Quyền tạo hóa, quyền thế tục hay quyền riêng tư trong chuyện lấy chồng của phụ nữ

BBT chúng tôi xin lần lượt giới thiệu những bài viết về đề tài phụ nữ của học giả Nguyễn Văn Vĩnh, nhằm giúp bạn đọc hiểu thêm về tư duy của một người được mệnh danh là: “Người Nam mới đầu tiên”. BBT xin xao lại nguyên văn để độc giả cùng chứng kiến giai đoạn chữ Quốc ngữ chưa được chính thức sử dụng ở Việt Nam và đã được phổ cập hóa ở miền Bắc những năm đầu thế kỷ 20 như thế nào. Tác giả không đặt tiêu đề riêng cho từng bài mà tất cả đều cùng một tiêu đề, theo kiểu loạt bài của một chuyên mục. Bởi vậy, tiêu đề của các bài mà BBT chuyển đến độc giả là do BBT chúng tôi tự đặt. BBT xin gửi đến độc giả bài thứ 2 trong loạt bài này, đây là bài phản hồi của độc giả về bài của bà Nguyễn Thị Bống trong số báo trước, bài “Đàn ông là tay phải – đàn bà là tay trái, đều nằm trên cơ thể con người”, bài đăng trên Đông Dương tạp chí số 40, ra ngày 19/2/1914, mục: Nhời đàn bà.

Đông Dương tạp chí số 41, ra ngày 26/2/1914

Mục: Nhời đàn bà

Quyền tạo hóa, quyền thế tục hay quyền riêng tư trong chuyện lấy chồng của phụ nữ

(Phản hồi của độc giả về bài của bà Nguyễn Thị Bống trong số báo trước)

Chị Bống tôi cứ đe lấy chồng mãi, mà chả biết đến bao giờ bà con mới được ăn giầu cau đây?

Thế mà chị tôi bàn đến trăm thứ từ nọ đến giờ, duy có một điều ai hẳn cũng mong đợi được nghe chị tôi bàn, mà chị tôi chẳng bàn cho.

Gì bằng được nghe gái sắp lấy chồng bàn đến chuyện lấy chồng. Ý tất trước khi quyết định ra một việc rứt trọng như việc ấy, thì thế nào chị tôi chẳng đã nghĩ chín rồi. Chị tôi chắc chẳng phải là người đỏ mặt vâng liều cho xong chuyện, tất nhiên cuộc đời cũng đã nghĩ chán chê. Nghĩ thế nào sao chị không cho bà con biết mấy. Em đợi nhời chị, như là đợi nhời sấm, để mà cũng toan một việc em chẳng biết có nên nóng hay không?

Nóng thì có nóng chị ạ. Em thấm thoát năm nay cũng 20 tuổi rồi, đem mình mà so với những chị em có kẻ đón người đưa rồi, thì kể cũng chẳng có điều gì nên tị với chị em, có phần lại phàn nàn cho chị em sao chẳng biết duy trì dè bước chốn vườn xuân như mình, bởi vậy em mới nghĩ ra mấy nhời khuyên nhủ chị em ngày nọ, về việc tảo hôn. Kế đén thấy chị, là một người có tư tưởng, học thức rộng hơn em, đã quyết định được điều khó ấy rồi, thì dè chừng rằng dễ chị có mấy nhẽ em chưa biết, ước gì được nghe, thì họa may cũng yên hẳn được một chút nỗi bồn chồn trong bụng.

Nỗi bồn chồn ấy nay em xin kể chị nghe, và để các chị em cũng biết vậy, ví bằng cớ ai cũng ngần ngại ở một điều, thì nghe xong rồi lại được nghe lời chị Bống em dạy, có dễ chúng ta cũng được thêm một mối yên lòng.

Em thấy người ta sớm vợ sớm chồng, mới ngòai 20 đã năm một choành choạch, chưa được hưởng hết cái vui thú trẻ, đã săn da lõm má, thì em nghĩ rằng, thế là quá vội vàng, nhưng mà đến tuổi như tuổi em, mà chưa định, thì ngại rằng có lẽ quá lỡ chăng.

Như người ta kia, thì nói lên câu ấy có lẽ ngượng miệng, như chị em mình thì tưởng câu ấy nói ra cũng chẳng sao; ai dám mở mồm ra bảo là ế muộn, muốn chiêu người. Mà chiêu đấy nữa thì có làm sao? Ví chăng chiêu mà ế, thì nhục ai chứ có nhục chi mình.

Mà ví thử chị có giải ra cho em vỡ được rằng cũng nên quách đi, thì em cũng xin nên, mà nên thì tất ngày nay nhời nói rỡn, mai kia xin cho hẳn nhời cầu bạn hẳn hoi.

Vậy thì xin chị chỉ giáo cho em mấy điều khó nghĩ. Chị ơi! Người ta thường bảo: Có chồng kẻ đón người đưa, không chồng đi sớm về trưa mặc lòng. Dẫu ngồi cửa sổ chạm rồng, chăn lan gối quế không chồng cũng hư. Nhưng mà người ta lại quên mất rằng: dẫu ngồi cửa sổ chạm rồng; phải anh chồng ngốc trông mong nỗi gì. Vậy thì kẻ đón người đưa đã chắc đâu là cái sướng! Còn câu không chồng cũng hư thì em tưởng người hư thì có chồng cũng hư, mà người tính chẳng hư thì dẫu có hư cũng chỉ hư với phong-tục hủ mà thôi, chớ không hư với thân mình mình đâu. Câu đó dễ chỉ có chị em ta hiểu mà thôi, còn người khác ai hiểu được thì hiểu, lọ phải cắt nghĩa rõ làm chi cho kẻ ít học lại cười, mà kẻ không vỡ hết nghĩa lại làm nhời sui giục những điều càn rỡ.

Chị ơi! Ví bằng chỉ có hai lẽ ấy nên lấy chồng thì em chưa lấy vội. Ý tất chị còn biết có lẽ khác nữa đấy nhỉ? Lẽ gì thế, cho em biết mấy, chị ơi!

Hay là chị, nghĩ cứ gái đến thì thì phải lấy chồng để vâng lời ông Tạo. Bằng thực thì em xin chị kể cho em nghe: quyền Tạo-hóa đến đâu, mà quyền thế tục đến đâu, mà quyền riêng của ta đến nơi nào?

Đã đành rằng tạo-hóa phó cho ta có hình hài, tất chẳng phải để mà nuôi cho đến cõi già bộ xương không vết; tất cũng có thì, phải thi hành một cái chức phận riêng của thân-thể người ta, phải thủ một điều phận-sự của cái thân mình làm một bậc thang cho nhân loại sinh hóa vô cùng.

Nhưng thế tục sinh ra có vợ có chồng, có cương-thường luân-lý, có chữ trinh kia mới lại khó giải sao?…Trinh ấy là đã cùng ai khăng khăng một lòng, đinh ninh một dạ, chẳng hai người biết đến mình ta, giữ được vậy mà khỏi phải ép uổng cái tính tự-do giời phó, thì tất cũng phải được quyền kén chọn lấy người, ví nếu ta không có quyền tự-do kén chọn, bạ gặp ai ai mà cũng phải nhắm mắt, phải giốc một lòng, thì chẳng hóa ra oan uổng cái thân ta lắm hay sao. Đành nhẽ Tạo-hóa, đành tục thế nhân quyền, nhưng lại còn cái quyền riêng của ta , được cầu sung sướng vẻ vang, được tùy lẽ phải ăn ở cho thỏa-chí, được tùy cách riêng của mình hiểu cuộc đời mà cư sử.

Chị ơi! Nói ra không dám nói hết, mà nói ra có ai thấu chăng? Hay là thiên-hạ không biết lại bảo cuống chồng.

Thôi thì em nhờ chị học rộng, tài cao. Chị biết những lẽ nào, hay hơn phải hơn, thì tỏ cho em biết mấy.

Đào-thị-Loan

Chú thích của BBT:

Bút danh Đào Thị Loan của Nguyễn Văn Vĩnh có từ khi lập mục “Nhời đàn bà” trên tờ báo tiếng Việt đầu tiên ở Bắc kỳ, tờ Đăng cổ tùng báo năm 1907. Khi ra đời Đông Dương tạp chí năm 1913, Nguyễn Văn Vĩnh vẫn tiếp tục sử dụng bút danh này cho chuyên mục về phụ nữ. Đào Thị Loan, Loan là tên người con gái cả của học giả Nguyễn Văn Vĩnh, bà sinh năm 1907 và mất năm 1942 tại Hà Nội.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *