểu công nghệ in và xuất bản tại Đức. Trở lại Việt Nam,

          Thay, đổi mới toàn bộ dây chuyền công nghệ in ấn bằng các thiết bị kỹ thuật mới được mua của Đức.

1926: Thành lập Trung tâm sách Âu tây tư tưởng.

1931: Thành lập tờ báo tiếng Pháp “L’Annam nouveau”.

1933: Nhà cầm quyền đòi nợ và đòi bắt.

1935: Nhà cầm quyền siết nợ.

1936: Tháng Ba, chấp nhận đi đày sang Lào với danh nghĩa “tìm vàng”.

1936: Ngày 2/5/1936 chết tại Sê Pôn. Ngày 8/5/1936 tang lễ được tổ chức tại Hà Nội.

 

Hiệu đính nội dung ngày 10.7.2014

BBT.tannamtu.com

 

Comments

  1. Thuận Trinh

    “:…lớp học của người Pháp dạy các học viên đã đỗ tú tài, cử nhân , học để làm thông ngôn…”
    Vào thời đó, VN đâu có mấy người có bằng tú tái, nói chi tới cử nhơn (Tây học), để học thêm 4 năm đào tạo ra ông thông (ngôn). Thông ngôn đâu cần bằng tú tài, cử nhân Tây học.
    Có lẽ đó là tú tài, cử nhân Hán học. Nếu vậy xin đính chánh .
    Trinh Q.Thuận, Ph.D.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *