Đông Dương tạp chí – tờ báo chữ Quốc ngữ sớm nhất ở Hà Nội*

 

BBT website Tannamtu thành thật xin lỗi vì sự chậm trễ trong lịch trình công bố một số bài báo của Đông Dương tạp chí, phục vụ cho sự kiện 100 năm ra đời của tờ báo. Sau bài giới thiệu này, chúng tôi sẽ lần lượt chuyển đến các quý vị độc giả theo trình tự 2 ngày 1 bài của các tác giả là thành viên của Ban Biên tập Đông Dương tạp chí. Rất mong sự quan tâm và đóng góp ý kiến của các quý vị độc giả!

 

Đông Dương tạp chí – tờ báo chữ Quốc ngữ sớm nhất ở Hà Nội*

Tờ báo với nhiều hệ lụy qua các cuộc tranh cãi lịch sử

(Bài viết chuẩn bị cho kỷ niệm 100 năm ra đời của tờ báo)

 

Xã hội Việt Nam trong những thập kỷ gần đây đã rơi vào tình trạng bị xếp hạng là quốc gia trí tuệ hạng thấp của thế giới.(1) Bên cạnh đó, xét ở bình diện rộng về mặt dân trí, cũng luôn bị các nhà nghiên cứu sót xa xác nhận là một đất nước có mặt bằng dân trí không theo kịp với những thay đổi của đời sống xã hội. Thực tế này đã cản trở nghiêm trọng việc xây dựng một xã hội tiến bộ, một đất nước phát triển như tiêu chí của những khẩu hiệu được nêu lên trong suốt nhiều thập niên qua, làm nản lòng những ai thật tâm muốn canh tân đất nước, muốn xây dựng một quốc gia vươn lên ngang hàng với những nước láng giềng trong khu vực. Nguyên nhân cuối cùng của tình trạng này chính là sự thiếu hiểu biết của mọi thành phần cư dân ở tất cả các lĩnh vực trong xã hội, hệ quả của một nền giáo dục là “chỗ nghẽn”(2) của cuộc sống. Hơn 100 năm trước, có một người Việt Nam đã lo lắng và muốn đất nước không rơi vào tình cảnh này, đó là ông chủ bút của tờ báo Đông Dương tạp chí, 1913, Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936).

Xuất xứ của nền công nghiệp báo chí Việt Nam, không thể phủ nhận việc nó được hình thành bắt nguồn từ ý đồ thôn tính thuộc địa của Thực dân Pháp cuối thế kỷ 19. Mọi sự thôn tính (kể cả trong quan hệ cá nhân) đều hướng tới mục tiêu cuối cùng là văn hóa.

20 năm đầu tồn tại ở Việt Nam của một người Pháp có tên là F.H. Schneider (từ 1882)(3) là chuyên gia về công nghệ in ấn và xuất bản. Không vô cớ mà nơi đầu tiên Schneider đến An Nam là Sài Gòn. Việc Schneider chọn Sài Gòn ngoài nguyên nhân, Nam Kỳ mới là thuộc Pháp, Trung Kỳ và Bắc kỳ chỉ được gọi là nửa thuộc địa và chìm trong ảnh hưởng của Phong kiến. Nền văn hóa còn mang nặng ảnh hưởng của Nho học, cuộc sống cực kỳ lạc hậu, khó hy vọng đến việc hướng xã hội theo khuynh hướng tiến bộ kiểu phương Tây?! Về mặt lý thuyết, F.H. Schneider đã đúng. Đọc lịch sử báo chí Việt Nam, trong đó đã ghi rõ việc xuất hiện hai gương mặt được đánh giá là nổi danh trong lĩnh vực văn hóa và ngôn ngữ là Trương Vĩnh Ký (1837-1898) và Huỳnh Tịnh Của (1834-1907), cả hai ông đều là người Nam Bộ và đều là người công giáo, F.H. Schneider đã đặt niềm tin thật lớn ở những trí sỹ này, hoặc chí ít cũng hy vọng ở môi trường này, thay vì Bắc và Trung kỳ, nhưng Schneider đã thất bại. Chiến lược gây dựng ngành in và làm báo ở Việt Nam của Schneider không đạt được những kết quả cần thiết, mặc dù quá trình 20 năm là quá dài cho một hợp đồng đã ký giữa Schneider và Chính phủ Thuộc địa. Schneider thất vọng đến mức đành nghĩ đến chuyện ra về với hai bàn tay trắng. Việc F.H. Schneider bế tắc trong chiến lược của mình, nguyên nhân không khó hiểu nếu xem lại những diễn biến của giai đoạn lịch sử này. Schneider đã dồn sự khao khát hành nghề, phát triển và nhân rộng việc phát hành báo chí, cũng như công nghiệp in ấn và xuất bản thông qua sự hợp tác với những trí sỹ tài danh như Trương Vĩnh Ký và Huỳnh Tịnh Của, cả hai người này đều được lịch sử xác nhận là những người tài, thậm chí đã được đánh giá là bác học như Trương Vĩnh Ký. Vậy điều gì đã ngăn cản bước đi của họ ?

Đầu thế kỷ 20, khi mà sự tranh cãi ngay chính giữa bộ máy cầm quyền, giữa những khuynh hướng khác nhau về việc chọn thứ chữ nào sẽ dùng cho việc cai trị dân tộc này đã nảy sinh vô vàn mâu thuẫn trong chính những văn bản, nghị định, chỉ thị… của các cấp lãnh đạo khác nhau trong bộ máy cai trị. Đến đầu thế kỷ 20, việc hoạt động của một nhà nước đương nhiên phải có một loại chữ để điều hành, để thực hiện những hoạt động hành chính, để cai trị… Không thể lĩnh vực này thì viết bằng chữ Hán, lĩnh vực kia lại viết bằng chữ Pháp. Một nghìn năm phong kiến Trung Hoa, hơn 20 triệu dân Việt Nam lúc đó, có mấy người đọc được tiếng Hán (chưa nói hiểu)? Người Pháp phải tồn tại trên mảnh đất Đông Dương, họ định ép cả một dân tộc học Pháp văn chăng? Họ đã thử nhiệm, đầu tiên tại khu vực Nam Bộ, và đã thất bại. Cuộc sống tình cảm, tâm lý của người dân bản địa còn đang tức giận vì sự có mặt của người Pháp, loại người lúc đó được nhìn nhận là “bọn xâm lược”! Vậy thì dân tộc này, vào giai đoạn đó học gì? Bằng thứ chữ nào? Cả Hán văn lẫn Pháp văn đều quá nặng và tốn phí quá nhiều năng lượng, năng lượng cả của kẻ dạy lẫn người học. Tóm lại, hai thứ chữ đó không thể trở thành phong trào bình dân với một đất nước có đến 90% người dân là “chân đất mắt toét”. Ở đời dù là ai, ở đâu, khi muốn học điều gì đó, cái gì đó cũng đều phụ thuộc vào khả năng tiếp thu của chính mình. Kẻ muốn dạy người khác cũng nhất thiết phải biết người học có khả năng tiếp thu được hay không, nếu kẻ dạy có lương tâm nghề nghiệp và thực lòng với người mình muốn dạy.

Trước thực trạng này, tự xã hội đã sinh ra những gương mặt có những tố chất hơn người về trí tuệ để lĩnh hội những nhiệm vụ mà lịch sử tự nó tạo nên. Đầu thế kỷ 20, sự ra đời của phong trào Đông Du (1904) và phong trào Đông kinh Nghĩa thục (1907) do Phan Bội Châu (1867-1940) và Phan Châu Trinh (1872-1926) lãnh đạo, đều là các Nho sỹ và đều là những người con của mảnh đất Trung Kỳ, mảnh đất mà nếu theo nhãn quan văn hóa của F.H.Schneider thì rất ít hy vọng để đặt nền móng cho công cuộc canh tân văn hóa ở xứ thuộc địa này. Schneider đã không thể tiên liệu được rằng chính hai con người ở mảnh đất khắc khổ đó đã phát động các khuynh hướng cách mạng mà sau đó đã trở thành hạt nhân quan trọng đẩy đất nước này theo hướng canh tân, sản sinh ra những gương mặt mang khí chất cách mạng, tác động và làm thay đổi cả một xu thế lịch sử của một dân tộc. Trong những gương mặt thuộc tầng lớp tiến bộ đã được lịch sử ghi nhận, có tên Nguyễn Văn Vĩnh.

 

121005_phanboichau 121005_phanchautrinh 120427_500_thumb

Phan Bội Châu – Phan Châu Trinh – Nguyễn Văn Vĩnh

Thực tế trải nhiệm của lịch sử Việt Nam đã không thể phủ nhận tính đại cách mạng của hai phong trào này, nhất là Đông kinh Nghĩa thục. Nhiều nhà nghiên cứu trong quá trình tìm hiểu đã phải xác nhận: Đông kinh Nghĩa thục chính là cuộc Đại cách mạng Văn hóa của dân tộc Việt Nam. Chiến lược của phong trào này là Khai dân trí! Như vậy, việc nhìn nhận của các nhà cách mạng lúc đó về tính cấp thiết, yêu cầu sống còn của dân tộc từ hơn 100 năm trước đã chính làtri thức. Bước đi này của lịch sử Việt Nam phải khẳng định một điều là cực kỳ sáng suốt và đầy ý nghĩa cho muôn đời. Vậy những nhân sỹ từng tham gia cuộc cách mạng này tại sao về sau lại bị quy cho là “bọn cải lương”, và phân biệt ra từng nhóm để đối xử?(4) Nhất là khi chính những người chủ trương thực hiện chính sách này không những không phải là những người trong cuộc, mà còn là kẻ ngoài cuộc. Ngoài cuộc thì làm sao để biết cho hết và hiểu cho đúng những hành vi, những tư tưởng của những người trong cuộc?

Năm 1906, Nguyễn Văn Vĩnh đã gặp và thấm cái tinh thần Khai dân trí của Phan Châu Trinh, thấm cái giả trị tư tưởng “Bất bạo động, bạo động tắc tử, vô vọng ngoại, vọng ngoại tắc ngu”, cho nên, ngày 15 tháng 9 năm Thành Thái thứ 18 (1906), Nguyễn Văn Vĩnh là người đã lĩnh sứ mạng chính trị, nhận dịch từ Hán văn ra Pháp văn toàn bộ Thư trước tác hậu bổ của Phan Châu Trinh viết gửi cho Toàn quyền Đông Dương, tố cáo sự tha hóa của xã hội, tố cáo sự câu kết của những người Pháp tàn ác với những viên quan tham lam trong triều đình nhà Nguyễn, bóc lột, vơ vét và làm cho xã hội ngày càng đi đến chỗ bần cùng, khốn khổ.

Năm 1907, Phan Châu Trinh cùng những người đồng chí của mình, lập nên phong trào Đông kinh Nghĩa thục, thực chất là để châm ngọn lửa khai dân trí, mà muốn khai dân trí, bắt buộc phải có một loại chữ viết để làm công việc truyền thông. Loại chữ viết đó phải dễ học, phải tiện lợi, ai học cũng được, “ngu tối thì vài tháng, mà sáng dạ thì chỉ đôi ba ngày”. Chính sự thúc ép của lịch sử vào thời khắc này, các nhân sỹ đã chính thức dùng chữ Quốc ngữ để truyền bá trong Đông kinh Nghĩa thục. Sự kiện này vô tình trùng với thời điểm Thực dân Pháp đang khủng hoảng về việc chọn một thứ chữ cho người dân bản xứ, nhằm thực hiện việc cai trị của chính sách thuộc địa. Đánh giá như vậy, vì như đã nêu ở trên, liên quan đến vai trò của F.H. Schneider ở Việt Nam, sau 20 năm không hoàn thành được nhiệm vụ trong việc xây dựng nền công nghiệp in ấn, xuất bản, nguyên nhân thực chất, chẳng qua vì cả hệ thống cai trị còn mải tranh cãi, đối phó với các khuynh hướng khác nhau về việc chọn thứ chữ nào làm quốc ngữ mà thôi!

Đông kinh Nghĩa thục đối với Nguyễn Văn Vĩnh là cơ hội nghìn vàng để thực hiện tình yêu sâu sắc của mình đối với con chữ, đối với ước nguyện: dân ta nói thế nào thì phải viết như vậy. Chúng ta cũng sẽ bằng họ (Pháp) nếu dân ta có tri thức. Nguyễn Văn Vĩnh còn tỏ ra “cay cú” khi đọc các ấn phẩm triết học và xã hội học của người Pháp viết được dịch sang tiếng Hán, nội dung đã bị sai lệch đi không ít… Một phần vì lệ thuộc vào sự nhận thức của người dịch, mặt khác vì chữ Hán có thể hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau khi dùng cùng một từ, vậy để hiểu đúng, phải là tiếng mẹ đẻ. Tiếng mẹ đẻ chính là ngôn ngữ có sẵn của dân tộc này và đã được các cố đạo phương Tây Latin hóa từ gần 300 năm trước. Nguyễn Văn Vĩnh từ lúc còn ít tuổi, do tình yêu với tiếng mẹ đẻ, đã tìm hiểu cặn kẽ ngôn ngữ của dân tộc An Nam, cho nên không dễ để Nguyễn Văn Vĩnh khẳng định: “Nước Nam xưa nay vẫn có tiếng nói, mà tiếng An Nam lại hay được một điều là cả nước nói có một thứ tiếng…”

(5) .

Không vô cớ, Nguyễn Văn Vĩnh đã từ nhiệm công việc trong Tòa Đốc lý Hà Nội, chấp nhận sống tự do để được tự do thực hiện lý tưởng. Thật chẳng dễ để Nguyễn Văn Vĩnh dám đứng ra thay mặt các nhân sỹ trong Đông kinh Nghĩa thục, chịu trách nhiệm trước nhà cầm quyền về việc xin mở trường ở số 10 phố Hàng Đào, do cụ cử Can làm thục trưởng… Còn rất nhiều những chi tiết khác sẽ làm nản lòng những ai đã vội vã nói xấu Nguyễn Văn Vĩnh về sự kiện vì sao, khi Đông kinh Nghĩa thục bị khủng bố, Nhà cầm quyền lúc đó đã không bắt Nguyễn Văn Vĩnh như một số các trí sỹ cùng thời?! Để hiểu đầy đủ hơn về Nguyễn Văn Vĩnh trong Đông kinh Nghĩa thục mời các bạn tìm đọc 26 trang đánh giá về Nguyễn Văn Vĩnh của Nguyễn Văn Tố (1889-1947) viết bằng tiếng Pháp và in trên tạp chí của Hội Tương tác giáo dục tháng 6 năm 1936 ở Hà Nội.

Khi Đông kinh Nghĩa thục bị buộc đóng cửa và bị khủng bố, Nguyễn Văn Vĩnh đã thất vọng vô cùng, bởi theo Nguyễn Văn Vĩnh, đó là một việc làm vô chính trị. Sự kết án của nhà cầm quyền đối với các nhân sỹ tham gia Đông kinh Nghĩa thục, việc phá nát một phong trào mang sắc khí của một cuộc Đại cách mạng Văn hóa đã tạo nên sự đe dọa trực tiếp đến chiến lược của Nguyễn Văn Vĩnh trước chủ trương: dân ta nói thế nào thì phải viết như vậy. Nguyễn Văn Vĩnh đã phản ứng gay gắt bộ máy cầm quyền trong bức thư gửi ngài Hauser, Đốc lý Hà Nội ngày 11.12.1907 vì sự khủng bố này đã ngăn cản tham vọng của Nguyễn Văn Vĩnh: “… lời phát biểu của tôi là dành cho chữ Quốc ngữ, tôi đã đề nghị lấy nó làm chữ viết dân tộc cũng như làm cơ sở cho nền giáo dục bản xứ…”.

Tâm huyết của Phan Châu Trinh và các đồng chí của mình là xây dựng cho người dân Việt một nền học vấn, theo Phan Châu Trinh, sự ngu muội và nghèo khổ của người dân, nguyên nhân chính vì không có tri thức. Muốn người dân có tri thức, nhất thiết phải được học hành, muốn được học hành phải có thứ chữ thống nhất và phổ thông để làm phương tiện và phải được phổ cập, muốn phổ cập được rộng rãi, phải tạo phong trào. Đông kinh Nghĩa thục chính là mặt trận quan trọng để động viên xã hội đẩy thành phong trào cải cách văn hóa. Nguyễn Văn Vĩnh ôm ấp việc kiến tạo phương tiện này, đó là chữ Quốc ngữ! Nguyễn Văn Vĩnh đã vô cùng tâm đắc trước một nhận thức mới về vai trò của báo chí, công cụ số một để vận động cuộc cách mạng văn hóa, nhờ chuyến đi dự hội chợ các nước thuộc địa tổ chức tại cảng Mác Xây, Cộng hòa Pháp tháng 6 năm 1906.(6)

Đông kinh Nghĩa thục bị dập tắt, nguồn nhiệt huyết của Nguyễn Văn Vĩnh bị tàn phá. Nhưng Nguyễn Văn Vĩnh vẫn quyết tâm, sống mái dựng bằng được thứ phương tiện quan trọng hàng đầu là chữ viết. Theo Nguyễn Văn Vĩnh, đó là nhân tố quyết định cho trận chiến khai thông văn hóa, đẩy lùi nền giáo dục Phong kiến chỉ biết dạy người ta học để được hưởng bổng lộc chứ không phải vì ích lợi của cộng đồng ở đất nước Việt Nam đầu thế kỷ 20. Từ đó thực hiện cuộc cách mạng khai dân trí theo sách lược của Phan Châu Trinh, tránh đi vào con đường bạo lực như lúc đầu Phan Bội Châu chủ trương, hạn chế việc hy sinh xương máu như lịch sử đã diễn ra trong quá khứ(7). Rõ ràng, việc mất đi cơ hội do Đông kinh Nghĩa thục bị đổ vỡ đối với Nguyễn Văn Vĩnh là rất lớn. Không khó hiểu để những ai quan tâm nhận ra lý do vì sao Nguyễn Văn Vĩnh là người Việt duy nhất dám đứng ra ký đơn gửi Toàn quyền Đông Dương, đòi thả Phan Châu Trinh vì vô tội! Xin nhắc lại: thả Phan Châu Trinh vì vô tội!

Ấp ủ tham vọng trong việc xây dựng vai trò của chữ Quốc ngữ trong lịch sử văn hóa Việt Nam, Nguyễn Văn Vĩnh đã phải giằng co trong tư tưởng trước việc: có tiếp tục hợp tác với F.H. Schneider hay không? Tại sao không? Khi đó Nguyễn Văn Vĩnh chỉ là một anh công chức thôi việc, không quyền lực, không tài sản, không con ông nọ, cháu bà kia, và không cả người đồng chí đích thực của mình: Phan Châu Trinh (đang bị đi tù). Vậy nhưng lại nuôi trong mình một lý tưởng quá lớn, thậm chí lớn đến mức không định lượng nổi khi Nguyễn Văn Vĩnh bộc bạch trong một bức thư viết ngày 27.6.1906 từ Mác Xây gửi cho Phạm Duy Tốn: “… Ngồi mà nghĩ rằng tôi sẽ là người đầu tiên làm công việc đó, để mà gây lấy một tương lai tốt đẹp, tôi cảm thấy sung sướng vô cùng. Cha mẹ, anh em, vợ con, tất cả đều phai nhòa trước tư tưởng đó để nhường chỗ cho một lòng vui thích êm ái nhất…”

F.H. Schneider đã đi qua một chặng đường quá dài, chân đã mỏi, gối đã chùn… gặp được Nguyễn Văn Vĩnh, một mẫu hình cộng sự như trong mộng, dù gì, sau 2 năm cộng tác cũng đã ra đời được đứa con đầu lòng của nền báo chí Việt Nam: “Đăng cổ tùng báo”(8), thay vì 20 năm trong xứ Nam Kỳ, thăng trầm các kiểu, hợp tác với không ít những nhân vật tài năng người bản xứ, vẫn không hoàn thành được bản hợp đồng đã ký mà vẫn nhận tiền của Chính phủ. Vậy bỏ nhau sao được??? Cuộc “hôn nhân” lịch sử giữa Nguyễn Văn Vĩnh và F.H. Schneider như hai nửa cần nhau, lợi dụng lẫn nhau và cả đôi bên đều không dấu giếm ý đồ sâu sa của lý tưởng mình theo đuổi. Một bên có trí tuệ, có năng lực bẩm sinh với lòng đam mê vì lý tưởng, một bên có chức vị, tiền bạc và quyền lực và phải đạt được nội dung bản hợp đồng đã ký với Chính phủ là: tạo dựng được nền công nghiệp in ấn và xuất bản. Việc phải lợi dụng lẫn nhau là điều cũng dễ hiểu. Rộng tầm nhìn, người ta nói: dựa vào nhau. Đó kỵ và ác ý, có người bảo: tay sai của nhau!

Từ 1908 đến 1913, Nguyễn Văn Vĩnh đã lặn lội vào Nam vật lộn, tận dụng những cơ hội trong quan hệ với F.H. Schneider để nuôi dưỡng ý đồ xây dựng thành công chiến lược dân ta nói thế nào thì phải viết như vậy.

Bản chất không thay đổi của những kẻ thực dân là không chấp nhận để một dân tộc nô lệ được độc lập về văn hóa. Lịch sử cũng đã chứng minh, đích cuối cùng của một cuộc xâm lược phải là nền văn hóa của kẻ bị xâm lược! Trong khi Nguyễn Văn Vĩnh lại theo đuổi mơ ước xây dựng nền văn hóa độc lập cho người dân An Nam, thông qua việc không dùng Hán văn và cũng không dùng Pháp văn trong việc phổ cập giáo dục. Với thực tế đó, việc Nhà cầm quyền và hệ thống cai trị thất vọng về Nguyễn Văn Vĩnh vào những năm 20 của thế kỷ trước là một kết cục lôgíc.

Tuy nhiên, cho đến lúc đôi bên “chán nhau”, họ cũng phải làm vừa lòng nhau khi này, khi khác. Đông Dương tạp chí ra đời năm 1913 là hệ quả của nguyên tắc ứng xử như vừa nêu. Điều quan trọng nhất đối với Nguyễn Văn Vĩnh lúc đó là: phải có được một “mảnh đất” để cắm dùi. Đồng thời phải tiếp tục tạo dựng được ngành báo để làm cơ sở cho mục tiêu khai dân trí, có dân trí mới xây dựng được một đất nước độc lập và phát triển.

Bản chất của chủ trương này hoàn toàn cũng chính là tâm nguyện không phải chỉ của Phan Châu Trinh mà cả Phan Bội Châu. Để cụ thể hơn, xin được dẫn đoạn trong sách “Tự phán” hay còn gọi là “Phan Bội Châu niên biểu”, Phan Bội Châu đã viết: “Cụ (P.C.T) chỉ muốn đánh đổ quân chủ, mà vun trồng lấy nền tảng nhân quyền, hãy dựa vào Pháp mà đánh đổ quân chủ. Còn ý tôi là trước muốn đánh đổ người Pháp, chờ lúc nước nhà độc lập rồi mới bàn đến việc khác… Cụ với tôi vẫn đồng mục đích, mà thủ đoạn thì khác nhau…” (trang 50, Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh tuyển tập, NXB Văn hóa Thông tin, 2006).

Năm 1913, Đông Dương tạp chí ra đời mang trong nó ý đồ của cả đôi bên. Chính quyền Thực dân quá hoảng hốt với hàng loạt cuộc bạo động của các nhóm yêu nước, do các cá nhân theo những cách yêu nước khác nhau lãnh đạo. Thông thường, từ bạo động đến bạo loạn rất gần. Trong khi Phan Châu Trinh và Nguyễn Văn Vĩnh đều quán triệt ngay từ đầu: “Bất bạo động, bạo động tắc tử…”, vậy nếu để xã hội chìm đắm vào cảnh bạo loạn, trong một thực trạng mà sự chênh lệch về lực lượng một trời một vực giữa người dân bản xứ với thực dân của một quốc gia phát triển, kết cục sẽ là gì? Đồng thời, chiến lược Khai dân trí, chấn dân khí, hậu mới là dân sinh, bao giờ mới thực hiện được? Nhìn lại bối cảnh quan trọng này của quá khứ mới thấy: thật là hồ đồ để kết luận nếu không có độ lùi của thời gian.

Trước các gương mặt nhân sỹ là thành viên của Ban Biên tập Đông Dương tạp chí, xét về mặt ý thức, hẳn không thể nói những người như: cụ Hoàng Tăng Bí (1883-1939), Phan Kế Bính (1875-1921), Nguyễn Văn Tố (1889-1947), Trần Trọng Kim (1883-1953)… là “tay sai” của Thực dân Pháp, đã tham gia làm ở một tờ báo đả phá những người yêu nước… Hay đồng lõa với Nguyễn Văn Vĩnh, “bồi bút” của Pháp… Đánh giá sự việc này, nhà nghiên cứu Phạm Thế Ngũ đã từng nhận định: “Đối với Schneider và những người Pháp đứng sau tờ Đông Dương tạp chí, thì mục tiêu chính trị là quan yếu nhất. Còn đối với những người Việt Nam cộng tác, đứng đầu là Nguyễn Văn Vĩnh, hẳn các ông cũng muốn lợi dụng báo để làm nơi tuyên truyền cho việc duy tân đất nước và xây dựng văn học mới…”. Đấy chính là nguyên nhân, tiền đề dẫn tới sự ra đời của Đông Dương tạp chí.

 

Không ít người, cả đời, chỉ sống với một sự hiểu biết. Tai hại hơn nữa, họ tự coi sự hiểu biết của mình là chân lý, từ đó tự cho mình cả quyền để phán xử. Mặt khác, họ sống yên chí với điều mình nhận thức đến mức tự tin, mặc dù nhận thức đó ngay cả khi đã trở thành định kiến, đặc biệt đối với những người đã từng có vị trí quyền lực trong xã hội. Đã là định kiến, còn đâu là khách quan? Nói về quá khứ, mà quá khứ là lịch sử, lại không theo cách nhìn khách quan, làm sao có thể kết luận rằng thế này, rằng thế kia? Chắc không vô cớ, ông Lê Xuân Tá (nguyên Phó Trưởng Ban Khoa học và Kỹ thuật Trung ương Đảng 1990-1992) đã phải phát biểu: “Sự ngu dốt và thấp hèn tự nó không đáng trách. Nhưng sự ngu dốt và thấp hèn mà được trao quyền lực và cấy vào vi trùng ghen tỵ thì nó trở thành quỷ nhập tràng”.

Đông Dương tạp chí trở thành sự tranh cãi, vì nó ra đời trong một bối cảnh như vậy. Bất chấp mọi góc nhìn, mọi quan điểm khác nhau qua các thời kỳ lịch sử, cuối cùng chúng ta không thể không đồng ý như đánh giá của giáo sư Trinh Vân Thanh rằng: “Đông Dương tạp chí quả thật là đã có công xây dựng một cơ sở vững vàng cho nền quốc văn mới trong lịch sử văn học Việt Nam ở đầu thế kỷ 20”.

121005_dongduongtapchi

Trang nhất tờ Đông Dương tạp chí, số ra ngày 15/5/1913

 

Cũng để minh chứng cho lập trường của Nguyễn Văn Vĩnh khi cầm bút, chúng ta có thể đọc lại bài viết của bà Thu Trang (tác giả cuốn sách Hồ Chí Minh ở Paris, xuất bản tại Paris 1992) để thấy thêm một góc nhìn khách quan nữa của hậu thế: “… Để giành lại quyền làm người, các nhà Nho thời ấy không thể chơi chữ được với kẻ thù ngoan cố… Nguyễn Văn Vĩnh cũng biết vậy, nhưng ông vẫn không dừng bút khi có dịp nêu lên sự bất công của chính sách thực dân là che chở nhóm quan lại tay sai của Pháp, vì chính họ là những kẻ tham nhũng, bất tài… Ông đã mượn hai câu thơ trong cảnh nàng Kiều đành phải bán mình để giải thoát cho cha, và khéo léo bình luận: Một ngày lạ thói sai nha. Làm cho khốc hại chẳng qua vì tiền. “Ngày nay, dưới chế độ bảo hộ Pháp, báo chí của chúng tôi đều bị kiểm duyệt kỹ càng, những bài dù hơi có ý chỉ trích quan trường. Nhưng tờ báo nào dám lên tiếng đả kích dữ dội các quan lại, thì tác giả những bài ấy bị tù đày đến chết. So sự kiện ấy với đoạn này trong Truyện Kiều thì quả thật là Nguyễn Du đã trở nên nhà thơ bất tử”. Ông dụng ý cho là Nguyễn Du có tinh thần trọng công lý hơn tập đoàn thực dân. Trong câu văn Pháp rất rõ điều ấy (trang 212 chú thích số 267). Cách nhìn này đối với hiện tại vẫn có giá trị đối với xã hội kinh tế thị trường! Bây giờ chúng ta đọc những câu như vậy có lẽ không cảm thấy sức nặng của sự hàm ý và thái độ can đảm của dịch giả, như những năm 1908 đén 1933…”

Trước khi kết thúc bài viết này, xin được dẫn giải sự kiện năm 2006, tại Đại học Paris 7 đã diễn ra cuộc bảo vệ đề tài tiến sỹ đối với nhà nghiên cứu người Pháp, bà Emmanuella Effidi với đề tài “Nghiên cứu Đông Dương tạp chí1913”, được trình bày trong tập luận văn gần 800 trang.

Đông Dương tạp chí 1913 với xuất xứ rất nhạy cảm của một giai đoạn lịch sử văn hóa và chính trị, để lại khá nhiều những cách nhìn nhận khác nhau theo nhãn quan xã hội khác nhau, điều này có thể coi là quyền của những người quan sát. Tuy nhiên, nếu phán xét quá khứ theo quan điểm chủ quan và định kiến chính trị, sẽ càng làm cho những phán xét đó lộ ra một góc nhìn thiếu khoa học, không công tâm và thể hiện việc cố tình áp đặt. Điều đó đã làm sai lệch lịch sử.

Phan Bội Châu, nhà yêu nước vĩ đại của lịch sử cách mạng Việt Nam, người đã từng có những mâu thuẫn gay gắt về đường lối với cả Phan Châu Trinh và Nguyễn Văn Vĩnh, nhưng khi Nguyễn Văn Vĩnh mất đi, Phan Bội Châu đã phải cay đắng than: “ Ôi bạn ta ngọc báu của năm châu”. Hai năm sau khi Nguyễn Văn Vĩnh qua đời, Phan Bội Châu càng thấm cái giá trị tinh thần văn hóa của lý tưởng mà Nguyễn Văn Vĩnh theo đuổi, năm 1938, Phan Bội Châu khi nghĩ lại con đường văn hóa mà Nguyễn Văn Vĩnh gây dựng đã viết bài thơ ca ngợi vai trò của Đông Dương tạp chí. Xin gửi tặng các bạn độc giả toàn văn bài thơ này thay lời kết:

Mừng Đông Dương tạp chí (năm 1938) của Phan Bội Châu

“Kê kí minh hĩ!
Đông phương minh hĩ!”[1]
Đọc hai câu thơ ấy, vội mừng ngâm.
Đêm năm canh ảm đạm âm thầm
Gáy một tiếng vang ầm ba bốn mặt!
Thôi giục vừng hồng trên quả đất,
Sau tiếng gà gáy bỗng thấy mặt trời lên.
Màn mây mù quét sạch, hiện thanh thiên,
Luồng đau khổ đánh tan, trình hỉ khí[2]
Nào bạn lao nông, nào nhà chính trị,
Nào làng văn sĩ, nào cửa thần quyền.
Thời thế ấy quyết vai liền cánh rập.
Nước quạnh non khơi dầu mấy lớp,
Máu chung ruột thịt há đôi đường?
Gì danh, gì lợi, chi màng!
Đồng tâm hai chữ đá vàng chẳng phai!
Ai ơi! Đông dã dựng rồi,
Rập nhau ta dựng vũ đài ta lên!
Chí bền, vạn sự phải nên!

Chú thích cuối trang

1. “Gà gáy, phương Đông đã sáng!”.

2. Trình hỉ khí: bộc lộ rõ khí tượng mừng vui.

Chú thích:

(*) Đầu đề của Hoàng Cương – Thu Hường, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I.

(1) Bảng xếp hạng Trí tuệ Việt Nam của tổ chức WIPO, thuộc Liên hợp quốc. Bài của Trần Xuân Hoài – Tia sáng 27.7.2012.

(2) “Vì một nền giáo dục trung thực, lành mạnh và hiện đại”, diễn từ của giáo sư Hoàng Tụy tại buổi lễ nhận Giải thưởng Văn hóa Phan Châu Trinh ngày 21.3.2011.

(3) Francois Henry Schneider sinh năm 1851 tại Paris. Năm 1882 ký hợp đồng với Chính phủ Thuộc địa ở Đông Dương về: Phát triển Công nghiệp báo chí và in ấn. Sau 20 năm, năm 1902 ra Hà Nội. Cho đến thời điểm đó, các ấn phẩm do Schneider gây dựng ở một vài dạng sản phẩm khác nhau, hầu như chỉ đáp ứng trong phạm vi hẹp của bộ máy cầm quyền, chưa trở thành đại chúng. Lý do đơn giản vì không tìm được cộng sự!

(4) Văn kiện Đảng Cộng sản Đông Dương, trang 290. Nhà xuất bản Sự thật 1964.

(5) “Người An Nam nên viết chữ An Nam” bài trên tờ “Đăng cổ tùng báo” số 1 ngày 28.3.1907.

(6) Bức thư khác Nguyễn Văn Vĩnh viết cho Phạm Duy Tốn đề ngày 02.05.1906 gửi từ Mác Xây.

(7) “Thử đi tìm một con đường tranh đấu”, trích từ hồi ký của

Lê Thanh Cảnh, đăng trên tạp chí “ Xưa và Nay”, số 406, tháng 6.2012.

(8) “Đăng cổ tùng báo” ra số 1 ngày 28.3.1907 bằng cả chữ Quốc ngữ và chữ Hán. So với một vài tờ báo ra trước ở phía Nam, thì “Đăng cổ tùng báo” được xác định là tờ báo đúng chức năng của tờ báo đương đại – Thư tịch báo chí Việt Nam – NXB Chính trị Quốc gia 1998.

Hà Nội, tháng 9 năm 2012

BBT tannamtu.com.vn

Nguyễn Lân Bình

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *