Để có được một nơi thắp hương

 

Như chúng tôi đã đưa tin trong bài “Hành trình các sự kiện chính trong 10 năm của đề tài Nguyễn Văn Vĩnh – Cuộc đời & Sự nghiệp, tính từ buổi tọa đàm đầu tiên 20 /6/2012”, chúng tôi sẽ lần lượt giới thiệu đến quý độc giả các nội dung chi tiết của từng sự kiện trong bảng thống kê đã dẫn, kèm theo phần minh họa bằng những tư liệu hiện có, hy vọng các quý vị độc giả sẽ hiểu rõ hơn về gia tộc của con người được lịch sử mệnh danh là “Người công dân vĩ đại”. Bài thứ ba (trong mục sự kiện thứ 3), sẽ là những gian nan mà gia tộc họ Nguyễn đã phải trải qua để có thể có được một nơi thắp hương cho những người đã khuất trong dòng tộc.

 

ĐỂ CÓ ĐƯỢC MỘT NƠI THẮP HƯƠNG

Những năm 40 của thế kỷ trước, sau khi Nguyễn Văn Vĩnh qua đời (1936), người con dâu cả là bà Trần Thị Kim (vợ bác sỹ Nguyễn Hải 1901-1938 ), tuy chồng đã mất, nhưng với bản chất con nhà được giáo dục, hiểu rõ phận dâu cả, đã cùng với mẹ chồng là cụ bà Nguyễn Văn Vĩnh và gia đình Nguyễn Phổ (con trai thứ 5) quyết định bỏ tiền mua ngôi nhà 25 phố Nguyễn Gia Thiều, Hà Nội. Ngoài mục đích để có chỗ ở ổn định đồng thời sẽ lấy đây là nhà thờ Họ Nguyễn cho lâu dài. Theo tập quán ngàn đời của người Việt, dù người đàn ông có đến bao nhiêu thê thiếp đi nữa thì việc thờ cúng tổ tiên của nhà chồng vẫn đặt lên vai người vợ cả, cụ bà Nguyễn Văn Vĩnh thấu hiểu điều này.

Sau tang cụ ông, gia đình ly tán, cộng với cuộc chiến tranh với Pháp ngày càng ác liệt, người con trai thứ ba là Nguyễn Dương đã từ lâu vào Nam sinh sống, những người con trai khác của cụ Vĩnh nhiều người đi kháng chiến, mang theo hầu hết những gì dành dụm được trước đó. Ở lại Hà Nội còn người con trai thứ Nguyễn Giang và người con trai út Nguyễn Hồ. Năm 1954, kháng chiến chống Pháp kết thúc, các con trai của học giả Nguyễn Văn Vĩnh từ kháng chiến trở về, hầu hết đều trong tình trạng kiệt quệ về tài chính, còn nói gì đến nhà cửa, tiền bạc. Người nào cũng đặt hy vọng vào mẹ… Dù không còn tiền để trợ giúp con cái, song chí ít cụ bà Nguyễn Văn Vĩnh còn có mái nhà để con, cháu tá túc, nhất là khi có lễ, tết, giỗ chạp. Lúc này, duy nhất còn gia đình Nguyễn Phổ vẫn ở cùng cụ bà Vĩnh, vui mừng vì ông Phổ sau những năm hoạt động tình báo vẫn an toàn trở về. Oan trái thay, được vài tháng sống trong yên bình, tháng 9 năm 1955, khi Nguyễn Phổ, nhà tình báo nội tuyến của Cục Tình báo Bộ Quốc phòng, sau những năm hoạt động cách mạng trở về lành lặn và vui vầy bên mái ấm với mẹ và gia đình thì bị cơ quan Công an của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có lệnh bắt đi tù1 và, ngôi nhà 25 Nguyễn Gia Thiều của mẹ và chị dâu cũng bị liên lụy. Cơ quan quyền lực đã ra lệnh tịch thu ngôi nhà này! Trận “bão” kinh hoàng này đã làm đổ xập cả một gia tộc, đẩy toàn bộ gia đình Nguyễn Phổ vào hang cùng, ngõ cụt đã đành, nhưng cũng đẩy cả người mẹ già cùng những người ruột thịt vào chỗ phân ly, hoảng hốt và khủng hoảng cả tinh thần lẫn tình cảm. Chưa bàn đến những chi tiết đối với những gia đình người thân, mà chỉ dám nói đến tình cảnh của cụ bà Nguyễn Văn Vĩnh trong những năm tháng cùng cực này cũng thấy nao lòng đến vô cùng…

 

Có lẽ, tạo hóa không lấy hết của ai, chí ít, ai trong cảnh ngộ đó cũng phải tìm chỗ để bấu víu, và đó là người con trai thứ hai, nhà thơ Nguyễn Giang2. Lúc này ông Giang trở thành con trưởng, vì người anh cả là bác sỹ Nguyễn Hải đã qua đời. Nhờ những gì còn lại, từ nhiều năm trước đó, ông bà Giang còn được ở thuê ngôi nhà 59 phố Trần Quốc Toản, Hà Nội. Ngôi nhà không to, xong cũng chẳng nhỏ, đủ để cụ bà Vĩnh có một phòng làm chỗ thờ những người đã khuất của gia tộc và cũng là nơi con cháu trong nhà tề tựu khi có công to, việc lớn… Nhưng, cũng lại chẳng được bao năm!

Năm 1963, chính quyền thành phố Hà Nội lại có lệnh yêu cầu ông bà Nguyễn Giang chuyển đi nơi khác để lấy ngôi nhà cho mục đích công vụ. Ông bà Giang được đưa đến ở trên tầng 2 ngôi nhà số 119 phố Triệu Việt Vương, Hà Nội, nhưng vì diện tích hơi nhỏ (40m2) nên chính quyền thành phố đã cấp thêm 24 m2 cho cụ bà Nguyễn Văn Vĩnh ở tầng 2 số nhà 34 phố Lê Đại Hành, Hà Nội. Thật là bài toán quá khó cho một gia tộc! Khó bởi lẽ, cụ bà Vĩnh lúc này đã ngoài tám mươi tuổi, làm sao ở một thân một mình? Các con trai thì người đi tù, người từ kháng chiến về, hầu như mọi người còn đang trấn tĩnh lại sau bao cuộc bể dâu trong kháng chiến trường kỳ 9 năm. May mắn như ông Nguyễn Kỳ (con trai thứ 6), là cán bộ cao cấp của trường Trung cấp Kiến trúc cũng chỉ được 18m2 nhà tập thể, mà mãi trong Hà Đông (thời ấy, nói đến Hà Đông là tỉnh khác rồi, xa lắm…). Nguyễn Hồ, con trai út ở nhờ nhà vợ, rồi Nguyễn Dực, con trai thứ 7, tiếng là cán bộ kháng chiến trở về, là cán bộ giảng dạy của trường đại học lớn nhất cả nước, Đại học Bách khoa, cũng ở nhờ nhà vợ… Còn nhiều cái khó nữa, viết mãi chẳng hết… Mẹ già sẽ ở với ai?!

Phàm ở đời, nói vậy rồi cái gì cũng phải tìm được đường thoát, không lẽ còn đến 5 người con trai mà mẹ già không biết ở với ai?!

Năm 1954, Nguyễn Dực sau 9 năm kháng chiến trở về, là người bôn ba theo cách mạng từ trước tháng 8/1945, người đã đem toàn bộ tài sản cá nhân xây dựng Đài Tiếng nói Việt Nam3, người rời Hà Nội theo kháng chiến đúng cái đêm 19/12/1946, đem theo tất cả những gì còn lại của cửa hàng Radio Nguyễn Dực ở 43a phố Đồng Khánh (sau đổi là phố Hàng Bài), được mệnh danh là cửa hàng Radio lớn nhất Bắc kỳ thời Pháp thuộc, hành quân vào khu Bốn để lắp ráp và xây dựng Đài Phát thanh Liên khu Bốn theo yêu cầu của Chính phủ, mà một thời người ta hay nói: “Theo yêu cầu của Cách mạng!”, rồi lên chiến khu Việt Bắc… và rồi lại là người trở về Hà Nội đúng cái buổi sáng ngày 10/10/1954. Nhưng không tìm đâu ra chỗ ở. Mỗi năm lại ở nhờ mỗi người thân dăm bữa… Năm 1957, khai giảng trường Đại học Bách khoa, ông được gọi từ Đài Tiếng nói Việt Nam về trường làm giảng viên khoa Vô tuyến điện. Đến lúc này, thấy vất vưởng mãi sao được, vậy làm sao ổn định chỗ ở để còn đi làm, ông đành quyết định nói khó với bố mẹ vợ, chính là chủ ngôi nhà 43a Hàng Bài4 để xin một chỗ ở lâu dài. Bố mẹ vợ rộng lòng chia sẻ, cho gia đình ông Dực ở tạm một phòng nhỏ 10m2. Năm tháng trôi đi, các em vợ lớn lên rồi cũng phải có gia đình, ông bà nhạc đã giao cho gia đình Nguyễn Dực ở cùng với người em gái của vợ mới lấy chồng, một căn phòng 40 m2. Hai chị em, hai gia đình đành dùng tấm liếp đan bằng nứa ngăn đôi, nói là ngăn đôi nhưng gia đình ông Dực được phần hơn vì lúc đó đã có đến 5 mặt con, còn gia đình em vợ mới có 1 con. Vậy là 40 m2 dành cho 10 nhân khẩu. Những thời gian đầu, còn được gọi là ở nhờ nhà vợ, chứ từ năm 1959, do chính sách Công tư Hợp doanh, theo quy định, chủ nhà chỉ được giữ lại 1/3 tổng diện tích của bất động sản do mình sở hữu, còn lại sẽ do Nhà nước quản lý. Căn phòng 40m2 mà gia đình ông Dực và gia đình người em vợ cùng sử dụng nằm trong diện tích quản lý của Nhà nước, hàng tháng phải trả tiền thuê nhà. Từ chỗ “nhờ” đến chỗ “thuê” chỉ một sớm, một chiều.

Ông Nguyễn Dực đã quyết định thương thảo với gia đình người em vợ để gia đình người em vợ chấp nhận chuyển xuống ở số 34 phố Lê Đại Hành, dùng diện tích 24 m2 của cụ bà Nguyễn Văn Vĩnh theo phân bổ của chính quyền, nhờ đó, cụ bà Vĩnh sẽ về ở với gia đình ông bà Dực. Nhất cử lưỡng tiện, ông Dực vừa chăm sóc được mẹ già, vừa được ở rộng hơn, mà gia đình người em vợ cũng được ở rộng rãi, độc lập hơn. Vậy là ông Dực vừa được ở với mẹ đẻ, lại được ở cùng bố mẹ vợ, hạnh phúc quá!!!

Chuyện thờ cúng tổ tiên từ đây giao cả cho vợ chồng ông Nguyễn Giang ở 119 phố Triệu Việt Vương. Mọi việc cũng không được mấy đỗi. Năm sau, 1964 bắt đầu chiến tranh phá hoại, ai cũng phải nghĩ tới chuyện đi sơ tán. Nan giải với toàn xã hội, chẳng riêng nhà ông Dực, mọi người trong gia đình, quyết định đưa cụ bà Vĩnh về làng Phượng Dực, quê hương của cụ ông, cách Hà Nội 35 km. Dù gì về làng còn ngôi nhà hương hỏa từ thời các cụ, lại có họ hàng xa, đồng thời cũng là việc chấp hành chủ trương giảm bớt mật độ dân cư nơi đô thị, hạn chế thương vong, thôi thì cũng là giải pháp. Được 1 năm, 1965 cụ bà Vĩnh qua đời. Vậy là 65 năm cụ bà đi lấy chồng, mãi đến năm cuối của cuộc đời mới được về làm dâu quê chồng.

Quay lại chuyện bàn thờ tổ tiên. Năm 1969, ông Nguyễn Giang cũng qua đời. Ông bà Nguyễn Giang không có con. Bà Giang vẫn chăm chỉ hương khói ngày rằm, mồng một và giỗ Tết. Cuối năm 1979, bà Giang quyết định chuyển vào Sài Gòn sống với gia đình người con nuôi. Bà bán căn phòng ở 119 phố Triệu Việt Vương, thế rồi từ đây, cứ đến ngày giỗ của những người thân trong gia tộc, các thành viên còn lại của gia đình cụ Vĩnh ở Hà Nội cứ tùy cơ ứng biến. Than ôi, cho đến năm tháng này, chưa tính ngày giỗ của các bậc sinh thành ra học giả Nguyễn Văn Vĩnh, chỉ tính riêng trong gia đình cụ Vĩnh, mỗi năm cũng đã có đến cả chục đám giỗ, đặc biệt có đến 5 cái giỗ là người trẻ, chưa lập gia đình và không có con, người đời bảo: những vong hồn ấy luôn mong được người trần hương khói!

Ông Nguyễn Phổ, sau 17 năm chịu tù oan, được Bộ Quốc phòng cấp cho căn hộ 36m2 trên khu tập thể Nghĩa Tân, ông ở cùng với gia đình người con trai thứ có 4 thành viên. Ông Nguyễn Kỳ sau khi thôi không sống ở khu tập thể của Trường Kiến trúc tại Hà Đông cũng quay về ở nhờ đất nhà vợ mãi làng Hoàng mai. Ông Nguyễn Dực, tuy ở nhà thuê của nhà nước, song lại cũng chính là đất của nhà vợ. Ông Nguyễn Hồ từ xưa đã ở nhà vợ ở phố Quang trung, sau này vẫn thế.

Phong tục, tập quán người Việt, ai cũng biết việc lập bàn thờ cha mẹ mình ở nhà vợ là điều mấy ai làm?! Đó là chưa nói đến có một thời, việc hương khói còn bị coi là “mê tín dị đoan”, đặc biệt những người con trai còn lại ở Hà Nội của cụ Vĩnh đều là cán bộ nên càng phải gương mẫu! Ấy là chưa nói đến cảnh khánh kiệt, bần hàn. Giỗ chạp là một tập quán thể hiện tính lễ nghĩa, mà người đời thường bảo: Phú quý sinh lễ nghĩa! Vậy bần hàn liệu có giữ được lễ nghĩa không?!

Đầu những năm 2.000, vai trò lịch sử của học giả Nguyễn Văn Vĩnh ngày càng được xã hội quan tâm. Nhiều người khi tìm hiểu về cụ Vĩnh đã hỏi thật vô tình: Chúng tôi kính trọng cụ, muốn được thắp nén hương bày tỏ lòng kính trọng thì… xin lỗi, bàn thờ cụ đặt ở đâu? Cả gia tộc xót xa và chua chát… Cứ thế, ngày càng nhiều người quan tâm. Vậy nên tháng 6/2005, gia tộc đã quyết định họp mặt và tạm thống nhất để bàn thờ ở nhà cháu Nguyễn Lân Bình, vì ở đây là nhà riêng của cháu, nơi giữ kỷ vật duy nhất của cụ Vĩnh là đôi ghế tràng kỷ5, có khảm trai câu chuyện ngụ ngôn của La Phông Ten và có cả chữ ký của cụ Vĩnh với tháng năm nguyên vẹn. Nói là “tạm” vì cháu đích tôn của cụ Vĩnh mãi bên trời Tây, cháu Bình lại là con trai của người con áp út của cụ Vĩnh, xa lắm… Vậy nhưng, cứ theo cái lý ấy thì rồi bao giờ mới có được một nơi, dù là “tạm” để người đời khỏi khó hiểu… Các cháu trai của cụ Vĩnh và cả các cháu rể đã bàn nhau phải xắp đặt, bố trí ảnh, các kỷ vật… của cụ và những người ruột thịt đã khuất của gia tộc sao cho hợp lý, trang trọng, ngăn nắp và chú thích rõ ràng. Ngày rằm, mồng một phải khói hương cho chu đáo. Vậy mà cũng phải mất vài năm, với bao sự đóng góp, chỉ bảo của người thân và bạn bè xa gần, hôm nay nhìn lên bàn thờ gia tộc mới thấy lòng dạ tạm yên… Cũng từ đây, những dịp giỗ chạp, những ngày giỗ năm chẵn của cụ Vĩnh, nhà thơ Nguyễn Giang, nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp… được họ hàng, các chi họ, người hâm mộ gần xa tìm đến dâng nén hương thơm với tấm lòng thành. Có lẽ như lời dạy của cổ nhân rằng: Có thờ có thiêng… cho nên hai năm 2010 và 2011, con cháu của gia tộc học giả Nguyễn Văn Vĩnh, sau nửa thế kỷ đã đưa được hài cốt của cụ bà Vĩnh và tìm được hài cốt của nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp6, cùng với những người thân đã mất bị thất lạc, quy tập được về cùng một khuôn viên trang trọng ở nghĩa trang làng Phượng Dực. Đúng là phúc ấm dòng họ.

Xin dài dòng với các bạn độc giả để bớt đi những thắc mắc về việc tại sao mãi đến năm 2005, gia tộc học giả Nguyễn Văn Vĩnh mới lập được bàn thờ!

Chú thích:

                     1/ Mời xem bài “Một giọt dầu máy văng đi không ai biết tới”.

                     2/ Mời xem bài Komatsu Kiyoshi và Cuộc tái ngộ”.

                     3/ Mời xem bài “Người phụ trách âm thanh trong ngày Độc lập”.

                     4/ Mời xem bài “Ký ức về người đặt nền cho ngành phát thanh Việt Nam”.

                     5/ Mời xem bài “Chuyện bộ tràng kỷ của học giả Nguyễn Văn Vĩnh”.

                     6/ Mời xem bài “Thi sỹ Nguyễn Nhược Pháp, sau 47 năm “lưu lạc” mới được về bên mẹ”.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *