“Về việc bầu hội-viên thành phố” – Đăng cổ tùng báo, số ra ngày thứ Năm 25/4/1907

Lời dẫn

 

Nhân dịp trang thông tin điện tử chính thức về cuộc đời và sự nghiệp của học giả Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936) đón người truy cập thứ 5.000, sau 45 ngày khai trương, Ban Biên tập xin bày tỏ lòng tri ân với độc giả và xin gửi tặng các độc giả của mình bài viết về công việc bầu cử hội viên Hội đồng thành phố Hà Nội đăng trên tờ báo tiếng Việt đầu tiên ở Bắc kỳ năm 1907 và được chính thức ký tên Nguyễn Văn Vĩnh. Bài báo này là một trong khoảng 3.000 bài mà Nguyễn Văn Vĩnh đã dâng hiến cho bạn đọc trong suốt cuộc đời làm báo, nhưng đây là bài đầu tiên ký bằng tên khai sinh.

“Đăng cổ tùng báo”,theo ngữ nghĩa Hán-Việt được hiểu thuần Việt với nội dung là “Khêu đèn gióng trống”. Việc tờ báo mang nhan đề này hoàn toàn phù hợp với bối cảnh ra đời của phong trào Đông kinh nghĩa thục do chí sỹ Phan Châu Trinh khởi sướng với chủ trương chiến lược là: Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh! Quan điểm chính trị của Phan Châu Trinh và Nguyễn Văn Vĩnh (người đồng chí số Một )(1) vào đầu thế kỷ 20, khi dân tộc Việt Nam ở vào bối cảnh cực kỳ lạc hậu và hết sức u tối, hậu quả của lối sống phong kiến kéo dài. Theo Phan Châu Trinh và Nguyễn Văn Vĩnh, thực trạng này là nguyên nhân sâu xa đẩy đất nước Việt Nam vào cảnh nghèo nàn về vật chất và khốn khổ về trí tuệ. Để thoát khỏi tình cảnh đó, Nguyễn Văn Vĩnh đồng thuận triệt để với Phan Châu Trinh rằng, hãy làm tất cả để người dân có được tri thức, khi người dân có được tri thức, họ sẽ tự định đoạt được số phận của mình và biết cách chống lại sự bất công cũng như cường quyền đến từ bất cứ đâu.

Bài báo chúng tôi gửi tặng các độc giả, là minh chứng sinh động cho lý tưởng “khai dân trí” của Nguyễn Văn Vĩnh, khi người thanh niên này mới có 25 tuổi. Chúng tôi xin được trình bày nguyên văn để các độc giả yêu mến ngôn ngữ tiếng Việt có cơ sở nhìn nhận chữ Quốc ngữ vào giai đoạn chưa được chấp nhận ở Việt Nam, được một người mệnh danh là nhà cách mạng chữ Quốc ngữ trong lịch sử văn hóa Việt Nam, sử dụng như thế nào?! Chúng tôi cũng muốn dành cho các độc giả chuyên nghiên cứu về đời sống dân sự ở Bắc kỳ một góc diễn biến các hoạt động xã hội thời kỳ đầu thế kỷ 20. Chúng tôi cũng mong muốn đem đến cho các độc giả cơ sở nhìn thấy một khía cạnh trong tư duy của Nguyễn Văn Vĩnh về sự nhận thức thế nào là Tự do – Bình đẳng – Bác ái, hệ quả quan trọng mà Nguyễn Văn Vĩnh tiếp thu được từ cuộc Cách mạng Công xã Paris 1789.

Để kết thúc bài dẫn này, chúng tôi xin được trích đoạn ý kiến đánh giá của nhà chí sỹ Nguyễn Văn Tố (1889-1947) viết về Nguyễn Văn Vĩnh sau khi Nguyễn Văn Vĩnh qua đời năm 1936 như sau: “… Nguyễn Văn Vĩnh không bao giờ chịu ký tên mình vào một công trình mà không xứng với cái giá trị chân xác của nó. Dù đã tổ chức được nhiều buổi thuyết trình bằng cả tiếng Pháp lẫn tiếng Nam, cho dù nhiều bản thuyết trình có giá trị, song chúng vẫn khó có thể sánh được với những nghiên cứu của ông về các thiết chế, các phong tục và tập quán của vùng Bắc kỳ. Được khởi công nghiên cứu từ khi ông mới 25 tuổi và được tiếp tục gần như không nghỉ cho tới khi ông chết, những công trình này đã đẩy cuộc đời ông lúc nào cũng sống trong sự sung mãn, và hơn bất kỳ một công trình nào khác, vì sự nghiệp sôi động ấy đã làm lan tỏa danh tiếng của ông vượt khỏi phạm vi Bắc kỳ…” (2).

——————————————————————–

Đăng cổ tùng báo,số ra ngày thứ Năm 25/4/1907

Về việc bầu hội-viên thành phố”

Thành-phố Hà-nội với thành-phố Hải-Phòng đặt ra theo như thành- phố bên Đại-Pháp, đã lâu. Phàm những việc công ở trong thành-phố thì do ở mấy ông Hội-viên định ra, như: thuế phải thu những thứ gì, mỗi thứ bao nhiêu, như làm nhà hát, đổ đá đường, làm cống: cũng do mấy ông Hội-viên ấy định cả. Quan Đốc-lý với tòa Đốc-lý, thì chỉ để thi hành những nhời Hội-viên định mà thôi, chớ không có quyền tự định.

Mà mấy ông Hội-viên ấy: ở Hà-nội ta thì có 12 ông Tây và 4 ông An-nam, là bởi tự dân thành phố cử lên. Những người nào có nhiều nhà nhiều đất, hoặc nộp sưu-thuế từ 15 đồng dở lên, các ông khoa-mục từ 21 tuổi dở lên, quan ta từ tòng thất phẩm dở lên, thông-phán ký-lục thọ hạng ba dở lên, thì đều có quyền đi cử Hội-viên cả.

Những người được bầu lên làm Hội-viên là những người thông-minh, người buôn bán nhớn, hoặc có nhà cửa, từ 27 tuổi sắp lên, mà thành-phố tin phục, ai ai cũng cho là người có thể trông nom việc lợi hại cho dân được.

Cứ ba năm lại có một lần bầu lại, để phòng ngộ thành-phố có bầu nhầm chăng. Vì lắm ông lúc mới trông ra bộ-giạng ai cũng tưởng là rỏi-rang, nhưng đến lúc bầu ra làm Hội-viên, thì không làm được điều gì có ích cho hàng-phố, những ông ấy, hết hạn ba năm, dân thành-phố lại kén người khác để cử vào thay.

Cái hạn ba năm ấy đến hôm 23 tháng Ba ta này thì hết, hôm ấy lại bầu mười hai ông Hội-viên Hội-viên Tây với bốn ông Hội-viên An-nam khác lên thay. Như mấy ông trước mà làm cho thành-phố được nhờ nhiều, thì lại bầu các ông ấy lên làm khóa nữa, nhược bằng hàng-phố tính ra có chách ông nào điều gì thì lại cử ông khác ra thay.

Như 12 ông Hội-viên Tây thì đã có dân tây cử, đây chúng tôi không phải nói đến, duy có việc bầu bốn ông Hội-viên An-nam, thì chúng tôi thiết tưởng nên nói cho rõ cái nhẽ bầu-cử là thế nào, để trong hàng-phố ai ai cũng biết, kẻo nhầm thì hại việc thành-phố. Thuế nặng nhẹ bởi ở đây, dân được công-minh hay bị uất-ức cũng vì đây. Được người Hội-viên rồi thì thấy thứ thuế gì nặng quá, khoản chi tiêu gì phao-phí quá, dân hay bị điều gì phiền nhiễu lắm, thì lấy nhẽ phải mà nói để đối lại: tuy các ông Hội-viên Tây thì đông hơn Hội-viên An-nam thật, những nhời nói có lý thì ai cũng phải nghe. Chẳng may mà gặp phải bốn ông dở, học hành ít, nghĩa lý không biết gì, tiếng tây nói không được, người ta bàn điều gì không biết mà nghe, Hội-đồng đương bàn đến điều này lại nói điều kia, thế thì dẫu các ông ấy muốn cãi lợi hại cho dân cũng không, biết cách nói cho phải, người ta nghe không lọt vào tai được. Gặp phải ông Hội-viên dốt còn khá, nhưng vô phúc gặp phải người chỉ mong làm quan, mong được phẩm hàm, mề đay, thì có khi chỉ hại thành-phố, vì dân bầu các ông ấy lên cũng như là để trông lợi dân với lợi Nhà-nước, mà ông ấy có ý muốn được thưởng hàm, thì tất phải nhác việc lợi dân, chỉ cốt làm thế nào cho Nhà-nước bằng lòng mà thôi.

Cứ như thế thì cái quyền bốn ông Hội-viên mình cử lên là to thật, nhưng quyền ấy cũng là hàng-phố giao cho, phải làm cho hàng phố được nhờ thì mấy xứng đáng được quyền dân giao cho.

Bây giờ nhân đến kỳ bầu, chúng tôi phải nói điều này ấy cho kỹ, và cái cách đi bầu thế nào xin nói rõ ra sau này, để ai ai đều biết:

Người nào được đi bầu thì tòa Đốc-lý sẽ giao cho một tờ giấy có tên họ cùng nghề-nghiệp. Giấy ấy gọi là vé đi bầu ( carte d’électeur). Có vé ấy thì mới được đi bỏ giấy bầu.

Bầu tại tòa Đốc-lý, ở buồng hội-đồng, đã định ngày 5 mai ( là ngày 23 tháng ba An-nam), cả buổi sáng, từ bẩy giờ đến 11 giờ, ai muốn đến bầu lúc nào cũng được, mà chỉ bỏ vé xong rồi thì về ngay, chớ không phải chờ đợi gì cả.

Muốn bầu cho ai thì phải nghĩ từ nhà, xem người nào là thông-minh, có danh dá, có am hiểu luật phép, tùy ý mình muốn trọn ai thì trọn, không ai bắt được mình. Định bầu ai thì viết tên người ta vào một mảnh giấy trắng nhỏ, rồi gập kín lại cứ việc mang vào tòa Đốc-lý, và cả cái giấy tòa phát đi nữa. Hôm ấy thì tòa Đốc-lý là như chỗ chợ, ai đi bầu được quyền vào tận nơi, chẳng ai hỏi, chẳng ai dám nạt dọa gì cả.

Mà sự đi bầu là một cái bổn-phận của người dân. Không đi bầu, đến lúc việc thành-phố dở-dang, thuế nặng, cũng là tại đó, đáng nhẽ không có quyền kêu nữa. Hóa cho nên tôi khuyên các ông, ai đã có vé đi bầu thì phải đi cho, mà trọn cho kỹ, kẻo gập người Hội-viên không ra gì rồi sau hại việc thành-phố.

Tất thiên-hạ cũng nhiều người dốt nhưng hiếu danh, chẳng biết gì mà lại muốn làm quan Hội, tất họ cũng đi khấn vái van nài, xin các ông đừng nghe, cứ bụng mình mà trọn cử.

Có người họ dùng cách tà gian để làm Hội-viên, hoặc đi kêu van thu lấy vé bầu, để mượn người khác đi bầu, hoặc đi xin mấy ông Phố-trưởng, dọa dẫm người ta nói là thân với quan nọ quan kia, để cho các ông sợ rồi họ bảo làm gì cũng phải làm, thì xin các ông đừng có nghe.

Quan Đốc-lý ngài minh lắm, chớ ngài không dong kẻ gian đâu. Ngài cũng đã biết cái cách gian xưa nay, hóa kỳ này ngài phải sai phu-lit đi phát vé bầu từng nhà, Xin ông nào được vé cứ giữ lấy, đến hôm đi bầu thì thân-trinh đi lấy, chớ đừng giao cho ai mà trái luật có khi quan trên bắt phạt được.

Những người dân bầu lên được là những người nào có tên ở sổ tuyển-cử, như chắc các ông cũng không xem sổ ấy, cho nên chúng tôi xin kê thử ra đây vài mươi tên, cứ theo thứ tự như trong sổ tuyển-cử để các ông chọn. Trong những ông làm rồi thì xin các ông cứ xét cho kỹ, có ông nào đã làm được việc gì lợi cho dân thì xin lại cử lần nữa.

MM.Bạch-thái-Bưởi, buôn bán to;

Đinh-Trân,

Đỗ-trọng-Thuật, nguyên Thương-tá tỉnh Bắc-ninh;

Đỗ-Thận, bán sách, làm Nhật-báo;

Đỗ-đình-Thuật, thông-ngôn Trạng-sư

Đỗ-đình-Thanh, nguyên Tri-châu;

Đào-huống-Mai, bán đồ khảm;

Hà-duy-Thành, nguyên Tri-huyện;

Lê-Thuận, bán đồ bạc;

Mic-ký, làm nghề ảnh;

Mỹ-Thanh, bán đồ bạc và đồ thêu;

Nguyễn-kim-Lân, buôn bán với Nhà-nước;

Nguyễn-văn-Giệm, ————-

Nguyễn-lý-Thướng, ————-

Phạm-văn-Khoan, bán đồ thêu;

Trịnh-văn-Duệ, buôn bán với Nhà-nước;

Trần-viết-Soạn, ————-

Vĩnh-Bảo, vẽ kiểu, và nhận khoán nhà cửa;

Văn-tích-Thiện, bán đồ thêu;

Vương-vĩnh-Tuy, nguyên hội-viên thành phố.

Mấy ông ấy chúng tôi kê ra để thí dụ, song hàng-phố có biết ông nào rỏi hơn, mà cử ra thì càng hay lắm.

Sau hết lại xin nhắc các ông một điều nữa: Hôm bầu có người gian hay đứng cửa tòa Đốc-lý để xem vé bầu, hễ có ai hỏi xem xin các ông đừng cho xem. Mà xin đừng có sợ người nào dọa dẫm gì cả.

Xin các ông chịu khó đi bầu cho. Thành-phố có nhiều người đi bầu, thì nhời nói của ông Hội-viên ta mới có phong thế, bàn việc lợi hại thành-phố, Nhà-nước mới tin nghe.

Chịu mất ba su xe xuống Đốc-lý, thì nay đỡ được chầu chực hàng tháng để kêu-oan, hay kêu thuế nặng.

N.V.V.

120724_en.nguyenvanvinh_thumb.png

120724_uhoivientannamtu_thumb.png

———————————————

Chú thích:

(1) Lời phát biểu của cơ quan Tỉnh ủy Quảng Nam (quê hương Phan Châu Trinh) trước giờ khai mạc xem bộ phim tài liệu “Mạn đàm về Người Man di hiện đại”, tháng 11 năm 2007.

(2) Dịch từ nguyên văn tiếng Pháp.

Người dịch: nhà giáo Phạm Toàn.

Hiệu đính: nhà văn Nguyên Ngọc.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *