Hương-sơn hành trình (Une excursion à Hương tích) – Đông Dương tạp chí số 42, ngày 5/3/1914

 

Thưa các quý vị độc giả!

Việc trải qua gần một thế kỷ luận bàn về con người và sự nghiệp của nhà báo, dịch giả Nguyễn Văn Vĩnh càng chứng minh sự đồ sộ của sự nghiệp mà ông để lại. Nói như nhà văn Nguyên Ngọc trong buổi lễ kỷ niệm nhân 125 năm ngày sinh của nhà báo, dịch giả Nguyễn Văn Vĩnh tổ chức tại thủ đô Hà Nội năm 2007: “Nguyễn Văn Vĩnh như một quả núi mà chúng ta chỉ là những kẻ đứng dưới chân, khi ngước lên không khái niệm được chiều cao của quả núi, chỉ khi thời gian trôi đi, như khi chúng ta đứng ra xa, mới thấy trái núi Nguyễn Văn Vĩnh cao thế nào…”

 

Như BBT trang web Tannamtu đã giới thiệu, lần này chúng tôi xin tiếp tục chuyển đến các quý vị độc giả loạt bài ký sự của Nguyễn Văn Vĩnh viết về chùa Hương năm 1908, khi mà nước ta còn chưa có nghành phát hành báo chí, chứ chưa nói về các thể loại bài viết trong kỹ nghệ làm báo. Bài viết Hương Sơn ký sự đăng lần đầu bằng tiếng Pháp vì lúc đó cả vùng Bắc Kỳ chưa có tờ báo tiếng Việt nào cả.

Đánh giá bài viết này của Nguyễn Văn Vĩnh, BBT, chúng tôi xin trích đoạn ý kiến của tác giả Nguyễn Thành đăng trên báo Nhân Dân cuối tuần số 35, phát hành ngày 29/8/1999 như sau:

“… Có lẽ mọi người đều công nhận trí thông minh tuyệt vời hiếm có của ông, một người làm báo, viết báo, dịch văn xuôi và văn vần chữ Pháp ra chữ Việt và ngược lại thật tài tình. Cho đến bây giờ vẫn có một số bản dịch chưa có người nào dịch hay hơn ông và các dịch giả vẫn coi ông là bậc thầy. Có người nhìn ông chỉ là nhà dịch thuật, không phải là nhà văn. Tôi không tán thành. Tôi cho rằng, văn ông thể hiện qua văn báo chí, ký sự, phóng sự, tùy bút, tiểu luận và cả văn dịch thật hay. Bài Hương Sơn hành trình do tác giả viết bằng chữ Pháp đăng trên báo Notre journal năm 1909, sau tự dịch ra chữ Việt, đăng trên Đông Dương tạp chí các số … là một bài ký rất hay, xưa nay chưa có bài thăm Hương Sơn nào viết hay như thế”.

Hương-sơn hành trình

(Une excursion à Hương tích)

(Tiếp theo)

Đông Dương tạp chí số 42, ngày 5/3/1914

Nhưng mà sự khó chịu ấy cũng chóng qua.

Đi vào khỏi cái cầu hôi hám ấy, trải hai rẫy nhà-hàng vừa người ta vừa người Tầu tranh nhau khách đi chùa, thì mắt trông thấy một đám người rứt đông mà ngộ quá.

Muốn biết đại-ý cái số người tụ lại ở đó, thì phải biết rằng chùa từ cửa vào đến cái nhà hậu nhà khách ngoắt ngoéo, đứng chật hết độ ba mẫu đất, mà trong khoản ấy khó lòng mà tìm được một chỗ rộng 2 tấc vuông tây không có chân người nhẫm. Thế là không kể những cánh đồng xung quanh chùa, người cũng đông lắm.

Có một đám người ấy hô-hấp trong một vùng không-khí ngạt ngào những khói hương.

Ai trông thấy cái kỳ cảnh những người đông gì dào niệm phật, om sòm tiếng nói, len nhau mà vào lỡi trước ban thờ, thì cũng phải quên ngay sự đi đường khó nhọc; quên ngay cái mùi hôi hám ngoài sân, quên ngay sự vất vả sô đẩy người ta mà lấy lối.

Muốn được các ông hội được thực ý cái nơi lâng-liu quanh co mà to-nhớn ấy, cửa bên cửa giữa, ngõ thẳng ngõ ngay, gian tả gian hữu, mái trước mái sau, đâu đâu cũng nhung-nhúc những người, thì phải rẽ ra mới được. Nhưng xin chỉ nói đại-cương rằng những chùa to nhất ở Bắc-kỳ như chùa Yên-phủ, chùa Bút-tháp ở tỉnh Bắc Ninh, mà đem tỉ với chùa Trò, thì chỉ bằng cái nhà-hậu mà thôi.

Cái bộ quần-áo tây của tôi, và lại được thằng người nhà tinh quái, làm cho tôi ra mặt một người khí sang, sư cụ ngài cũng có lòng vì, từ bỏ cái buồng sô một lát mà ra tiếp.

Tên người nhà ra hiệu, tôi liền mở ví ra đưa cho lão-tăng hai nguyên bạc, nhờ ngài sai biện cho cái lễ mọn để mai vào chùa trong.

Bởi cách lịch-thiệp khéo ấy, làm cho nhà chùa mong còn có cách lịch-thiệp khác nữa, cho nên tôi được ra người khách trọng.

Nhà chùa bèn mở cửa nhà khách, thường chỉ để tiếp các quan về chùa, tối đến hai thầy trò được vào nghỉ trên sập có màn buông lịch-sự.

Dầu ai cho là ích kỷ mặc lòng, tôi cứ biết ở chỗ đông người như vậy, thiên-hạ nằm la liệt dưới gạch, người nằm cạnh sát nhau, kẻ phải gối lẫn lên nhau, chỉ mỗi lối đi trừa ra một đường nhỏ, vừa bước lọt chân người, cho đi qua khỏi phải nhẫm lên mình người ngủ, mà mình vào nằm chốn lịch-sự tĩnh-mạc như thế thì lấy làm sướng đã.

Nhưng chiếu dù êm chăn dù ấm, không thể nằm được lâu. Vừa thiu thiu gọi là đỡ mệt tôi liền đứng dậy ra ngoài, lần theo lối hẹp trong đám người nằm. Đây đó một vài bọn canh khuya còn thức, mở sách ra miệng nhẩm 500 tên đức Phật Quan-âm, hoặc có người ngồi kể chuyện Chúa-ba cho chúng nghe.

Trong đêm tĩnh, trên các tiếng si-sào, có một tiếng sang sảng của anh phú-gia kia, người Hànội về, họ nói từ tối đã năm lần lỡi đi lỡi lại ngũ-bách-danh, hai ngàn năm trăm lần đứng lên phục xuống, miệng gào lên Phật, hai bên sau trước, hàng mấy chục con người quên đói quên nhọc, đọc theo lời tụng niệm, và tập theo cái bài thể-thao riêng ấy. Ở vòng ngoài một đám phụ nữ, có trẻ có già, tên Phật dài dang không nhớ suể, đành chịu đọc theo mấy chữ sau cùng. Vẳng nghe xa chỉ vẳng thấy tiếng: …Quan thế âm bồ t á á á á t ! tựa như cầu lấy bài ca, giọng trong veo của mấy cô đọc mãi cũng êm tai.

Trước bàn thờ lại thấy có năm sáu sư-ông lần lượt nhau làm lễ, tay dẻo tựa cô đầu, làm đi làm lại ba mươi sáu tay quyết.

Một đoàn thầy cúng lấy giọng riêng mà đọc sớ, hết sớ này đến sớ khác, cửa Phật dễ lắm đơn bằng mấy cửa quan. Giấy tâu bạch in sẵn kể cơ man. Đãi đồng bạc thấy điền tên vô đó, đọc xong rồi bỏ hòm giấy đỏ khéo phong thay, châm ngọn lửa lời chầu lên cõi Phật.

Ở trong các nhà hậu những nối tứ-trụ hồ hết tại đây, gạo nếp vào nồi, nháy mắt ra thành xôi với oản. Đến chỗ lên đồng, một vài bà ngồi đảo múa, xung quanh trăm nghìn đệ tử đứng hầu, bóng đức nghìn mắt nghìn tay, cung văn vừa chầu vừa dạ, mỗi nén nhang làm thẻ thưởng tiền. Súm sít nhau xin bà ban lộc, khấu trầu, cánh hoa, tranh nhau lấy về cho khước.

Kỳ thay đạo Phật nghiêm trang sao lại có những trò đồng cốt, những thói bà Cô ông Mễnh uốn éo lẳng lơ, phán truyền õng ẹo. Ngặt một nỗi; đàn bà sở thích ở mấy điệu Bà thượng bơi trèo, khăn áo nhố nhăng Cậu-quận, vì nếu giữ theo lễ phép uy nghi nhà Phật, thì sợ xa mất những khách lắm tiền, như các me các thím. Nên chi chùa Hương ta là chùa đệ nhất nước Nam, phải có đủ trò để mà quyến nhủ người ta.

Có người bạn hỏi tôi, mắt cũng tinh đời bảo trong thói các me ưa đồng bóng, có tang rằng nghề múa vốn giời sinh là một nghệ của người; bởi các giống giống nào cũng nhảy múa, duy giống ta không có cách chơi ấy, cho nên các bà phải viện thần thánh múa chơi cho thỏa cái thích vẫy vùng, chân nọ đá chân kia, uốn éo lưng ong, vuốt ve má đỏ, lắc lư nhìn bóng trong gương, ưỡn chiếc ngực ra cho chúng khen bà đẹp chín nghìn.

( Còn nữa).

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *