Hương-sơn hành trình (Une excursion à Hương tích) – Đông Dương tạp chí số 44, ngày 19/3/1914

 

Thưa các quý vị độc giả!

 

Việc trải qua gần một thế kỷ luận bàn về con người và sự nghiệp của nhà báo, dịch giả Nguyễn Văn Vĩnh càng chứng minh sự đồ sộ của sự nghiệp mà ông để lại. Nói như nhà văn Nguyên Ngọc trong buổi lễ kỷ niệm nhân 125 năm ngày sinh của nhà báo, dịch giả Nguyễn Văn Vĩnh tổ chức tại thủ đô Hà Nội năm 2007: “Nguyễn Văn Vĩnh như một quả núi mà chúng ta chỉ là những kẻ đứng dưới chân, khi ngước lên không khái niệm được chiều cao của quả núi, chỉ khi thời gian trôi đi, như khi chúng ta đứng ra xa, mới thấy trái núi Nguyễn Văn Vĩnh cao thế nào…”

Như BBT trang web Tannamtu đã giới thiệu, lần này chúng tôi xin tiếp tục chuyển đến các quý vị độc giả loạt bài ký sự của Nguyễn Văn Vĩnh viết về chùa Hương năm 1908, khi mà nước ta còn chưa có nghành phát hành báo chí, chứ chưa nói về các thể loại bài viết trong kỹ nghệ làm báo. Bài viết Hương Sơn ký sự đăng lần đầu bằng tiếng Pháp vì lúc đó cả vùng Bắc Kỳ chưa có tờ báo tiếng Việt nào cả.

Đánh giá bài viết này của Nguyễn Văn Vĩnh, BBT, chúng tôi xin trích đoạn ý kiến của tác giả Nguyễn Thành đăng trên báo Nhân Dân cuối tuần số 35, phát hành ngày 29/8/1999 như sau:

“… Có lẽ mọi người đều công nhận trí thông minh tuyệt vời hiếm có của ông, một người làm báo, viết báo, dịch văn xuôi và văn vần chữ Pháp ra chữ Việt và ngược lại thật tài tình. Cho đến bây giờ vẫn có một số bản dịch chưa có người nào dịch hay hơn ông và các dịch giả vẫn coi ông là bậc thầy. Có người nhìn ông chỉ là nhà dịch thuật, không phải là nhà văn. Tôi không tán thành. Tôi cho rằng, văn ông thể hiện qua văn báo chí, ký sự, phóng sự, tùy bút, tiểu luận và cả văn dịch thật hay. Bài Hương Sơn hành trình do tác giả viết bằng chữ Pháp đăng trên báo Notre journal năm 1909, sau tự dịch ra chữ Việt, đăng trên Đông Dương tạp chí các số … là một bài ký rất hay, xưa nay chưa có bài thăm Hương Sơn nào viết hay như thế”.

121101_edichuahuong

Bà con dân làng thôn Phượng Vũ, xã Phượng Dực, Phú Xuyên, Hà Nội tập trung tại sân chùa làng Phượng Dực (An Khánh) để đón xem buổi biểu diễn của Đoàn Chèo Hà Nội. Lần đầu tiên bài thơ “Đi chùa Hương” của Nguyễn Nhược Pháp được trình bày một cách trọng thể trên quê hương mình (tháng 12/2009).

Hương-sơn hành trình

(Une excursion à Hương tích)

(Tiếp theo)

Đông Dương tạp chí số 44, ngày 19/3/1914

Khi ai đấy đã thở hết hơi trần rồi, vào lỡi la liệt trong ba bốn cái miễu ở đó, rồi lại đi, lại trèo lên nữa, đường đi từ đây mới lại càng dốc, càng khó nhọc.

Trải qua mấy lần núi, rồi đến một cái hang to hốc, cửa vào có rễ cây lòng thòng xuống tựa như cái trấn-song, cho nên người An-nam ta tính hay dễ ví, gọi ngay là Cửa Trấn-song. Hang thì trông hình như cái loa, cửa vào rộng mà trong hẹp dần lại.

Đứng ở trước mà nhìn vào thì trông thấy hết.

Trước cửa có hai rẫy nhà-trọ, có cơm, có gà luộc, cá rán kia đâu đâu cũng thấy, nước trà, nước lã đắt đòi bán tới hai xu một chậu. Hết rẫy nhà hàng, có một cái cổng cũng chẳng có gì là lạ. Sau cổng có một mảng đá phẳng, đẽo vào sườn hang, trên có khắc năm chữ “Nam thiên đệ nhất động” của đức Minh-Mệnh đề. Ý hẳn khi ấy ngài chưa ngự các núi cửa Lục bao giờ, cho nên Hương-sơn ngài đã cho là đệ-nhất thắng cảnh. Cao nhất chỗ ấy, có núi Cà-sa, là một cái thạch-nhũ lớn, hình như cái nấm. Còn ở trong thẳm, đường đi vào dốc xuống, thì nhìn vào chỉ thấy hàng nghìn hàng vạn ngọn đèn, cây nến tờ mờ ở trong đám khói mù. Phía tay phải hang, có một cái rãnh tự-nhiên, ở ngay đó tất người ta lấy làm nơi đổ vứt những đồ xú-uế.

Xét ra cái hang rộng hốc ấy chẳng đẹp gì nhưng cũng lạ mắt. Nhìn vào cái lỗ sâu hoắm mà tối tăm ấy, thấy hai bên sườn thì ẩm ướt, thach-nhũ hình dạng kỳ khu, người đông nhung nhúc như kiến, mà trên chốc thì có những tảng đá lớn hình như sắp sụt lở, mà từ đất giở lên đến miệng trên cao ước trăm thước tây, thì tinh-thần hơi hoảng hốt ái ngại.

Bề sâu, từ cửa Trấn-song tới nơi thẳm cung ước được 300 thước tây.

Chỗ bầy thờ Phật thì cũng tựa như các chùa khác, mà lại có phần thiếu sót vì hai bên không có Thập-điện, La hán, chỉ thấy những ban thờ tạp nhạp chẳng biết những thần chi chi. Mỗi cái mẩu đá lòi ra lõm vào, là có một tên, có một thần riêng, kỳ nhất là chỗ núi các-cậu, các-cô, cũng là hai cái thạch-nhũ, đó chính là nơi Phật bầy hàng những con giai con gái, để cho đàn-bà đi cầu tự đến mà chọn.

Đàn-bà leo lên đó, xếp những oản cùng chuối, bánh khảo, mứt đường đầy cả quanh các mẩu đá, lại lấy tiền lấy su mà buộc vào cho, vuốt ve, tưng nịnh, khi đã chọn được cái mẩu nào ưng ý rồi thì khấn rằng : “ Lạy cậu, cậu về với vợ chồng nhà tôi, tôi sẽ hết lòng yêu mến nâng niu cậu, để cậu đi học đi hành, mai sau đỗ ông nghè ông cử làm nên quan tham quan thượng cho vợ chông tôi được nhờ. Lậy cậu, về với vợ chồng nhà tôi, Na-mô A-di-đà Phật, Na-mô, etc…”

Những bà kém bề âm-đức, đi cầu chín mười lần rồi mà chưa được, thì đồ rằng xin con giai quá lạm, Phật ngài chẳng cho, đành phải sang kêu bên núi các-cô, chẳng giai thì gái vậy :

“Lậy cô, cô về với vợ chồng nhà tôi. Thôi thì vợ chồng nhà tôi số kiếp hẩm hưu. Phật tổ ngài không cho được cậu giai để nối dõi tông đường, thì xin cô về cùng, vợ chồng tôi xin cũng nâng niu yêu mến. Lậy cô, cô theo về với vợ chồng nhà tôi. Na-mô A-di-đà Phật. Na-mô…

Nực cười thay mà não nùng thay ! ước gì trong cái tục con-trẻ và giã-man ấy, khi có mất đi thì cũng còn để sót lại cái nghĩa ham gây dòng-giống ấy.

Cách-trí ôi ! văn-minh ôi ! mau mau đến mà đuổi hết những sự tin nhảm, những tục buồn cười ấy đi, nhưng cái mục-đích, cái nghĩa-lý những tục ấy, là một mục-đích hay cho nhân loại, thì xin cứ để cho người nước ta giữ hoài, mong đuổi hoài, để lợi cho dòng dõi nhà ta.

Trong hang, bên vệ chùa, chỗ cái rãnh đi thẳng vào, thì đây đó một vài đám, vào đó chẳng biết làm chi, giải chiếu đánh bài, đánh thò-lò, súc-sắc, tựa như cho đỡ buồn.

Một vài thầy thông mới nói ở Hà-nội về, ăn bận lịch-sự, đứng tựa vào những vấu đá, tập trò đưa mắt, cũng chẳng hại ai.

Trong thẳm cùng, có một cái lỗ, người ta kể chuyện rằng ngày xưa, khi các nhà sư còn thực bụng tu-hành, bấy giờ chưa biết hút á-phiện, sư chưa lấy vợ-lẽ, chưa mở cửa hàng bán hương khói, buôn bùa bèn, như sư-cụ chùa Hương ta ngày nay, thì phàm các sư tu ở Hương-sơn cứ bữa bữa vô đó lấy thóc lấy gạo ra mà nấu cơm ăn.

Ở phía cửa hang, đầu kia cái rãnh, lại có một lỗ nữa, người ta bảo là lỗ vào đường lên giời, nhưng ai muốn lên tới giời phải quyết lòng từ bỏ nhân gian,một dạ lên chốn nát-bàn. Muốn chui vào hang lên giời, phải thắp nến mà đi, hễ thấy nến tắt thì phải lộn giở về, đó là Phật đã báo cho biết rằng còn nặng kiếp phiền-hoa.

Nghe đâu có một nhà kia lòng thành sung tín mà lại có can đảm, đã đem nến và đồ ăn, đi vào trong hang suốt hai ngày, thấy lương thực đã hết quá nửa mà chưa đến giời, lại phải trở về địa-giới, từ ấy nghe như lại càng thấy kiếp người có vị mặn mà cũng chẳng nên vội vàng từ-bỏ.

Tôi thấy người ấy nói vậy, mà có lẽ nói thực-tình, thì tôi cũng chẳng nhìn chi vào (mất) …nữa. Gọi là chỉ nói truyện qua, để những các bậc thông-thái xét xem thăm cái lỗ ấy có ích gì chăng thì vào mà thăm.

(còn nữa)

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *