Câu chuyện 18 năm trước của năm người con của Học giả Nguyễn Văn Vĩnh

 

Ngày 31/1/1995 tại Hà Nội, nhân dịp đón xuân mới, năm anh em ruột cùng nhau ngồi tâm sự, hồi tưởng lại những người anh ruột quá cố của mình là bác sỹ Nguyễn Hải; nhà thơ, nhà báo, nhà dịch thuật và là họa sỹ Nguyễn Giang. BBT chúng tôi xin được biên tập lại những ghi chép của buổi gặp tâm sự này, vừa để giới thiệu với các quý vị độc giả một cách khái quát về hai người con trai đầu của học giả Nguyễn Văn Vĩnh, vừa để tưởng nhớ đến những người đã khuất trong số năm con người của buổi tâm sự này. Đây cũng là một lối hành sử theo tập quán và đạo lý của người Việt từ lâu đời. Thường cứ đến cuối năm, giáp Tết, người ta hay hồi tưởng, nhớ đến những người thân đã mất. Cầu cho vong linh của các bậc tiên liệt, luôn được mát mẻ và linh thiêng!

130128_130128_5anhem
Năm người em của Nguyễn Giang chụp trong buổi gặp mặt năm 1995.

Thứ tự từ trái sang phải: Bùi Tường Trác (em rể, chồng của bà Nguyễn Thị Mười),

Nguyễn Kỳ, Nguyễn Phổ, Nguyễn Hồ và Nguyễn Dực.

Ông Nguyễn Giang sinh ngày 4/8/1904 tại tỉnh Bắc Giang, là con trai thứ hai của học giả Nguyễn Văn Vĩnh và cụ bà Đinh Thị Tính, năm đó cụ Vĩnh làm việc tại Tòa xứ Bắc Giang. Cũng như người con đầu, cụ Vĩnh lấy tên địa danh nơi mình đang sống và làm việc để đặt tên con. Năm 1901, cụ làm việc cho Tòa xứ Hải Phòng, nên người con đầu có tên là Nguyễn Hải (1901-1938). Năm 1906, cụ Vĩnh được chuyển về làm việc tại Tòa Đốc lý Hà Nội. Cụ bà Vĩnh lặn lội thu vén, mua được một ngôi nhà nhỏ trên phố Mã Mây. Tại đây, hai anh em Nguyễn Hải và Nguyễn Giang đã cùng nhau đi học vỡ lòng ở trường Trí Tri số 37 phố Hàng Quạt.

Cho đến năm 1923, Nguyễn Hải và Nguyễn Giang có thêm 8 người em nữa cùng ở tại ngôi nhà 34 (39)(1)phố Mã Mây. Từ năm 1918 đến năm 1921, hai anh em cùng nhau học tại trường Lít-xê Anbe-Sarô (Lycéc Albert Sarraut).

130128_130128_nguyenpho

Nguyễn Giang vẽ bút chì năm 1935. Bức họa người em trai Nguyễn Phổ.

Năm 1920, sau khi Nguyễn Văn Vĩnh dịch thành công một loạt các câu truyện hài kịch của Môlie (Molière) từ Pháp văn sang chữ Quốc ngữ, như: “Trưởng giả học làm sang”, “Người biển lận”, “Người bệnh tưởng”… Cụ thấm nhuần triết lý sống của các nhà văn hóa khai sáng châu Âu. Cụ bất bình sâu sắc với lối sống trưởng giả, hợm mình của loại người coi vật chất là nhất, coi danh vị là nhất, và cụ muốn quảng bá lối tư duy tiến bộ của các bậc thánh hiền. Nguyễn Văn Vĩnh đã quyết định tổ chức đóng và diễn để trình bày nội dung của các tác phẩm này trước công chúng, đồng thời quảng bá một loại hình nghệ thuật mới của Âu châu trước người dân Việt, đó là kịch nói. Cho đến lúc đó, đối với người Việt Nam cả hai nội dung là truyện hài kịch và kịch nói đều mới lạ.

Thật đáng tiếc, vì để thực hiện công việc này, cụ Vĩnh đã động viên các con trai lớn của mình cùng bố tham gia đóng các vai trong vở kịch để thể hiện tác phẩm, đồng thời mời thêm một vài người quen cùng tham gia. Anh Nguyễn Hải lúc này đã mười chín, đôi mươi, cụ Vĩnh đặt vào vai Cléonte trong vở kịch “Trưởng giả học làm sang”. Sắm vai nữ, cụ Vĩnh đã mượn một người con gái có tên Tửu.

Ảnh Nguyễn Hải chụp tại Paris năm 1930

Vở kịch được trình diễn ngay trên sân khấu Nhà hát lớn Hà Nội, một sân khấu quá sang trọng và dễ làm các diễn viên xúc động. Thật không ngờ, anh Nguyễn Hải và cô đào Tửu đã phải lòng nhau và yêu nhau thật. Mọi chuyện trở nên phiền toái và nan giải… Để thoát khỏi sự việc ngoài mong muốn này, hai cụ quyết định dồn tiền và đưa cả hai anh em Nguyễn Hải và Nguyễn Giang đi học xa… sang Pháp.    

Nguyễn Giang đã nhờ anh mà được đến Paris diễm lệ, mảnh đất, nơi đã làm thay đổi bao nhiêu bậc danh tài trong lịch sử…

Hai anh em Nguyễn Hải và Nguyễn Giang đều đỗ tú tài toàn phần. Nguyễn Hải đã thi và đỗ vào học tại Đại học Y khoa ở Paris. Riêng Nguyễn Giang, vì học ban A nên đã được học cả tiếng Latin và Hy Lạp, hình như anh Giang đã say mê văn chương từ đây. Nguyễn Giang quyết định theo học tự do và sống luôn tại “xóm” Mông-Mác (Mont Matre), vốn là nơi quy tụ nhiều sinh viên, học sinh du học của các nước khác nhau. Trong số những người bạn thân nổi tiếng của anh Giang, có họa sỹ  Anđrê Mácsan (André Marchand) người Pháp và Komatsu Kiyoshi người Nhật Bản(2). Nguyễn Giang đã sống và chịu ảnh hưởng lớn của môi trường này, sau này anh trở thành họa sỹ thực thụ. Trong gia đình đã chứng kiến: suốt cuộc đời họa sỹ của Nguyễn Giang, anh đã vẽ và có đến hàng trăm tác phẩm, cả bút sắt và cả tranh sơn dầu.

Năm 1930, khi Chính phủ thuộc địa đã thực sự mâu thuẫn và tìm cách loại trừ con người và ảnh hưởng của Nguyễn Văn Vĩnh ra khỏi đời sống chính trị xã hội, họ đã tịch thu cơ sở vật chất, bắt đóng cửa các tòa báo do cụ là chủ bút, các cơ sở xuất bản, cùng với giới tài phiệt Thực dân, họ dựng lên sự kiện vỡ nợ… Tất cả đều vì Nguyễn Văn Vĩnh đã không chấp nhận những chính sách và đường lối cai trị của Chính quyền Thực dân. Chính lúc này, cũng là lúc anh Nguyễn Hải đỗ bác sỹ và trở về Việt Nam. Việc trở về Việt Nam trong bối cảnh những khó khăn của gia đình ngày càng chồng chất, đã cản trở không ít những ước vọng của bác sỹ Nguyễn Hải trong việc hành nghề. Anh đã phải chấp nhận làm tạm tại một bệnh viện ở tỉnh Ninh Bình. Một năm sau, anh trở về Hà Nội và mở phòng khám tư tại số 6 phố Nam Ngư. Sau giai đoạn này, anh mắc bệnh lao. Đó là quãng thời gian vô cùng khó khăn đối với y học khi chưa có thuốc kháng sinh. Anh quyết định vào miền Nam với hy vọng được tĩnh dưỡng. Nhưng căn bệnh hiểm nghèo càng ngày càng hành hạ anh và anh đã qua đời tại Rạch Giá khi mới có 37 tuổi.

Cũng những khó khăn như người anh cả đã trải qua, anh Nguyễn Giang không còn hy vọng được sự trợ giúp của thày mẹ. Tuy vẫn ở lại Paris nhưng lại chưa có được mảnh bằng nào. Cụ bà Vĩnh đã gồng mình, khuyên con và cam kết sẽ trợ giúp tài chính cho anh Giang ở lại Pháp thêm 3 năm nữa, mục đích là để học và lấy được bằng cấp, khỏi lãng phí cả chục năm trời đã qua. Vốn bản tính khoáng đạt, thông minh không thiếu, chỉ trong ba năm, Nguyễn Giang đã đỗ cử nhân luật tại Paris.

Năm 1933, anh Nguyễn Giang trở lại Việt Nam. Gia đình lúc này đã dần rơi vào cảnh khánh kiệt. Cụ Vĩnh đang vật lộn với sự o ép điên cuồng của Chính quyền Thực dân. Liên tiếp các cuộc mặc cả về chính trị giữa Chính phủ và Nguyễn Văn Vĩnh kéo dài hết năm này sang năm khác. Những miếng ngon nức nở dành cho Nguyễn Văn Vĩnh cũng không làm lay chuyển được lập trường chính trị của cụ. Nào ghế Thượng thư, nào Bắc đẩu Bội tinh, nào sẽ được tháo nợ… Cụ bà Vĩnh vẫn với bản chất của người đàn bà hàng phố, vừa nghiến răng chịu đựng, vừa lao vào việc buôn bán kiếm từng hào, vẫn kiên cường nuôi dạy cả đàn con có đến quá cả tiểu đội.

Thật lạ, với hoàn cảnh nguy cấp như trên, nhưng anh Giang vẫn luôn lạc quan. Anh lạc quan đến mức kéo cả nhà hưởng ứng theo, nào vẽ tranh, nào làm thơ, nào tổ chức triển lãm… Năm 1934, anh Nguyễn Giang đã chọn trong cả trăm bức vẽ của mình ra 30 bức. Anh đóng khung trang trọng, anh xin phép cả nhà để mời khách đến giới thiệu và thưởng lãm. Không khí cả nhà tưng bừng, khách khen ngợi, đánh giá và tán thưởng hết lời… Làm cho không khí trong gia đình bớt được sự ngột ngạt, căng thẳng do Chính quyền gây ra. Họa sỹ Tô Ngọc Vân đã viết bài nhận xét Nguyễn Giang và đăng trên báo Nước Nam mới ngày 16/5/1935 (BBT.chúng tôi sẽ cho đăng bài viết này trong thời gian sớm nhất).

Cũng vào năm tháng cơ cực này của gia đình học giả Nguyễn Văn Vĩnh, Nguyễn Giang, lần đầu tiên, với sự giúp đỡ của người em ruột là Nguyễn Dương (1914-1967) đã cho xuất bản tập thơ “Trời xanh thẳm”. Tập thơ bao gồm các bài thơ do anh sáng tác theo thể Đường luật khi còn ở Pháp. Cuốn sách được minh họa bằng tranh vẽ của người bạn Pháp là họa sỹ André Marchand. Quan điểm của Nguyễn Giang là: vẽ tranh và làm thơ đều có những nguyên tắc giống nhau. Cả hai công việc này đều cần sự rung động của tâm hồn, đều cần không gian và những tiêu chí cụ thể. Hỡi ôi, Nguyễn Giang biết rất rõ rằng, tranh vẽ không nuôi được họa sỹ và thơ làm ra cũng chẳng nuôi nổi thi sỹ. Những năm tháng này anh vẫn phải sống nhờ mẹ nên cũng chưa dám lập gia đình!

Ngày 1/5/1936, ngày đại họa của gia đình học giả Nguyễn Văn Vĩnh. Suốt một thời gian dài, Chính quyền Thực dân đã mặc cả đi mặc cả lại với Nguyễn Văn Vĩnh. Họ muốn gì? Họ muốn Nguyễn Văn Vĩnh phải chấm dứt việc viết bài, chỉ cần chấm dứt việc viết bài là sẽ triệt tiêu được ảnh hưởng mang tính tư tưởng của Nguyễn Văn Vĩnh đối với xã hội, đối với những khuynh hướng đòi cải cách, đòi tự do, dân chủ và bình đẳng. Bất chấp những “phần thưởng”, những ưu ái của chính thể, cuối cùng, Nguyễn Văn Vĩnh đã chọn con đường sang Lào tìm vàng (theo sự “dàn xếp” của Chính phủ Thuộc địa). Cụ chọn con đường này, vì không muốn phản bội lại lý tưởng mình đã theo đuổi. Cụ Vĩnh từ biệt vợ, các con, cháu để đi vào nơi thâm sơn cùng cốc, đến với một loại hình “công việc” hoàn toàn xa lạ, nhưng trong lòng cụ vẫn hy vọng sẽ gặp may (Thông qua loạt bài phóng sự cuối cùng của ông viết từ Sê Pôn gửi về) và… sẽ được trở về để vẫn sẽ được cầm bút!

Sau cái đêm mưa gió não nùng trên dòng sông Sê Băng Hiêng ở miền Nam nước Lào, cụ đã không bao giờ trở lại. Sáng ngày 2 tháng 5 năm 1936, người ta tìm thấy Nguyễn Văn Vĩnh, một thân một mình, trên một con thuyền độc mộc lênh đênh giữa dòng nước, toàn thân đã tím đen… “Người ta” thông báo: “Ông chết vì sốt rét và kiết lỵ…!”

Nguyễn Văn Vĩnh ra đi trong cảnh nhà sa sút, sự nghiệp bị nghiền nát, tai tiếng về chuyện “vỡ nợ” làm cho những người thân không ngửng đầu lên được. Cụ bà Vĩnh quyết định, cử người sang Sê Pôn (Tchépone) để làm tang cho cụ ông, sau 3 năm sẽ cho cải táng và đưa cốt về quê là làng Phượng Vũ, xã Phượng Dực, huyện Thường Tín, phủ Hà Đông (nay là Phú Xuyên Hà Nội).

Vào cái ngày bi thương ấy, khi gia đình Nguyễn Văn Vĩnh đang lúng túng trước cái tin sét đánh, người em rể của học giả Nguyễn Văn Vĩnh là bác sỹ Trần Văn Lai (1894-1975)(3) đã đứng ra đề nghị xin được gánh vác việc tang lễ cho người anh vợ của mình. Bác sỹ Trần Văn Lai đã tìm đến Hội Tam điểm(4) và Hội Nhân quyền Hà Nội(5) kết hợp với Nhà tang lễ Louis Chức đưa ba người trong gia đình cụ Vĩnh sang Sê Pôn rước thi thể Nguyễn Văn Vĩnh về quàn tại trụ sở Hội Tam điểm ở 117 đường Gambeta (nay là phố Trần Hưng Đạo) Hà Nội. Cùng với bà Suzan Vĩnh, anh Giang đã đi “đón” bố về… Vậy nhưng sự kiện cay đắng này, đã làm thay đổi cuộc đời của thi sỹ Nguyễn Giang.

Cho đến lúc đó, Chính quyền Đông Dương cũng như Thực dân Pháp đã hoàn thành mục đích tàn ác, hạ gục con người bất khuất Nguyễn Văn Vĩnh, con người đã làm khuynh đảo cả guồng máy chính trị, đe dọa sự tồn vong của chế độ thực dân ở Đông Dương. Cũng chính Nguyễn Văn Vĩnh là người Việt Nam hiếm hoi hiểu được sâu sắc nguồn gốc, bản chất, tính cách của dân tộc Pháp và cả sự ám muội trong chủ trương bóp nghẹt dân tộc An Nam của những người Pháp thực dân. Nguyễn Văn Vĩnh đã hiểu người Pháp đến mức họ không còn bình tĩnh mỗi khi nghe đến tên mình. Không phải chỉ một vài ai đó giật mình khi chứng kiến ba ngày tang lễ tiễn đưa Nguyễn Văn Vĩnh (từ 6 đến 8/5/1936) đã minh chứng sự quý trọng vô bờ của các tầng lớp dân chúng thủ đô, của các nhân sỹ hàng đầu Việt Nam, của chính các thành viên tiến bộ trong bộ máy cai trị là người Pháp. Họ không phải chỉ đến tiễn đưa Nguyễn Văn Vĩnh bằng việc ngả mũ chào vĩnh biệt, mà còn cả bằng những bài điếu văn lắng đọng với giấy trắng mực đen, ca ngợi, kính trọng và tiếc thương con người được vinh danh là Người công dân vĩ đại.

Dù bản chất của Chính quyền là nham hiểm nhưng họ vẫn bị giày vò… bởi lẽ bản thân Chính quyền Thực dân, bản thân những người Pháp đến Đông Dương đô hộ cũng không thể phủ nhận được sự xuất chúng, tài năng thiên phú và con người nhân ái của Nguyễn Văn Vĩnh cùng với những đóng góp xuất sắc, tiêu biểu cho nền văn hóa Pháp Việt, là cây cầu nối của hai nền văn hóa Đông-Tây, nên họ đã lập tức nghĩ ngay đến việc“đền bù”, đúng hơn là sám hối trước nước cờ đã rồi.

Ngay trong những ngày tang lễ đau thương của gia đình Nguyễn Văn Vĩnh, nhà thơ Nguyễn Giang đã nhận được thông báo của ngài (Đại biện) Toàn quyền Đông Dương là Giăng Luiz Renơ Rôbin (Jean Louis Rene Robin) nhờ bác sỹ Trần Văn Lai chuyển tới ý kiến rằng: muốn giúp đỡ Nguyễn Giang để kế tục sự nghiệp và vai trò của cha. Đặc biệt là phụ trách tờ Đông Dương tạp chí và Trung tâm sách Âu Tây tư tưởng!

Đúng 10 ngày sau, để phản hồi ý kiến của ngài Toàn quyền, Nguyễn Giang đã đặt bút viết loạt bài “Món nợ văn chương” (La dette poetique) đăng liên tục trong gần 20 số trên tờ báo Nước Nam mới – L’Annam nouveau. Xin được chứng minh nhận định nêu trên bằng chính bài điếu văn của một người Pháp tiến bộ là nhà báo Henri Tirard đọc trong đám tang Nguyễn Văn Vĩnh ngày 8/5/1936 như sau: “Rất tiếc là ông Nguyễn Văn Vĩnh, một trí thức An Nam và Pháp đã phải đấu tranh chống lại bọn tài phiệt thuộc địa, chính nó đã buộc ông phải rời bỏ con đẻ của ông, tờ báo Nước Nam mới. Nó cũng đã buộc ông phải trở thành một kẻ đi tìm vàng, một loại hình công việc mà Nguyễn Văn Vĩnh không được chuẩn bị, và điều đó đã giết chết ông…”.

 Sau 1945, anh Giang đi kháng chiến, đóng tại Thái Nguyên. Năm 1947, sau khi diễn ra vụ nhẩy dù của lính Pháp tại Bắc Cạn, cơ quan nơi ông tham gia làm việc tan tác, anh chị Nguyễn Giang bỏ về tản cư ở Phúc Yên và bị Ủy ban Kháng chiến bắt giữ. Sau khi được tha, năm 1948, anh Giang trở lại Hà Nội làm Giám đốc Đại chúng Học vụ và làm việc cho Nhà Xuất bản Hoành Sơn.

Nguyễn Giang vẽ bút chì năm 1935. Bức vẽ cô Nghiêm Thị Kim Thanh, sau đó Nguyễn Giang cưới làm vợ năm 1938.

130128_vochongnguyenhai

  Ảnh chụp ông bà Nguyễn Giang năm 1953 tại Hà Nội.

Từ năm 1955 đến 1961 là Phó Hiệu trưởng trường Albert Sarraut Hà Nội.

Ngày 10/4/1969, anh Nguyễn Giang qua đời tại Hà Nội sau một thời gian đau màng não.

Từ cõi lòng sâu thẳm, Nguyễn Giang cũng muốn theo gót người cha của mình trong nghiệp làm văn hóa. Xin khái quát một số những sản phẩm, tác phẩm đã được xuất bản mà anh đã để lại để chúng ta cùng biết:

Sách dịch:

Tác giả Sếc xpia (Shakespeare) có: Kịch Giấc mộng đêm hè.

Macbet.

Hamlet.

Racine có: Andromarque

Victor Hugo có: Hernanie

Chuyện cổ Grim

Hômmerơ (Homère) có: Iliat và Ôđixê ( Iliade et L’Odyssée)

Etsyle có: Quân Ba Tư, Prômêtê bị xích

Xôphôclơ có: Antigon, Vua Ơđíp, Êlectrơ

Một số bi kịch của Ơripit và hài kịch của Arixtophan

Danh nhân Âu Mỹ

Tập thơ “Trời xanh thẳm”

Sách dạy tiếng Việt “cách đặt câu”

130128_cuonsachcopy
Cuốn sách của Nguyễn Giang.

Những ngày cuối năm, ngẫm lại chuyện xưa, năm anh em chúng tôi không thể không bùi ngùi, cay đắng nghĩ về những mất mát của thầy mẹ mình, của các anh chị mình. Chúng tôi ghi lại những dòng này, vừa để chia sẻ với những người thân, vừa để con cháu đừng quên quá khứ xót xa của các bậc sinh thành để coi đó là những điều nhắc nhở, đừng sống thiển cận và ích kỷ!

Nhân dịp Tết Ất Hợi, chúng tôi mừng cho nhau một mùa Xuân mới luôn luôn khỏe mạnh và đón Tết vui vẻ.

Tết Ất Hợi

            Ngày 31/1/1995         Năm người em ruột của các anh

                                              Nguyễn Hải, Nguyễn Giang,

                                          Nguyễn Dương và Nguyễn Nhược Pháp.

Ghi chú:

Khi gặp nhau tại buổi tâm tình này, năm anh em chúng tôi gồm:

Nguyễn Phổ 79 tuổi, Nguyễn Kỳ 77 tuổi, Nguyễn Thị Mười 75 tuổi,  Nguyễn Dực 74 tuổi và Nguyễn Hồ 72 tuổi.

Người ghi chép: Nguyễn Kỳ

Hiệu đính và chú thích: Nguyễn Lân Bình     

Chú thích:

(1) Trong gia đình, đều nói số nhà là 34 phố Mã Mây. Nhà văn Nguyễn Vỹ và một vài người cùng thời lại khẳng định là 39.

(2) Mời xem bài:  “Komatsu Kiyoshi và Cuộc tái ngộ”.

(3) Bác sỹ Trần Văn Lai là Thị Trưởng đầu tiên của Hà Nội trong giai đoạn Chính phủ Trần Trọng Kim. Thị Trưởng Trần Văn Lai là người đã quyết định đổi tên các phố mang tên Pháp sang tên Việt.

Sau 1954 là Thứ Trưởng Bộ Thương binh Xã hội.

Năm 1964 là Đại biểu Quốc hội nước VNDCCH.

Năm 2011 đã đặt tên phố Trần Văn Lai tại khu đô thị Mỹ Đình – HN.

(4) Hội Tam điểm: tiếng Pháp: Franc-maçonnerie tiếng Anh: Freemasonry. Hiểu theo tiếng Việt là Nền tảng tự do.

Là Hội đoàn có xuất xứ từ thế kỷ 17 ở nước Anh, lúc đầu bao gồm các công nhân xây dựng tiến bộ hoạt động kín (Tam điểm chính là mật hiệu chỉ ba góc của chiếc êke – giải thích của nhà sử học Nguyễn Đình Đầu). Tôn chỉ của hội là hành động vì sự tiến bộ của nhân loại.

Nguyễn Văn Vĩnh gia nhập chi hội Conficius năm 1925. Chi hội có 8 người, trong đó có 5 người Việt và 3 người Pháp.

(5) Hội Nhân quyền: Nguyễn Văn Vĩnh là người Việt Nam đầu tiên ra nhập Hội Nhân quyền Pháp năm 1906, nhân chuyến đi dự Hội chợ Thuộc địa ở Mác Xây.

Comments

  1. Mai Xuân Quân

    Cảm ơn trang web đã cung cấp nhiều tin quý. Nhưng giá mà biết những năm cụ thể (và nhà in hoặc nxb) một loạt sách của Nguyễn Giang thì tốt quá.
    Xin chân thành cảm ơn.

    • NLB

      BBT thành thật xin lỗi độc giả Mai Xuân Quân vì có thể do lỗi kỹ thuật, nên cho đến lúc này, chúng tôi mới nhận được ý kiến động viên của ông.
      Về thời gian các tác phẩm của nhà thơ Nguyễn Giang được xuất bản, chúng tôi có khá đủ về cơ bản. Tuy nhiên, để phúc đáp nguyện vọng của ông, xin ông cho biết cụ thể tác phẩm nào? Ông có thể liên hiệ với chúng tôi qua nguyenlanbinh@gmail.com, chúng tôi xin được phục vụ.
      Trân trọng cảm ơn ông!
      BBT Tannamtu.com

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *