Chuyện về một chiến sĩ tình báo bị tù oan hơn 17 năm – Kỳ II: Chuyện buồn nhưng có hậu

Bài đăng trên báo Gia đình & Xã hội, chuyên mục Phóng sự – Điều tra, số 127, ra ngày 9/8/2005. Kỳ II.

Kỳ I: Một giọi dầu máy văng đi không ai biết tới

Kỳ II: Chuyện buồn nhưng có hậu

Ngôi nhà ở 25 Nguyễn Gia Thiều, Hà Nội cùng vật dụng gia đình bị tịch thu, vợ con ông phải đi ở nhờ trong một căn gác 16m2 ở ngõ Liên Trì. Vợ ông khi đó mới 35 tuổi bị đình chỉ công tác, đàn con 7 đứa nheo nhóc, đứa nhỏ nhất mới được 5 tháng, bà mẹ già gần 80 tuổi sau cú sốc quá lớn, nhìn đàn con cháu bỗng chốc không cửa không nhà đã bỏ về quê chồng ở làng Phượng Dực (xã Phượng Vũ – Phú Xuyên – Hà Tây) và chết trong cảnh một thân một mình ở quê. Mười bảy năm ông bị tù oan là 7 đứa con lần lượt lớn lên trong thiếu thốn và cả sự kỳ thị vì là con của gián điệp, với một lí lịch “đen”, chẳng ai được vào đại học dù học rất giỏi và phải vào đời bằng những con đường nhọc nhằn khác. Còn ông, trong khi tòa tuyên án 15 năm tù, trong thời gian cải tạo dù luôn được khen thưởng là cải tạo tốt và được giảm án 2 lần với thời gian 5 năm 6 tháng, nhưng rồi những người được giảm án cùng ông lần lượt được trở về, còn ông thì không và còn phải ở thêm 2 năm so với mức án mà tòa tuyên mà không có một lời giải thích rõ ràng.

120703_nphoboquocphong_thumb.png

120703_chuthichanh3_thumb.png

Dằng dặc những năm bị tù oan, có lẽ niềm tin một ngày sẽ được minh oan là liều thuốc tinh thần mạnh nhất để ông Phổ không gục ngã. Và trong những năm dài sống trong oan khuất ấy để động viên vợ con ông thường viết thư về. Trong rất nhiều lá thư ấy, các con ông vẫn nhớ có lần ông đã viết: “Mỗi cỗ máy, muốn chuyển động đến đích, đều phải nhờ đến lực đẩy và dầu mỡ bôi trơn. Song khi tới đích đâu phải tất cả đều còn ở lại để kể công của mình. Bánh xe lịch sử cũng vậy. Các con hãy coi gia đình ta là một trong vô vàn những giọt dầu văng đi không ai biết tới ấy.” Ngày 30/10/1972, ông được trả tự do sau 17 năm 1 tháng 1 ngày ngồi tù, khi đã bước sang tuổi 56.

Ra tù, việc đầu tiên ông nghĩ tới là phải xin minh oan với quyết tâm dù có phải đội đơn đi bất cứ đâu, bởi với ông không còn thử thách nào hơn 17 năm ngồi tù đầy oan khuất. Và phải mất 6 năm chờ đợi, ngày 28/3/ 1978, tại phiên tòa giám đốc thẩm, tòa án nhân dân tối cao đã tuyên ông vô tội và phục hồi mọi quyền lợi, chế độ. Nhưng bản án này mới là phần đầu của hành trình đi tìm lại những gì đã mất.

120703_ho.nguyenvanvinh_thumb.png

120703_chuthichanh4_thumb.png

Mặc dù tòa đã tuyên phục hồi mọi quyền lợi, nhưng khi gõ cửa các cơ quan có trách nhiệm thì không ai muốn đứng ra giải quyết quyền lợi cho ông. Lại thêm những năm dài cầm đơn khiếu nại đi khắp nơi. Và đời ông vẫn còn may mắn khi gặp được những người đồng đội tốt. Lời thỉnh cầu của ông được gửi tới lãnh đạo Bộ Quốc phòng, Văn phòng Hội đồng Bộ trưởng (nay là Văn phòng Chính phủ). Mãi tới năm 1990, nhờ có sự can thiệp của nhiều cơ quan, gia đình ông được Ủy ban Nhân dân Thành phố Hà Nội cấp cho căn hộ tập thể ở Thanh Xuân. Sau rất nhiều công văn trao đổi giữa Bộ Quốc phòng với Bộ Lao động – Thương binh xã hội, cuối cùng ông được xếp mức lương hưu công nhân viên quốc phòng bậc thợ 7/7 và tính thời gian công tác liên tục từ năm 1948 tới năm 1981. Tháng 7 năm 1995, Bộ Quốc phòng quyết định cho ông được truy lĩnh lương của 17 năm tù oan số tiền 55 triệu đồng và 45 triệu đồng tiền bồi thường những vật dụng gia đình đã bị tịch thu năm 1955. Đầu năm 1996, Bộ Quốc phòng cấp cho ông căn hộ tập thể ở khu tập thể quân đội Nghĩa Tân. Tháng 2 năm 1997, ông được Chủ tịch nước tặng Huân chương kháng chiến hạng Nhì “vì đã có thành tích trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước”.

Những năm cuối đời, ông Phổ sống khá lặng lẽ. Các con ông dù phải vào đời bằng những con đường khá chật vật nhưng đều là những công dân tốt. Trong những câu chuyện với các con, ông ít khi nhắc lại chuyện cũ. Niềm vui lớn nhất là ông vẫn còn cơ hội làm và truyền nghề ảnh kẽm bởi sau này Sở Văn hóa tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng, biết tiếng ông là thợ giỏi đã mời ông làm giáo viên 1 năm.

Thấm thoát đã là lần giỗ thứ 8 của ông Phổ. Bây giờ nhắc lại những chuyện đã qua, các con ông vẫn bảo đời ông là câu chuyện buồn nhưng có hậu và tự động viên nhau rằng sống ở đời này đâu phải ai cũng đều gặp may mắn.

Việt Hằng

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *