Nhân 74 năm ngày giỗ nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp, 28 tháng 9 âm lịch (19/11/1938)

 

Vào những năm 90, khi ý thức của đa phần chúng tôi (hậu duệ của học giả Nguyễn Văn Vĩnh) còn khá đơn giản về gia tộc cũng như về quá khứ của những người ruột thịt, tôi được biết: ở quê (Phượng Dực, Thường Tín, Hà Tây) có thực hiện một nghi lễ trang trọng: rước và đặt bia “Danh nhân văn hóa” cho thi sỹ Nguyễn Nhược Pháp. Tôi chỉ được biết khi mọi việc đã được thực hiện. Vào giai đoạn đó, tôi chưa cảm thấy có điều gì phải trăn trở… Vài năm sau, đến một lúc tâm thức như bừng tỉnh, tôi miên man nghĩ ngợi về sự kiện này, tôi buồn và tự đặt câu hỏi: vì sao mình không biết?!

Nhìn sâu vào những sự việc trong gia tộc khổng lồ của mình, cắt nghĩa những vụ việc phức tạp và có phần vô lý trong các mối liên hệ chằng chéo, đan xen, giữa người này với người kia, giữa nhóm này với nhóm kia, giữa giai đoạn lịch sử này với giai đoạn lịch sử khác… Tôi dần nhận ra được nguồn gốc của những lỗ hổng trong nhận biết về quá khứ, về truyền thống, về các cá thể, cũng như về những sự mâu thuẫn tồn tại dai dẳng trong lịch sử, không phải chỉ đối với một gia đình nhỏ nào mà nó còn là của cả đất nước này, dân tộc này. Tôi tự cho rằng mình đã hiểu được căn nguyên của những nỗi bất hạnh, lý do tạo nên những vực sâu ngăn cách trong đời sống tinh thần của cả cộng đồng nói chung và từng gia đình lẻ nói riêng.

Kể từ sự việc kể trên, mãi cho đến năm 2007, nhờ dư luận xã hội và những diễn biến có tính tích cực liên tục chung quanh đề tài học giả Nguyễn Văn Vĩnh sau khi bộ phim tài liệu “Mạn đàm về Người Man di hiện đại” ra đời, tôi cân nhắc suy xét mọi mặt và nhận thấy: nếu mình không chủ động đề cập việc đặt vấn đề trước xã hội về đề tài Nguyễn Văn Vĩnh và gia đình, nhất định “họ” sẽ tiếp tục giữ im lặng ! Tôi hiểu vì sao “họ” im lặng?!

Việc im lặng của xã hội sẽ tạo nên sự im lặng của lịch sử. Việc lịch sử im lặng sẽ làm đứt khúc nhận thức về quá khứ đối với hậu thế về một con người, một gia tộc đã đóng góp và để lại cho xã hội rất nhiều điều kỳ vĩ trong lịch sử, sẽ là sự bất công tệ hại, và ở một góc nào đó nó đồng nghĩa với sự vô ơn!

Tôi vật lộn với rất nhiều những khuynh hướng nhận thức khác nhau về hướng đi của mình đối với đề tài này, không phải chỉ đối với dư luận xã hội mà ngay cả đối với những người ruột thịt của mình. Suốt một quãng dài của quá khứ, với những biến cố kinh hoàng của một đất nước đầy máu và nước mắt, rồi đến việc hình thành những thói quen và lối sống ích kỷ, trở thành sự mặc nhiên đối với rất nhiều người trong phương thức tồn tại, đẩy đến chỗ rất ngại động chạm…!

Thế là, trường hợp Nguyễn Nhược Pháp, dấu chấm nằm trong tổng thể của cuộc đời, gia đình và sự nghiệp của học giả Nguyễn Văn Vĩnh là thuận lợi nhất để “họ” đề cập. Vậy nhưng cũng không giúp hậu thế hiểu và biết cho đến nơi đến chốn. Từ việc truy tìm mối liên hệ và ảnh hưởng của Nguyễn Văn Vĩnh về tư tưởng, về tư duy, đến nguồn gốc phát sinh năng lực làm thơ, viết văn và phê bình văn học của Nguyễn Nhược Pháp, tất cả đều có điểm xuất phát là người cha của ông. Tôi chỉ xin đề cập đến một khía cạnh nhỏ liên quan đến sự nghiệp văn thơ của Nguyễn Nhược Pháp, đó là bài thơ viết bằng chữ Quốc ngữ đầu tiên của Nguyễn Văn Vĩnh ra đời năm 1914, cái năm cụ sinh ra Nguyễn Nhược Pháp. Thế rồi 22 năm sau, theo lời của của nhà thơ Phạm Huy Thông, thì chính Phạm Huy Thông và Nguyễn Nhược Pháp đã cùng tổ chức buổi dạ hội sân khấu để trình làng vở kịch đầu tiên do Nguyễn Nhược Pháp sáng tác “Người học vẽ” (Bài viết của Phạm Huy Thông trên báo “L’Annam Nouveau” về Nguyễn Nhược Pháp, số 550 ngày 21/5/1936) và Phạm Huy Thông đã không vô cớ xác nhận việc Nguyễn Nhược Pháp viết được kịch là nhờ ảnh hưởng của Nguyễn Văn Vĩnh đã dịch các tác phẩm kịch nói của Molier từ cả chục năm trước đó.

Còn quá nhiều điều để suy ngẫm khi nói đến một “dấu chấm” là Nguyễn Nhược Pháp, con trai của học giả Nguyễn Văn Vĩnh. Những gì Nguyễn Nhược Pháp đã tạo ra, đã để lại cho hậu thế trong kho tàng văn hóa Việt Nam chưa là bao nhiêu nếu đem so sánh với người cha của mình. Nói về Nguyễn Nhược Pháp thuận lợi và dễ dàng hơn một nghìn lần nói về Nguyễn Văn Vĩnh, vậy mà chưa bao giờ công luận thấy một hành xử nào có tính sự kiện và mang tính trân trọng của những người có trách nhiệm để tỏ lòng tri ân đối với ông.

Nghĩ nhiều như vậy, nên năm 2008, nhân ngày giỗ lần thứ 70 của nhà thơ, tôi biết chắc chắn sẽ chẳng có “ai” làm điều gì đó để trân trọng tưởng nhớ, tỏ lòng lòng biết ơn đến một người đã để lại cho đời một dấu ấn thi ca đẹp đẽ, sâu lắng của tâm hồn người Việt, như bài thơ “Đi chùa Hương”, với muôn vàn sự lấp lánh cả về ngôn ngữ, về nhân tình thế thái, về thiên nhiên ngàn đời của một đất nước mà chúng ta luôn hãnh diện là ngàn năm văn hiến, cho nên, tôi đã tìm đến Khoa Sáng tác, Đại học Văn hóa để “rủ” nhau tổ chức buổi lễ xúc động này.

Xin giới thiệu với các quý độc giả bộ phim tài liệu ghi lại buổi lễ kỷ niệm 70 năm ngày giỗ nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp. Tại buổi lễ này, cũng là dịp lần đầu tiên, chúng tôi công bố bài thơ “Khóc Nguyễn Nhược Pháp” của nhà thơ Nguyễn Bính.

 

121111_nguyennhuocphap1

Nhà văn Văn Giá, Chủ nhiệm khoa Sáng tác Đại học Văn hóa Hà Nội đọc lời khai mạc buổi lễ kỷ niệm

 

121111_nguyennhuocphap2

Nghệ sỹ Thu Huyền, Đoàn Chèo Hà Nội ngâm bài “Đi chùa Hương” tại buổi lễ.

Phim tài liệu ghi lại buổi lễ kỷ niệm 70 năm ngày giỗ nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp

Đài Truyền hình VTC thực hiện. Xây dựng, viết và đọc lời bình: nghệ sỹ ưu tú Trần Đức.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *