Nỗi bất hạnh của kẻ khi mất rồi mới biết mình mất gì?!

 

120806_bia1baibao_thumb.png

Bài báo “Giọt dầu văng đi không ai biết tới”, đăng trên báo Gia đình và Xã hội ngày7/8/2007

 

Với những ký ức tuổi thơ lớn lên trong một bối cảnh xã hội như ở Việt Nam thập kỷ 50 và 60 của thế kỷ 20, chắc chắn người Việt Nam nào cũng ẩn chứa trong tâm tư bao điều trăn trở. Người ở miền Bắc, có cái băn khoăn của người miền Bắc, người ở miền Nam có cái băn khoăn của người miền Nam, băn khoăn không phải chỉ vì không đủ bát cơm, manh áo, bởi nỗi băn khoăn đó đến 90% nhân loại đều phải trải qua. Cái băn khoăn tôi muốn nhấn mạnh ở đây là sự suy tư về những diễn biến xã hội quanh mình, băn khoăn về lý do gì mà lịch sử lúc đó đất nước mình lại là hai miền? Băn khoăn về việc tại sao ngày đó khi nhận được tin của người thân sống trong Nam lại không phải là một bức thư, mà chỉ nhất nhất bằng bưu ảnh ?! Băn khoăn vì tại sao người hàng xóm của mình khi nghe radio lại cứ phải mở rất khẽ? Thậm chí băn khoăn cả việc khi khai lý lịch đi học, phần cô, gì chú bác có người khai vào, rồi lại xóa đi? Băn khoăn cả khi, lâu quá, không thấy bố cho đến chơi nhà các anh các chị họ của mình…?! Cơ man nào là sự thắc mắc ở cái tuổi mới lớn trong một bối cảnh xã hội mà phải đến nửa thế kỷ sau mới biết vì sao, và tại vì đâu… Điều tôi tâm sự ở đây chỉ là một trong hàng nghìn những thắc mắc của quá khứ đối với cá nhân. Khi tôi dần dần thấu hiểu nhiều điều của ngày xưa ấy là nhờ thời gian, nhưng phải khẳng định rằng cũng phải nhờ có cơ duyên với đời, với những gì liên quan đến mình và với chính những điều “trăn trở” đã đeo đẳng mình qua bao năm tháng… Tôi đã nghĩ nhiều về một người ruột thịt mà chỉ đến khi người đó qua đời tôi mới bừng tỉnh và hiểu rằng bác Nguyễn Phổ của tôi là ai?!

Cuối những năm 1950, đầu những năm 1960, tôi nhớ không quá hai lần, tôi đã được cha tôi cho đến chơi nhà bác Phổ tận sâu trong ngõ Liên Trì, gần hồ Hale (hồ Thuyền Quang bây giờ, hồi nhỏ quen gọi là Hale). Tôi đã tự hỏi, sao nhà bác bé thế? Sao bác lại bị đi tù? Sao trong nhà chẳng có gì cả…? Chẳng được bác cho ăn gì hết…

Tôi thoát ly từ lúc 17 tuổi và mãi đến 17 năm sau tôi mới đứng lại, không lang thang nữa. Ơn Trời, từng ấy năm lang thang, qua khá đủ những gian nan mà tạo hóa vẫn hay thử thách những kẻ lang bạt, kể cả trong sự no đủ, kể cả trong đói rét của chiến tranh và bom đạn… mà không “chết”! May quá! Khi cuộc sống cho mình sự thăng bằng, mới bắt đầu xuất hiện khả năng nhận thức lại những gì đã diễn ra của ngày xưa. Nhưng vẫn phải nhờ cơ duyên vì cho đến những năm tháng đó, tôi vẫn mơ hồ về nguồn gốc, gia đình, những người họ hàng của mình. Mơ hồ đến mức xấu hổ. Vì sao nhỉ?! Với nhiều người có thể sẽ là không nên khi có ý phán xét người thân, nhất lại là những người sinh ra mình và những người là bề trên của mình. Song riêng với tôi, việc nhìn nhận công bằng mọi việc, mọi người, mọi hành xử, mọi sự khúc mắc đều là chuyện không có gì xấu! Thậm chí nên làm, vì nếu không hiểu rõ điều mình quan tâm thì sẽ không nhận thức được đúng, không nhận thức được đúng sẽ không ứng xử được đúng, không làm được đúng sẽ chẳng giúp được cho bất cứ ai điều gì! Tôi muốn nói, việc nhận thức mơ hồ về cội nguồn và những gì liên quan, một phần đáng kể là do chính các bậc sinh thành của mình. Một thời gian khá dài, tôi đã tìm hiểu và mổ xẻ nguyên nhân này, và tôi đã tìm được nguồn gốc của một số sự việc. Đây là một đề tài dài và đương nhiên phức tạp, thậm chí có người né tránh, song sẽ là cần cho bất kỳ ai muốn có lối sống vì những sự minh bạch, và tôi tin sự minh bạch sẽ giúp con người thanh thản đến lúc chết! Theo tôi, lối sống dĩ hòa như một số người tâm đắc, chính là nguyên nhân dẫn đến hàng loạt những sự che dấu sự thật một cách vô tình, một lối sống là hậu quả của một nền giáo dục áp đặt, khống chế bản năng phản ứng tự nhiên của con người trước những sự bất hợp lý của đời sống cộng đồng, nó là mảnh đất dung túng cho sự hiểu lầm, sự vô cảm, dẫn đến sự quan hệ hời hợt, làm xa lánh giữa những cá thể và luôn tiềm ẩn sự ngờ vực lẫn nhau, thậm chí oán thán nhau ngấm ngầm, và như vậy tìm đâu ra sức mạnh?! Khi hiểu được ngọn nguồn của nhiều sự khúc mắc trong quá khứ, tôi trở nên độ lượng hơn trong cách nhìn sự đời, không gay gắt và đã tránh được sự cực đoan. Rồi đến một lúc tôi cũng hiểu được, vì sao suốt một thời gian dài, cha tôi sợ cả việc nhắc đến ông nội tôi, nói gì đến chuyện bác Phổ của tôi phải đi tù, mà hồi đó, họ còn gọi là tù chính trị! Mãi đến những năm cuối đời, qua nhiều cuộc tranh luận giữa cha tôi với chính các em trai tôi, đặc biệt khi cha tôi viết hồi ký (1), tôi mới biết, trong 10 năm theo cách mạng ( 1946-1956) ông đã có đến ba lần bị kết án tử hình! Nhưng tại sao, cả một cuộc đời nuôi các con lớn lên (không dám nói lớn khôn vì hai phạm trù này khác xa nhau) mà hầu như không dám kể cho chúng hiểu về quá khứ của chính mình?! Vì sao ông đã từng phải tỏ ra im lặng đến khó hiểu kể cả khi được các con hỏi về những điều thiêng liêng nhất?! Cha tôi là mẫu người thích đối thoại, thích giao lưu và rất nhiều đề tài làm ông say mê, thế mà ông đã từng phải im lặng rất lâu với rất nhiều chuyện… Tôi là người cũng có được chút kinh nghiệm trong 17 năm lang thang vì được thoát ly từ rất sớm, được đi rất xa, rất lâu và rất nhiều môi trường khác biệt. Tôi biết, khi con người bị truy bức tinh thần, hậu quả đối với từng người sẽ là những gì, điều này không có công thức. Tôi đã từng bị triệu tập đột ngột lúc 20h00 phải có mặt tại cuộc họp cùng ban lãnh đạo đơn vị bắt đầu từ 21h00 cùng ngày đến 04h45 sáng hôm sau, chỉ để ép tôi phải nhận “tội” mà tuyệt nhiên tôi không hề như quy kết của họ. Tôi hiểu hậu quả của sức ép, của sự ám ảnh tâm lý, sự hành hạ về tinh thần và dẫn cá thể đó đến tình trạng: thấy cái gì bất thường cũng sợ… Khi hiểu điều này, tôi thương cha tôi nhiều hơn.

Xin thú nhận, mãi đến những năm cuối đời của bác Nguyễn Phổ (bác mất năm 1997), tôi cũng vẫn hiểu mơ hồ về bác mình.

Khốn nạn (tôi thích ngôn từ này vì ông nội tôi có giải thích khi dịch cuốn Les Misarables – Những kẻ khốn nạn, ông tôi lý giải: khốn nạn ở đây là khốn khổ khốn nạn, chứ không phải khốn nạn mất dạy), phàm khi cơn bĩ cực qua đi con người ta nhìn lại quá khứ đôi khi lại cho rằng: chuyện ngày xưa ấy mà! Thậm chí còn có người cho rằng: quá khứ như một trò đùa. Rồi chỉ một cái chép miệng, rồi không khí đời thường cuốn theo cuộc sống hằng ngày, và rồi người ta không cho rằng việc phải giúp thế hệ sau hiểu ngọn ngành những gì đã xảy ra là trách nhiệm của họ! Vì sao lúc đó lại như thế? Bản chất sự việc diễn ra hồi đó là gì? Họ hành xử lúc đó như thế để nhằm mục đích gì? Có thể nhiều người đi trước không muốn truyền đạt lại quá khứ với ai đó vì sự đớn đau đến nghẹn lời, nói quá khó. Cũng có thể, người trong cuộc không tin rằng người nghe sẽ thấu hiểu được sự việc, hoặc cũng có thể lòng tin với người nghe quá mỏng! Với tôi, một xã hội tiến bộ và phát triển là xã hội luôn đòi hỏi con người ta phải hiểu được câu hỏi: vì sao?! Đạt được điều này sẽ là cơ sở để thế hệ đi tiếp coi đó là những bài học về thế nào là bất công, thế nào là sự xảo quyệt, thế nào là tàn nhẫn… Thầy giáo người Bungari của tôi đã từng bảo với tôi rằng: Người với Người là chó sói! Tôi đã phản bác kịch liệt… nhưng lúc đó tôi mới có 19 tuổi.

19h45 phút ngày 16 tháng 12 năm 1997, bác Nguyễn Phổ của tôi trút hơi thở cuối cùng tại nhà riêng, đúng vào thời khắc tôi ngồi trước bác như nhân chứng cho sự vĩnh biệt của một kiếp người. Tôi tự nghĩ: hình như giữa bác và tôi có điều gì đó… Tôi tiếc thương bác như những người con cháu trong nhà mất một người thân, tôi vẫn “ngu” mãi cho đến buổi đưa tang bác trai của mình. Tang lễ được tổ chức tại 125 phố Phùng Hưng, Hà Nội.Theo phân công, công việc của tôi ở vị trí bàn ghi, nhận và hướng dẫn khách đến viếng. Theo tập quán, viếng đầu tiên là toàn thể tang quyến, lễ, bái vĩnh biệt người quá cố, tiếp theo mới là họ hàng rồi đến khách thập phương. Tôi đang cúi mặt xắp xếp giấy bút tại cửa vào của phòng tang lễ, đợi gia đình lễ xong sẽ xắp xếp những khách tiếp theo. Bỗng một giọng nói khô và đanh, có chất của quân lệnh: “ Anh xếp cho chúng tôi viếng đầu tiên nhé!”. Tôi thoáng khó chịu. Tôi vốn là kẻ cũng đôi khi ngông nghênh, những năm ở quân ngũ, khi chứng kiến chất giọng như tôi vừa kể, thường là trong bối cảnh không khí căng thẳng, chuẩn bị cho những điều phiền lụy không dự báo được và tôi chợt nghĩ đến việc phản ứng “lưu ý” của đối phương. Trong bối cảnh tang tóc, làm sao có chuyện ra oai như vậy chứ? Tôi vụt ngẩng mặt… ôi, một vòng hoa to cỡ quốc gia (nhiều năm là nhân viên cho cơ quan ngoại giao, tôi hiểu trong công tác lễ tân, thế nào là các quy chuẩn), cùng với bốn sỹ quan Quân đội thực sự trong tư thế nghiêm trang với vẻ mặt trịnh trọng. Tôi đọc nhanh dòng chữ trên băng tang vắt ngang vòng hoa: “Tổng Cục 2, Bộ Quốc phòng kính viếng”. Tâm trạng tôi bàng hoàng, bởi lẽ tôi đâu có khái niệm gì rằng bác mình là ai? Làm gì? Lẽ gì mà Bộ Quốc phòng mang vòng hoa cỡ Quốc gia đến viếng? Tôi thật sự thấy xúc động và trân trọng, thoáng hiểu ra lý do của lời đề xuất có tính áp đặt vừa xong. Có lẽ sự ngây ngô, vô thức của tôi về người bác ruột của mình 100% là hậu quả của cả một quá trình dài lịch sử tồn tại trong một môi trường dạy giỗ như đã tâm sự ở trên… Tôi đâu có biết, bác Phổ tôi là người đã kết bạn với nhà tình báo nổi tiếng của Cách mạng Việt Nam Trần Quốc Hương (tức Mười Hương) từ năm 1945, rồi sau đó, chính ông Mười Hương đã xắp đặt để bác tôi ra nhập đội quân tình báo, tôi đâu có biết bác Phổ đã dùng chính cái tài nghề nghiệp của mình để in ra hàng nghìn tờ truyền đơn phục vụ cho Cách mạng tháng Tám…

Thời khắc qua đi, đám tang của bác tôi đến phần cuối, phần truy điệu. Kinh nghiệm cuộc sống cho tôi thấy, phần nghi lễ này ở Việt Nam ngày nay, đa phần mang tính thủ tục. Đã có người viết mỉa mai trên trang báo về chi tiết này như sau: “ Để được nghe những lời tốt đẹp, để được ngợi ca không cần sự thật, bạn hãy nghe các bài điếu văn trong các buổi tang lễ!”. Tôi thầm nghĩ, liệu tang của bác mình có giống như tình trạng người đời đang nghĩ không? Một lối sống tự dối mình vì trong các điếu văn người ta đã lặp đi lặp lại cho những người quá cố những nội dung giống nhau, cho dù những người quá cố có những quá khứ khác nhau và ra đi khỏi cõi đời với những lý do cũng khác nhau. Họ bất chấp việc biết rõ bản chất thật của công việc này nhưng không mấy ai dám than phiền công khai, hầu hết đều đồng ý nghe những lời ngợi ca không hoàn toàn thật trong bối cảnh ấy. Cũng nhiều người đã tự biện minh rằng: thôi, nghĩa tử mà…

Thật hay vì tang bác Phổ tôi không hề như vậy. Giờ truy điệu, mọi người tề tựu rất đông, không khí trầm mặc, sự yên tĩnh không phải vì mọi người phải trật tự theo thông lệ. Sau này nhìn lại, tôi cảm giác đó là sự yên tĩnh của bầu trời trước cơn bão. Ban tổ chức kính cẩn mời một cụ già có tên là Phạm Quang Chúc đọc lời điếu, lập tức xuất hiện tiếng xì xào: cụ già quá, yếu quá, sao lại để cụ đọc, sao không cử người trẻ hơn một chút…? Có người còn nói: cụ này năm nay 90 rồi, khổ cụ vì cụ yếu lắm… Tôi không nhớ chính xác, anh hoặc chị nào đó, là con bác Phổ tôi phúc đáp rất khẽ: Cụ nói với gia đình và ban tổ chức rằng: “Đọc điếu văn cho ông Phổ phải là tôi, không ai hết!”. Cụ đọc to và rõ ràng, mọi người ngạc nhiên lắng nghe từng chữ, không khí nín lặng như được nén lại, thoáng có thái độ ngạc nhiên khi trong điếu văn nhấn mạnh: “Nguyễn Phổ, bằng tài năng nghiệp vụ hiếm có, là người trực tiếp chế tác và hoàn thành bản kẽm để in đồng tiền đầu tiên của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1946… ông đã hiến trọn tài năng và trí tuệ cho cuộc cách mạng của dân tộc suốt 9 năm kháng chiến khi là tình báo quân đội nằm ngay trong lòng địch giữa Hà Nội”. Và rồi, giọng đọc của cụ Phạm Quang Chúc hạ xuống khi đọc đến đoạn: “ngày 29/9/1955 ông Phổ bị bắt với tội danh làm gián điệp cho Đế quốc Mỹ… và chịu tù oan 17 năm 1 tháng…”. Không khí tang lễ có phần đổi hướng, bắt đầu xuất hiện tiếng sụt sùi đây đó. Nhưng đến đoạn cuối (điếu văn dài 4 trang) bỗng cụ Chúc không còn bình tĩnh nữa, cụ đã tròn tuổi 90, sức lực còn được bao nhiêu, cụ già hơn người quá cố đến 10 tuổi, vậy mà cụ đã đọc to như gào lên: “Anh Phổ ơi, sao xót thương quá cho một kiếp người đầy oan trái !” Cụ run rẩy, nước mắt cụ chan hòa, cả nhà tang lễ òa lên khóc, những giọt nước mắt cay nồng vị chát của nỗi xót xa… Đây là lần thứ hai trong đời, tôi được chứng kiến tiếng khóc tập thể (Lần chứng kiến trước đây là câu chuyện dài, xin hẹn vào một dịp khác). Tôi buồn, cảm giác của một nỗi buồn không bến bờ, nỗi buồn cả cho sự ân hận vì đã không biết được nỗi đau khủng khiếp của một người ruột thịt. Tôi thật sự thấy giận những người thân của tôi vì đã không dạy bảo mình trong quá khứ…

Sau đám tang lịch sử đó (chí ít là với gia tộc chúng tôi), tôi được biết, ông Phạm Quang Chúc chính là anh vợ của Thủ tướng Phạm Văn Đồng, người đã từng quý mến và chứng kiến những hoạt động của bác Phổ những năm thời tạm chiếm. Dư âm của buổi tang lễ đã làm tôi buồn nhiều ngày sau đó. Nhưng phải mất nhiều năm sau nữa, khi tôi thấm cái hồn của gia tộc mình, khi tôi được sự khích lệ của người thân và bè bạn để năm 2004 tôi và các bạn làm báo viết và đăng được nhiều bài liên tiếp trên các báo khác nhau về ông nội tôi, cha tôi Nguyễn Dực, bác Nguyễn Giang, bác Nguyễn Nhược Pháp, chú Nguyễn Phùng. Trong một lần gặp gỡ với cố nhà giáo Nguyễn Vinh Phúc, ông đã nhắc tôi thế này: “Con làm được như vậy là con có hiếu lắm rồi, nhưng muốn thế nào, con cũng phải viết được một bài về bác Phổ của con. Bác Phổ của con khổ quá, bác chịu nhiều cay đắng quá. Viết để vong bác được siêu thoát con ạ, cố gắng con nhé!”. Tôi ngậm ngùi, vâng, nhưng trong đầu không hiểu phải bắt đầu từ đâu?!

Cuộc đời muộn vẫn hơn không, người đời dạy thế! Tôi đã bộc bạch về sự đáng tiếc trong nhận thức và tư duy về việc biết và hiểu về thân thế của chính gia đình mình. Mình là con cái “nhà ai”? Gốc gác, ông bà, cha mẹ mình thế nào? Những chuyện mờ mờ, ảo ảo trong quá khứ của gia tộc mình, thực chất là gì? Và phải làm gì với những nguyên nhân mà mình sẽ tìm ra? Nếu là niềm hãnh diện thì có chính đáng không? Và mình sẽ xử dụng thế nào niềm hãnh diện đó? Hay chỉ để khoe với đời??? Có tuổi rồi mới thấm câu “chửi” của người lớn hồi xưa lúc còn ít tuổi: phải suy nghĩ chứ, phải động não lên không thì sau này thành con gì? Tôi trăn trở triền miên, gặp được người nào có thái độ thiện chí khi nghe các câu chuyện của gia đình tôi, gặp được người nào có hiểu biết rộng về cuộc sống, về xã hội, về lịch sử… tôi cũng tìm cách duy trì và phát triển quan hệ. Đề tài về gia tộc tôi thật lớn, không cần phải khuếc trương, những người hiểu biết về thế thái nhân tình đều xác nhận với tôi như vậy. Nhưng thầy giáo người Bungari đã dạy tôi từ lúc mới 18 tuổi rằng: biết mà không nói, coi như không biết, có tiền mà không tiêu, coi như không có! Thế rồi, tôi có một thế giới bè bạn ở khắp các lĩnh vực, đủ mọi lứa tuổi và rất nhiều thành phần khác nhau trong xã hội. Đành rằng, cuộc sống luôn là một quá trình sàng lọc, mình sàng lọc nó và ngược lại. Đầu năm 2005, một người cùng cơ quan, hơn tuổi, anh cũng đã có nhiều năm ở chiến trường Tây Nguyên, khi giải ngũ, anh được theo học chuyên ngành nấu bếp, chuyên nấu ăn cho các vị Đại sứ khi nhận nhiệm kỳ tại Việt Nam. Khi tuổi cao, không phù hợp để làm cho các cơ quan nước ngoài, anh về làm bảo vệ. Gặp tôi ở cổng cơ quan, anh hỏi: “Hôm qua, tớ đọc trên tờ An ninh Thế giới, có bài viết về ông nội cậu, vậy cậu gọi ông Phổ là gì?”. Tôi mừng thầm vì thấy lại có thêm một người quan tâm đến đề tài gia đình mình. Tôi đáp: “Em gọi là bác ruột ạ!”. Anh hồ hởi, này tớ cũng biết về ông bác cậu đấy, tớ biết nhiều lắm, sao ông ấy khổ quá thế không biết?! Tôi bắt buộc phải tò mò hỏi: Làm sao anh biết nhiều về bác em? Anh tưng bừng kể: “Tớ cùng sinh hoạt hội Cựu chiến binh với một ông tên là Tín, ông tên là Phạm Bá Tín, ông là Trung tá, về hưu rồi, lần nào chuyện trò với ông, ông cũng hay kể về bác Phổ cậu. Ông Tín là cán bộ của Tổng Cục 2, ông ấy tỏ ra kính phục ông Phổ lắm và thương ông Phổ vô cùng”. Tôi thực sự như bắt được thứ gì đó rất quý mà mình chưa dám mơ bao giờ. Tôi nói: Em muốn được gặp ông Tín được không anh? Anh cho ngay tôi địa chỉ và số điện thoại.Tôi sướng âm ỉ! Tôi đã nấn ná về việc sẽ chọn ai trong số những nhà báo mà tôi quen để thực hiện bài viết về bác mình, cuối cùng tôi rủ Việt Hằng. Việt Hằng ít tuổi, là con của nhà văn Nguyễn Khắc Trường, tác giả cuốn sách nhiều người biết “Mảnh đất lắm người nhiều ma”. Việt Hằng theo tôi là con người giản dị, chân thành và mẫn cán lắm. Việt Hằng được tôi gọi mừng quýnh vì câu chuyện có nhiều uẩn khúc này. Đầu tiên, chúng tôi xin làm quen với ông Tín qua điện thoại, sau đó xin phép được đến chơi và trao đổi về trường hợp ông Nguyễn Phổ. Ông Tín rất sẵn sàng và đồng ý cho chúng tôi được ghi âm nội dung buổi trò chuyện. Thật sung sướng hết chỗ nói. Cuộc gặp gỡ với ông Tín kéo dài cả buổi sáng. Ông giãi bày: “Cả cuộc đời làm tình báo của tôi, tôi kính trọng nhất ông Nguyễn Phổ. Tôi kính trọng không phải vì ông nhiều chiến công, không phải chỉ vì ông bị oan, tôi kính trọng đức tính hy sinh của ông. Việc ông bị 17 năm tù vô cớ nhưng chính thức phải là 21 năm. Bởi lẽ khi các vị ấy bắt ông Phổ phải đeo cái án 15 năm (không bằng chứng), nhưng trong 15 năm đó có 2 lần ông được tặng giấy khen do thành tích “cải tạo” tốt, và mỗi lần được giấy khen đều kèm theo phần thưởng là giảm án 2 năm tù, vậy phải là án giảm 4 năm tù. 15 trừ 4 còn 11 chứ, tại sao lại là 17 năm??? Vậy nhưng qua điều tra của chúng tôi, suốt 17 năm đó, ông tuyệt nhiên không một lần than vãn. Ông có lối suy nghĩ cao thượng lắm, cao thượng ở chỗ này: Con cái ông lên trại cải tạo thăm ông, các con ông buồn lắm, có người khóc vì thấy bố khổ quá, nhưng ông bảo: các con đừng buồn nữa, cuộc cách mạng nào cũng như một cỗ máy. Một cỗ máy muốn hoạt động được thì phải có nhiên liệu, phải có dầu, mỡ chứ. Khi cỗ máy hoạt động, việc một vài giọt dầu văng ra ngoài là chuyện bình thường, cha cũng như những giọt dầu văng ra khỏi cỗ máy thôi các con ạ!”. Ông Tín nhắc đi nhắc lại câu nói này của ông Phổ với hai chúng tôi. Ông khẳng định lại: “Cả cuộc đời làm tình báo của tôi, tôi không bao giờ quên và kính trọng ông Phổ nhất, tôi thương ông…”. Sự ngậm ngùi của ông Tín, càng làm tăng nỗi đắng cay trong tôi khi nghĩ về người bác ruột của mình.

Những tư liệu chúng tôi ghi nhận được qua ông Tín, cùng với bao nhiêu những hiểu biết khác về bác Phổ, đã giúp cho Việt Hằng và tôi yên tâm về dữ liệu cho bài báo sẽ viết. Tôi còn đưa cả Việt Hằng đến thăm bác Phổ gái, lúc này bác đã yếu lắm rồi, và chính thực tế này đã thúc đẩy chúng tôi phải khẩn trương, vì bác gái có nói với hai chúng tôi thế này: “Bác yếu lắm rồi, chẳng biết được đến ngày nào, nếu báo in được về bác trai, nhớ đem ngay cho bác nhé!”. Có ai biết được, ở cõi đời này, dù là mong muốn chính đáng, dù là nguyện vọng bé nhỏ, đôi khi tưởng như ngẫu nhiên nó sẽ đến… nhưng vẫn phụ thuộc vào định mệnh! Việt Hằng và tôi hăng hái, trao đi đổi lại có những chi tiết dùng cho bài báo đến 5 lần, 7 lượt. Rồi sẽ là đưa báo nào đăng? Báo nào sẽ đồng ý đăng? Loanh quanh hơn 4 tháng trời. Một ngày vui, Việt Hằng thông báo cho tôi: “ Anh ơi, báo An ninh Thế giới đồng ý rồi, ông Nguyễn Như Phong (Phó TBT) duyệt rồi, đăng luôn vào số báo kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám đấy anh ạ!”. Tôi vui phát cuồng, nhận lời ngay với mấy người bạn đi xuống Quảng Ninh 2 ngày. Định bụng, mình về là có báo ra, mình sẽ đem ngay đến cho bác gái, chắc phải vui lắm. Vậy vì sao từng ấy năm, sau khi bác Phổ tôi được minh oan, sau khi được truy lĩnh các quyền lợi chính trị, nhận huân chương Chiến thắng và huân chương Kháng chiến…mà cho đến lúc này chưa bao giờ thấy ai viết điều gì vinh danh ông? Nhiều người có liên quan đến sự việc của ông, khi trao đổi với tôi đều nói: Chuyện ông Phổ nó nhạy cảm lắm, khó nói lắm… Cách lảng tránh (theo tôi) như vậy ẩn chứa điều gì? Vì sao lại là nhạy cảm? Việc này, khi có điều kiện, tôi sẽ xin phúc đáp. Xin quay lại chuyện bài báo. Ngay hôm đến Bãi Cháy, tung tẩy, lang thang, ăn uống trong tâm trạng của kẻ đắc chí, mặc dù những người chung quanh tôi chỉ nghĩ đơn thuần rằng tôi đang phởn! Chiều hôm đó, về đến khách sạn tính ngay đến chuyện xuống bể bơi cho thỏa thích, bỗng có điện thoại, Việt Hằng gọi, giọng không giống ai… Anh ơi, hỏng hết rồi. Sáng nay, Tòa soạn duyệt lần cuối cùng…và quyết định gỡ bài xuống! Tôi như kẻ mất hồn. Thôi về Hà Nội thôi, tôi trộm nghĩ. Nhưng về tôi sẽ làm được gì? Tôi là thằng nào mà đòi làm gì… Tôi cũng đã trải qua cảm giác sụp đổ về việc báo Nhân Dân số Tết Nguyên Đán năm 2003, vào phút chót cũng đã gỡ bài viết về Nguyễn Văn Vĩnh của giáo sư Vật lý hạt nhân Đinh Ngọc Lân vì lý do “tế nhị”… Nhưng lần này nó khác. Những cảm xúc này rất ít người chia sẻ được. Tôi đề nghị Việt Hằng: Mình tìm báo khác vậy, tôi đang ở xa, ngày mai về mình gặp nhau rồi cùng tháo gỡ, biết làm sao??? Việt Hằng an ủi: “Rồi, anh bình tĩnh đi, em đi ngay bây giờ, có thế nào em báo ngay!” Đến giờ đi ăn chiều, vừa ngồi xuống bàn, mấy người chung quanh phát hiện thấy thái độ của tôi không như lúc buổi trưa, có người lập tức giễu: ông này làm sao thế? Có chuyện gì mà mặt mũi như đưa đám vậy? Tôi chỉ cười nhạt, làm sao giải thích được, mà nếu có giải thích chắc chắn mọi người cũng không chia sẻ được. Lâu nay, xã hội đã tạo cho quá nhiều người lối sống thực dụng, lúc nào cũng bị ám ảnh: làm việc này có “mầu” không? Được bao nhiêu? Có ra tấm ra bánh thì mới bõ… Nói vậy với người đời cũng chẳng phải, vì ngay ruột thịt của tôi cũng có người nhìn những việc tôi theo đuổi là phù phiếm, là háo danh, là mệt người… vì nó không sinh lời! Chuyện ngày xưa ấy mà!!! Và bỗng điện thoại lại réo, vẫn là Việt Hằng: “Anh ơi, xong rồi, ok anh ạ. Báo Gia đình và Xã hội nhận ngay, họ cho xắp chữ ngay trong đêm nay anh ạ, đăng làm 2 số vì đưa muộn, cột báo hết chỗ rồi. Thôi thế cũng được, anh thoải mái đi, đừng sốt ruột nữa, thế nhé!” Chao ôi, tôi có thể nói gì với những người đang ở quanh mình? Hét lên ư, họ sẽ bảo tôi dở hơi, chia sẻ ư? Họ sẽ bảo: báo chí à, sốt ruột! Tôi đành giữ thái độ êm dịu, nhưng trong lòng vô cùng sao xuyến. Tôi tưởng tượng ra cảnh, sáng mai, các anh các chị tôi sẽ ra mua báo từ sớm để đem về dâng bác gái của tôi, để lòng dạ bác được an ủi, để bác có đi gặp bác trai, bác sẽ kể: cõi trần con cháu và người đời thương ông lắm, chúng nó nhớ ơn ông, ông yên tâm, nỗi oan của ông đã được giải! Tôi khoái chí âm thầm và rót vodka không dè dặt…

Sáng hôm sau, tôi luôn là người dậy sớm dù ở hoàn cảnh nào cũng vậy. Rửa mặt mũi tươi tỉnh, chưa kịp định thần rằng mọi chuyện đêm qua ra sao? Không biết bài báo có vướng mắc gì không? Liệu có lần thứ ba không? Tôi đang phân vân mấy giờ thì nên điện cho Việt Hằng? Bỗng điện thoại lại réo: Bình à, anh Tuấn đây (con trai của bác Phổ tôi), tôi nghĩ nhanh và lộn xộn, không biết sớm thế này mà anh họ mình đã biết được có báo in rồi sao? Giỏi quá… Nhưng không, anh tôi nói rành rọt: “Bình ơi, bác mất đêm qua rồi!” Tôi thật sự bị điên, điên vì quá nhiều diễn biến trong một thời gian quá ngắn, điên vì cặm cụi gần 5 tháng trời mới ra được bài báo (những bài trước đó chỉ 15 ngày là dài) để dâng cho một con người mà cuộc đời không dám ao ước gì cao xa, chỉ mong được thấy người đời sẽ xử sự trân trọng với chồng mình, chí ít là qua truyền thông đại chúng… Vậy mà, đúng vào lúc bài báo được xắp chữ lên khuôn để mang đến bằng cứ là giấy trắng mực đen cho số phận oan nghiệt của một con người lại cũng chính là lúc ngọn đèn phụt tắt! Tôi còn điên vì nỗi không bày tỏ được với người chung quanh mình điều cay đắng mình vừa gặp. Tôi cắn răng, nức nở gọi điện cho Việt Hằng để báo tin xấu… Việt Hằng nghe điện chỉ biết ôi… ôi… tại sao lại thế hả anh? Tôi ngậm ngùi gọi lại cho người anh họ để khẳng định rằng báo đã ra rồi, các anh các chị mua ngay nhé, tôi đang ở xa chiều nay mới có mặt ở Hà Nội… Tôi ấm ức cho đến tận chiều tối khi về đến Hà Nội và còn xót xa hơn khi các anh các chị tôi cho biết: “Các anh, các chị mua được báo ngay, cũng là lúc đưa thi thể bác gái ra nhà lạnh ở Phùng Hưng, các anh các chị ngồi trên xe chở thi thể của bác còn ấm và xe vừa chạy, các anh các chị vừa đọc bài báo cho mẹ nghe như khi còn sống với ý nghĩ an ủi, vớt vát rằng mẹ vẫn nghe được!” Càng nghĩ, tôi càng xót xa, cay đắng và nhận thấy rằng: định mệnh oan nghiệt của gia tộc chúng tôi không đè riêng lên vai một người nào, nỗi đắng cay không dành cho riêng một ai, thậm chí đến cả người hấp hối!!!

Tôi viết những dòng này để kỷ niệm 7 năm ngày bài báo “Giọt dầu văng đi không ai biết tới”được đăng trên báo Gia đình và Xã hội ngày7/8/2007, một bài báo đã trải qua không biết bao nhiêu thăng trầm trong quá trình hình thành. Ban Biên tập chúng tôi đã nhận được nhiều ý kiến phản hồi về bài báo này, với tinh thần chia sẻ và cảm phục sự hy sinh của ông Nguyễn Phổ, tuy nhiên, nhiều độc giả chưa hài lòng với nội dung quá cô đọng của bài báo. Cần phải thú nhận với các vị một thực tế, trường hợp của ông Nguyễn Phổ không chỉ đơn thuần là sự “thiếu sót” của những cơ quan có trách nhiệm trong giai đoạn đất nước bị chia thành hai miền, không đơn thuần chỉ là sự “nhầm lẫn” giữa hai cơ quan Quốc phòng và Công an. Tôi thấm thía suy nghĩ qua câu nói của giáo sư Sử học Phan Huy Lê trong bộ phim tài liệu về cuộc đời và sự nghiệp của học giả Nguyễn Văn Vĩnh có tựa đề “Mạn đàm về Người Man di hiện đại” như sau: “Có những việc trong bối cảnh nhất định, nhà sử học không thể nói ra được sự thật, nhưng cái gì đã nói thì phải nói đúng sự thật!”. Chuyện về bác Nguyễn Phổ của tôi còn rất dài, bởi lẽ như quan điểm của nhà sử học Dương Trung Quốc phát biểu trong buổi lễ trang trọng kỷ niệm 130 năm ngày sinh của học giả Nguyễn Văn Vĩnh, ngày 10/6/2012 tại Hà Nội,(2) chúng ta sẽ thấm thía hơn ở mỗi góc suy nghĩ của từng người: “…Từ đó, với tư cách người làm sử, tôi nhận thấy giới sử học đã có một khuyết điểm rất lớn là đã bỏ qua rất nhiều những vấn đề của lịch sử, rằng chúng ta chỉ muốn lịch sử như chúng ta muốn, chứ không phải là lịch sử như chúng ta có”.

Chú thích:

1/ Hồi ký Nguyễn Dực hoàn thành tháng 9/1999. Ông Nguyễn Dực mất tháng 1/2000.

2/ Xem toàn văn bài phát biểu của nhà sử học Dương Trung Quốc TẠI ĐÂY.

Chúng tôi sẽ gửi đến quý vị độc giả bộ phim tài liệu của truyền hình Quân đội Nhân dân nhan đề: “Chuyện bây giờ mới kể”, về các chiến sĩ tình báo bị tù oan, trong đó có trường hợp ông Phổ trong bài tiếp theo trên trang web Tân Nam Tử Nguyễn Văn Vĩnh. Mời quý vị đón xem.

Hà Nội, ngày 5/8/2012

Nguyễn Mỹ Anh Kim

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *