Đồng kẽm, đồng chinh (L’Annam Nouveau – Báo Nước Nam mới, số 115, phát hành ngày 11/12/1932)

 

LỜI DẪN

Thưa các quý vị độc giả!

Như chúng tôi đã thông báo trong lời giới thiệu bài viết “Trộm và cướp”, hôm nay, chúng tôi xin gửi đến các độc giả bài viết liên quan tới lĩnh vực tài chính và tiền tệ.

Trong khoảng 2.500 bài viết của 30 năm lao động, học giả Nguyễn Văn Vĩnh đã đề cập đến tất cả các lĩnh vực trong xã hội Việt Nam. Không loại trừ một lĩnh vực nào trong đời sống xã hội, từ việc sản xuất gạo, nước mắm, thủ công mỹ nghệ, các vấn đề về nông nghiệp, nông thôn, nông dân đến tài chính, thương mại, giáo dục các cấp, vệ sinh, y tế, xuất bản, báo chí, đến tình hình nội chính trong Triều đình nhà Nguyễn, trong Chính phủ thuộc địa, thậm chí cả chế độ nhà tù Côn Đảo, cuộc sống của ngư dân trên quần đảo Hoàng Sa và chính sách của nhà cầm quyền đối với các đảo ở biển Đông của Việt Nam.

Do năng lực hạn chế cũng như những khó khăn cục bộ, BBT chỉ có thể giới thiệu với các quý vị độc giả một cách chậm chạp những bài viết của học giả Nguyễn Văn Vĩnh trong một số lĩnh vực. Thực tế này đã không làm thỏa mãn được nhiều độc giả quan tâm. Chúng tôi thành thật xin lỗi!

Bài giới thiệu hôm nay của BBT cũng chỉ là một trong hàng trăm bài Nguyễn Văn Vĩnh nói về vấn đề tài chính, ngân hàng và tiền tệ. Hy vọng các quý vị sẽ hài lòng khi có thêm hiểu biết không phải về con người học giả Nguyễn Văn Vĩnh, mà là về cục diện xã hội Việt Nam những thập kỷ đầu thế kỷ 20 ở một số lĩnh vực.

 

Đồng kẽm, đồng chinh

(L’Annam Nouveau – Báo Nước Nam mới,

số 115, phát hành ngày 11/12/1932)

Theo đề nghị của ông Lê Văn Phúc tại kỳ họp mới đây của Văn phòng Đại biểu Nhân dân, Thống sứ Bắc kỳ (Résident supérieur du Tonkin) đã lập một Tiểu ban đặt dưới sự chỉ đạo của ngài Bouchet (Thanh tra chính trị). Tiểu ban này có nhiệm vụ nghiên cứu khả năng đưa tiền kim loại (bằng kẽm hoặc một thứ kim loại nào khác) vào sử dụng trong lưu thông tiền tệ. Việc này có thể giúp cho những người nghèo có được những giá trị chia nhỏ của đồng tiền (khoảng một phần trăm xu 0,001$).

Đồng chinh hiện đang dùng được làm bằng kim loại đồng và trị giá bằng ½ xu. Theo quan điểm của ông Phúc, nó đã tạo nên sự đắt đỏ trong đời sống của tầng lớp những người nghèo, vì như vậy, người ta không thể mua được một sản phẩm giá trị hơn 2 lần 1 xu. Ngược lại, thời trước, khi 1 xu đổi được 48 đồng kẽm, người ta có thể đi chơi xa trong một ngày, với quãng đường khoảng 20 đến 30 km và dùng một bữa cơm trưa với 1 xâu tiền kẽm có giá trị từ 2 đến 3 xu. Lúc đó, 1 đồng tiền kẽm có thể uống được bát nước chè xanh với 1 cái kẹo. Chừng ấy cũng đủ để người ta quên được cái đói lúc trưa và đi hết quãng đường cần đi, thậm chí còn được thêm điếu thuốc lào với cái điếu cày đi mượn. Đồng tiền làm bằng kẽm đó còn giúp được cả người nghèo nhất làm phúc cho người nghèo khác còn nghèo hơn mình thông qua việc ném đồng tiền đó vào cái rá của người ăn mày đứng thành hàng dài dọc đường đi. Nhưng ngày nay, với giá trị đồng tiền ½ xu thì cách giúp đỡ này không thực hiện được nữa.

Đồng tiền chinh nhỏ nhất hiện nay chỉ đủ để trả cho ngụm nước chè mỗi khi nghỉ chân trên đường đi. Sự chênh lệch theo lập luận này lúc đầu được những người bán hàng chấp nhận, vì cũng không có đồng tiền nhỏ hơn, đồng thời nó cũng được biến thái trong tính toán khi người ta buộc phải điều chỉnh giá cả đối với những sản phẩm rẻ nhất có giá trị là ½ xu. Nó là đơn vị tiền tệ nhỏ nhất của những người nghèo. Thực tế này đã không tạo được sự hài lòng cho những người bán hàng, vì rằng người nghèo buộc lòng phải bỏ qua việc khát nước, việc ăn kẹo và hút điếu thuốc để không phải tiêu tiền, thay vào đó họ sẽ tìm đến những gốc cây to có bóng mát chứ không phải các quán nước ven đường. Bao nhiêu người nghèo, làm những công việc khốn khổ chỉ để hy vọng lấy mấy đồng chinh ngày nào từ từ biến mất khỏi những nơi bán hàng, khách với các quán hàng càng trở nên hiếm hoi vì thế.

Đề nghị của ông Lê Văn Phúc là muốn làm sống lại cái thế giới nhỏ bé của những kẻ cơ cực bằng việc yêu cầu Nhà nước đưa vào lưu thông những đồng tiền kẽm mới, nó sẽ trở thành những đồng “Centimes” của chúng ta, bởi lẽ hiện nay quan tiền ($) giữ giá những 10 Francs, đồng một hào (0,10) vừa đúng bằng 1 Francs Pháp.

Mọi người cần biết, nếu được, Nhà nước nên phát hành loại tiền được chia nhỏ mệnh giá này kể cả giá trị thực tế sẽ thấp hơn giá trị của đồng tiền, nghĩa là: 1000 đồng kẽm = 1 đồng bạc. Chỉ có các chuyên gia mới giúp chúng ta hiểu rõ được lĩnh vực này trên cơ sở tính toán vốn đầu tư bao nhiêu cho công nghệ, cho các chi phí gia công, sản xuất, giá của loại kim loại rẻ nhất sẽ được sử dụng, tiền nhân công… Người bình thường như chúng ta làm sao biết được để tính toán ?!

Đồng tiền kim loại khá cồng kềnh so với tiền giấy, việc chuyên chở từ Pháp sang sẽ tốn kém, nên chăng đặt hàng mua một dây chuyền đặc biệt và cho sản xuất ngay tại chỗ. Người ta cần biết rõ công xuất của dây chuyền này, giá thành bao nhiêu, chi phí nhân công vận hành dây chuyền bao nhiêu… Việc xây dựng xí nghiệp này còn bao vấn đề chưa có lời giải. Vả lại, thiết nghĩ việc thực hiện yêu cầu này sẽ tốn kém nhiều hơn tác dụng nó đem lại.

Cũng trong vài năm gần đây, có một loại tiền kim loại là đồng chinh có giá trị bằng 1/6 xu, mọi người không hiểu nó được làm ra trong những điều kiện nào? Việc thử nghiệm không đạt được kết quả gì, người dân lúc đầu còn tỏ ra hào hứng rồi cũng nhanh chóng chán bỏ. Thậm chí chúng ta cũng nhanh chóng quên cả sự xuất hiện và ra đi của nó như thế nào cho dù mọi việc cách đây chưa lâu. Tôi nhớ, việc quần chúng gán thất bại của sự xuất hiện loại tiền xu này là lỗi của chính những cơ sở Nhà nước đã từ chối, không nhận thanh toán bằng loại tiền đó.

Qua những giải thích mà chúng tôi nhận được, mặc dù chúng tôi cũng không có điều kiện để kiểm tra rằng hiện nay Triều đình đang cho lưu hành một loại tiền kim loại làm bằng đồng trong khu vực Trung kỳ là giá trị hiện vật của đồng tiền còn cao hơn giá trị thực của nó, điều này những Hoa kiều đã thu mua các đồng tiền đó để đúc ra lấy đồng. Việc làm này thể hiện sự gian lận và rất khó ngăn cấm, bởi lẽ khó bắt được quả tang những kẻ vi phạm. Trường hợp này đã từng xảy ra đối với sự phiêu lưu của một loại tiền kim loại bằng bạc có trọng lượng là 27 grams được ra đời ở Châu Âu sau cuộc Đại chiến Thế giới thứ Nhất.

Đúng, thực tế là giá đồng đắt hơn giá kẽm, vì thế nên ông Lê Văn Phúc đã đề nghị sản xuất loại tiền xu bằng kẽm vì loại kim loại này rẻ và phổ thông hơn.

Tuy nhiên, tiền xu bằng kẽm có nhược điểm là mau bị ăn mòn, nên tính tự hủy cao và nhanh hơn do dễ vỡ trong quá trình lưu hành. Điều này có hại cho người tiêu dùng hơn là đối với Chính phủ. Ngược lại Chính phủ sẽ được lãi nếu giá trị sản xuất ra nó thấp hơn giá trị thực. Vấn đề này cần phải được kiểm tra lại.

Một ví dụ nên nghĩ đến là: Điều kiện sản xuất, giá kim loại, chi phí cho dây chuyền sản xuất… Cần tính được ở mức thấp nhất để giảm được giá thành, không để có sự chênh lệch giữa giá thành sản xuất và giá trị thực của đồng tiền, từ đó hạn chế việc làm giả và khi tiến hành việc kiểm tra không quá tốn kém, khó khăn.

Với những giải pháp dự kiến như đã nêu, chúng tôi tán thành đề nghị của ông Lê Văn Phúc, đồng thời cũng đề nghị Nghị viện chuyển đến ngài Thống sứ để các bước tiếp theo được thực hiện nhanh chóng. Bên cạnh đó ngài Thống sứ cũng nên cho ý kiến thể hiện sự mong muốn thật sự trong việc giúp đỡ dân ta trong hoàn cảnh nghèo khổ hiện nay.

Thể như các kết quả cần đạt được như dự tính của tác giả đề tài này không được thực hiện đầy đủ, cũng nên phải làm thử nhiệm ngay lúc này nếu không muốn dự án này bị phá sản. Bao giờ những việc thử nghiệm cũng là sự an ủi và tránh cho người dân bị đau khổ.

Những lý do đã làm cho chúng ta nghi ngờ tính khả thi của đề tài này là như sau:

Nếu sự biến mất của những đồng tiền kẽm trước đây đã gây ra sự lên giá và cuộc sống của người dân đắt đỏ hơn, và việc nghĩ ra loại tiền xu mới đưa vào lưu chuyển trong đời sống cũng không làm cho giá sinh hoạt hạ xuống?!

Từ thực tế này, việc sản xuất loại tiền kẽm mới với số lượng quá mức sẽ là sự cản trở vòng luân chuyển của đồng tiền, gây nên sự tranh chấp liên tục trong công tác thanh toán thương mại đối với người dân bản xứ với nhau mà điều tương tự lại không xảy ra trong việc thanh toán công ?! Chúng ta đừng quên rằng, khi Nhà nước đưa vào lưu hành đồng tiền kim loại đồng chinh được đúc bằng đồng, đã có rất nhiều ý kiến phản đối bằng văn bản gửi đến Nhà nước và các cơ quan tài chính rằng họ từ chối nhận và sử dụng đồng tiền này!

Một đồng tiền khi người muốn nó không đủ giá trị hợp pháp, thì cũng phải có một giá trị không chính thức, làm việc ấy phải được sự chấp nhận của Kho bạc khi thanh toán, chí ít phải là sự đồng ý của một cơ quan tài chính công nếu không muốn làm cho nó mất giá ở nhà riêng. Với những vấn đề phức tạp đa dạng và cồng kềnh, nó còn có thể nảy sinh ngay từ những vòng quay đầu tiên khi đưa vào thực hiện. Để cho người dân chấp nhận những điều mới mẻ, thì Nhà nước phải tỏ ra gương mẫu đầu tiên.

Đây là một khía cạnh khác mà Chính phủ phải lưu tâm khi xem xét yêu cầu này của Hội đồng Đại biểu Nhân dân.

Đó, những gì chúng tôi nêu mới chỉ là đầu bài của một bài toán.

Nguyễn Văn Vĩnh.

Bản dịch: Bùi Tường Trác – Nguyễn Thị Mười

121215_giaymenhgia1dong

Giấy bạc Đông Dương 1875 – 1923: Ảnh Internet

121215_iaybacdongduong1

Giấy bạc Đông Dương 1923-1940: Ảnh Internet

121215_dongxu

Đồng tiền xu (cent) 1935 – 1940: Ảnh Internet

121215_1cent

Đồng 1 xu (cent): 1908 – 1939 – Ảnh internet

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *