Từ Nguyễn Văn Vĩnh đến tên một con đường Mông Thành

Từ Nguyễn Văn Vĩnh đến tên một con đường Mông Thành

2012-08-02 22:29:13

– Trường Đông Kinh Nghĩa Thục, nơi mỗi tuần ông dành mấy tối để nói chuyện hoặc dạy tiếng Pháp, dạy chữ Quốc ngữ, nói chung là làm công việc nâng cao dân trí. Do dạy học ở đó mà ông đã thân với các ông Phan Kế Bính, Nguyễn Đỗ Mục, Hoàng Tăng Bí, Dương Phượng Dực, v.v… là những người sau này cộng tác với ông làm báo Đăng Cổ Tùng Báo, Lục Tỉnh Tân Văn, Đông Dương Tạp Chí và Trung Bắc Tân Văn.

– Hội Trí Tri mà ông làm trưởng ban diễn thuyết cùng với các ông Nghiêm Xuân Quảng và Trần Tăng Bình, mỗi tuần tổ chức một buổi nói chuyện và giảng sách. Ông Vĩnh không chỉ nói chuyện mà còn hướng dẫn các học viên tìm sách tham khảo, giải đáp bằng thư những điều mà bản thân ông cũng phải tham khảo thêm. Đây là một lối tự học của ông.

– Thư viện Bình Dân (Bibliothèque Populaire) ở bờ hồ Hoàn Kiếm gần đền thờ Bà Kiệu là một thư viện dành cho người đọc được tiếng Pháp. Hàng tháng đều có sách báo mới ở Pháp gửi về. Ở đây ông đã làm quen được với những bạn theo Tây học là các ông Phạm Duy Tốn, Phạm Huy Lục, Trần Trọng Kim v.v…

Năm 1906, Pháp tổ chức dự cuộc đấu xảo (hội chợ triển lãm thuộc địa) ở thành phố Marseille (Exposition Coloniale de Marseille, 15 avril – 15 novembre), phủ thống sứ giao hết công việc cho đốc lý Hà Nội, và Hauser lại cũng khoán hết cho ông những đề án thu thập sản phẩm hàng hóa để trưng bầy, tuyển thợ đi sang Marseille dựng gian hàng, v.v… (Trong dịp này, ông Trần Trọng Kim được tuyển sang Pháp với danh nghĩa “thợ khảm”, sau hội chợ được ở lại Pháp học đại học sư phạm).

Chưa hết, Hauser còn cho Nguyễn Văn Vĩnh, lúc đó vừa đúng 24 tuổi, tháp tùng sang Pháp dự hội chợ, nhờ đó ông được tận mắt thấy nền văn minh của một nước tiên tiến phương Tây. Hội chợ kết thúc, trong một tháng trời, Hauser đưa ông đi khắp Paris tìm hiểu phong trào báo chí Pháp, thăm các nhà in và báo Revue de Paris, nhà xuất bản Hachette, nhà soạn và in từ điển Larousse… (Năm 1922, Nguyễn Văn Vĩnh lại tham dự Hội Chợ Thuộc Địa Marseille, Exposition Nationale Coloniale, lần này có hai ông Phạm Quỳnh và Phạm Duy Tốn tháp tùng trong phái đoàn do có vua Khải Định hướng dẫn).

Thấu triệt nền dân chủ Pháp (ông là người Việt Nam đầu tiên gia nhập Hội Nhân Quyền Pháp) và hiểu được sức mạnh của báo chí, về nước, ông xin thôi ngạch quan chức, chuyển sang làm báo và nghề in. Ông quyết định từ bỏ búi tó và khăn xếp, bỏ áo dài quần là, mặc áo quần Âu, đội mũ cát, tóc húi cua, đi giầy da, lái xe môtô hiệu Terrot mang từ Pháp về, và lấy bút danh là Tân Nam Tử tức Người Nam Mới. Ông chủ trương dùng chữ Quốc ngữ, làm chủ bút các báo tiếng Việt đầu tiên dùng chữ quốc ngữ như Lục Tỉnh Tân Văn (Sài Gòn), Đăng Cổ Tùng Báo, Đông Dương Tạp Chí (Hà Nội), Trung Bắc Tân Văn (nhật báo Việt ngữ đầu tiên ở đất Bắc) và tờ Học Báo. Đồng thời ông cũng là chủ bút các báo tiếng Pháp Notre Journal, Notre Revue, L’Annam Nouveau… Ông vay tiền nhà băng cùng người bạn thân Emile Vayrac, lúc đó là Quản Lý Thuộc Địa (Administrateur Colonial) dựng lên tòa soạn báo L’Annam Nouveau và nhà xuất bản Âu Tây Tư Tưởng (La Pensée de l’Occident, ở đầu phố Hàng Gai chạy dài về phía Thủy Tạ, trông ra bồn phun nước Bờ Hồ), có thêm một “khách sạn riêng” (hôtel particulier) tại phố Hàng Trống, nơi gặp gỡ giao du của những tao nhân mặc khách và những người có máu mặt của Hà thành.

120802_apphichquangcao

Ngoài công việc báo chí, in ấn Ông Vĩnh cũng đã bỏ ra rất nhiều công sức cho việc dịch thuật nhiều tác phẩm tiếng Pháp ra Quốc ngữ và ngược lại. Câu nói bất hủ của ông hồi ấy được in ở các bìa sách do ông xuất bản là “Nước Nam ta mai sau này hay dở cũng ở chữ Quốc ngữ”. Ông và lớp trí thức thế hệ ông đã làm cuộc cách mạng chữ viết thành công hồi đầu thế kỷ. Nhờ ông mà chữ Quốc ngữ đã đánh bại chữ Hán và chữ Nôm, trở thành chữ viết của toàn dân tộc. Ông Vĩnh thành lập Hội Dịch Sách ngày 26/6/1907 ở Hội Trí Tri Hà Nội, những công trình dịch thuật tiêu biểu của ông gồm có:

– Dịch từ Pháp văn sang Việt văn: Thơ Ngụ Ngôn (Les Fables de La Fontaine) của Jean La Fontaine, Truyện Trẻ Con (Contes de Perrault) của Charles Perrault, Ba Chàng Ngự Lâm Pháo Thủ (Les Trois Mousquetaires) của Alexandre Dumas (24 quyển), Những Kẻ Khốn Nạn (Les Misérables) của Victor Hugo, Miếng Da Lừa (La peau de Chagrin) của Honoré de Balzac, Guy-live Du Ký (Les Voyages de Gulliver, nguyên tác Gulliver’s Travels) của Jonathan Swift, kịch của Molière: Trưởng Giả Học Làm Sang (Le Bourgeois Gentilhomme), Giả Đạo Đức (Tartuffe), Người Bệnh Tưởng (Le Malade Imaginaire), v.v…

– Dịch từ tiếng Việt sang tiếng Pháp: Kim Vân Kiều tân điển Pháp văn của thi hào Nguyễn Du, đăng từng kỳ trên Đông Dương Tạp Chí và L’Annam nouveau, sau này in thành sách. Khi còn làm chủ bút tờ Đăng Cổ Tùng Báo, ông đã cùng ôngPhan Kế Bính dịch truyện Kiều từ chữ Nôm ra chữ Quốc ngữ, in thành sách rẻ tiền nhằm truyền bá chữ Quốc ngữ. Ông còn bỏ tiền thuê đoàn tuồng Quảng Lạc diễn Kiều để quay phim. Ông bỏ nhiều công sức dịch truyện Kiều sang tiếng Pháp chính là muốn giới thiệu ngôn ngữ văn học Việt Nam với nước Pháp và thế giới. Ông đã từng viết: “Nước Annam ta đã bị mất bởi những người trí thức chỉ biết làm văn học Tầu, chúng ta hãy cố gắng để không trở thành những người trí thức chỉ biết làm văn học Pháp”. (L’Annam a été perdu par les lettrés qui n’avaient fait que de la littérature chinoise, tâchons de ne pas devenir des lettrés qui ne font que de la littérature française.

– Notre Journal (1908). Trong suốt 30 năm hoạt động văn học của đời mình (1906-1936) ông Vĩnh đã dịch đi dịch lại Truyện Kiều ra tiếng Pháp tất cả là 3 lần:
1- 1908-1910 dịch và giới thiệu trong báo Notre Journal và Notre Revue.
2- 1913-1917 dịch lại và in tải trong Đông Dương Tạp Chí.
3- 1933-1936 dịch lại lần cuối cùng, theo bản Kiều Quốc ngữ của Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim, in tải trong L’Annam Nouveau.

Đến năm 1943, 7 năm sau khi ông mất, nhà xuất bản Alexandre de Rhodes in thành sách, do họa sĩ Mạnh Quỳnh minh họa.

Ngoài ra ông còn viết nhiều bài tiếng Pháp giới thiệu về phong tục tập quán của người Việt Nam đăng trên L’Annam Nouveau như bói lá, bói trầu, tục lệ cưới xin, ma chay, v.v…

– Dịch từ chữ Hán sang tiếng Pháp: Tiền Xích BíchHậu Xích Bích, là những áng văn hay của văn học Trung Quốc đăng trên Đông Dương Tạp Chí, để những người Pháp làm quen với văn học phương Đông. Những công trình của ông Nguyễn Văn Vĩnh đã thực hiện ở nửa đầu thế kỷ XX có tầm cỡ của một học giả, một nhà văn hóa lớn. Nhà phê bình Vũ Ngọc Phan đã viết về ông như sau: “Nguyễn Văn Vĩnh là một người rất có công với quốc văn, nhưng không phải chỉ nhờ ở những sách dịch trên này mà ông có công ấy. Ông có công lớn với quốc văn là vì ông đã đứng chủ trương một cơ quan văn học vào buổi mà đối với văn chương, mọi người còn bỡ ngỡ. Ông lại hội họp được những cây bút có tiếng, gây nên được phong trào yêu mến quốc văn trong đám thanh niên trí thức đương thời, vì ngoài một vài quyển tạp chí có giá trị, thanh niên hồi xưa không làm gì có những sách quốc văn như bây giờ để đọc. Mà Đông Dương Tạp Chí hồi đó như thế nào? Người Tây học có thể thấy trong đó những tinh hoa của nền cổ học Trung Hoa mà nước ta đã chịu ảnh hưởng lâu đời; người Hán học có thể thấy trong đó những tư tưởng mới của Tây phương là những tư tưởng mà người Việt Nam ta cần phải biết rõ để mà thâu thái. Những bài bình luận, những bài tham khảo về Đông phương và Tây phương đăng liên tiếp trong Đông Dương Tạp Chí, ngày nay giở đến, người ta vẫn còn thấy là những bài có thể dựng thành những bộ sách biên tập rất vững vàng và có thể giúp ích cho nền văn học Việt Nam hiện đại và tương lai” (Nhà Văn Hiện Đại, Quyển nhất, tr. 57, NXB Vĩnh Thịnh Hà Nội).

Làm ăn lỗ lã, ông bị vỡ nợ, phải đi sang Lào đào vàng, và chết vì một cơn sốt rét ác tính, trong một chiếc thuyền độc mộc, trên dòng sông Sêbăngghi, với một chiếc quản bút trong tay, đang viết dở thiên ký sự bằng Pháp văn đăng tải trên báo L’Annam Nouveau: “Một tháng với những người tìm vàng” (Un mois avec des chercheurs d’or), ở tuổi 54, vào đúng ngày 1/5/1936. Ngoài nghiệp văn, nghiệp báo, ông Vĩnh còn tham gia chính trị, từng giữ nhiều chức vụ trong nền hành chánh của chính phủ bảo hộ, là hội viên của Hội Đồng Thành Phố Hà Nội, Hội Đồng Tư Vấn Bắc Kỳ, Đại Hội Nghị Đông Pháp…

Đây là thứ chính trị thời đó bị cho là vong bản mà thực dân đã cố tình đưa ra làm lợi khí trong việc thống trị, thế nên ông Vĩnh bị các nhà cách mạng cho là tay sai thực dân. Nhưng chính ông cùng với bốn người Pháp đã viết đơn gửi chính quyền Đông Dương phản đối việc bắt giữ cụ Phan Chu Trinh và ông cũng là người Việt Nam duy nhất đã hai lần từ chối huân chương Bắc đẩu bội tinh của chính phủ Pháp ban tặng. Nguyễn Văn Vĩnh cùng với Phạm Quỳnh (1892-1945), Phạm Duy Tốn (1883-1924) là những nhà văn, những nhà học giả có công rất lớn trong việc phát huy những khả năng tiềm tàng của Việt ngữ, xây dựng một nền móng vững chắc, bồi bổ cho Quốc văn với những tinh hoa rút tỉa trong tư tưởng và học thuật Âu Tây.

Lê Nguyên Dũng

Bài viết này đăng trên trang web daiviet.org

Nguồn bài dẫn: http://www.thivien.net/forum_viewtopic.php?ID=1171

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *