Notre Journal: Tờ báo của chúng ta

 

NOTRE JOURNAL

Sau khi tờ báo đầu tiên bằng chữ Quốc ngữ ở Bắc kỳ, tờ Đăng cổ tùng báo, 1907, do Nguyễn Văn Vĩnh là chủ bút bị đóng cửa vì đã lợi dụng vai trò của người Pháp và biến tờ báo thành Cơ quan ngôn luận của Phong trào Đông kinh nghĩa thục do Phan Châu Trinh chủ trương, Nguyễn Văn Vĩnh thất vọng cay đắng. Francois Henry Schneider (Người chủ nhiệm, người bỏ vốn) đã không rời bỏ Nguyễn Văn Vĩnh, mà ngược lại vẫn động viên và hậu thuẫn Nguyễn Văn Vĩnh để tiếp tục dấn thân vào con đường báo chí. Sở dĩ F.H. Schneider làm vậy bởi ông hiểu rất rõ tố chất và năng lực đặc biệt của Nguyễn Văn Vĩnh trong lĩnh vực báo chí và xuất bản, điều này được kiểm trong suốt thời gian Nguyễn Văn Vĩnh làm phiên dịch tại tòa xứ Hải Phòng và làm cộng tác viên người Việt Nam duy nhất của tờ công báo tiếng Pháp Couries de Hai Phong (1902 – 1903). Hơn nữa, F.H. Schneider chưa chứng minh được với Chính phủ Thuộc địa kết quả cuối cùng của bản hợp đồng đã ký từ năm 1882 về mục tiêu xây dựng một nền xuất bản báo chí và in ấn tại Việt Nam.

Do hậu quả của việc đóng cửa và dập tắt Phong trào Đông kinh nghĩa thục 1907, việc tiếp tục ra báo bằng chữ Quốc ngữ là điều không thể. Bởi vậy, F.H.Schneider đã xắp đặt để Nguyễn Văn Vĩnh đứng ra làm chủ bút của tờ Notre Journal(Tờ báo của chúng ta) năm 1908. Tờ báo này dành cho công chức và viên chức bản xứ làm việc trong bộ máy hành chính của Chính phủ Thuộc địa và các cơ quan thương mại Đông dương. Lần đầu tiên, trên tờ báo này, Nguyễn Văn Vĩnh đã dùng bút danh: Đinh Thái Lai. Tuy nhiên, cho đến nay, hầu như ít ai lưu giữ tờ báo này, có thể vì nó bằng tiếng Pháp và chỉ phục vụ cho những đối tượng cụ thể ít ỏi thời đó.

Để giúp độc giả hình dung được phần nào nội dung của tờ báo này, Ban biên tập website Tân Nam Tử xin trích một đoạn trong bài Ý nghĩa các câu chửi thề của ta của Nguyễn Văn Vĩnh, đăng trên số báo ra ngày thứ Hai 14/12/1908. Về trang nhất của tờ báo này, chúng tôi sẽ xin trình đến quý độc giả trong thời gian sớm nhất.

“…Chúng tôi không có tham vọng qua bài viết này đạt được mục đích loại bỏ các ngôn từ này khỏi lớp từ vựng của đồng bào mình. Bao nhiêu kinh nghiệm cho chúng ta thấy, không thể bỗng dưng tạo ra được một ngôn ngữ, và cũng chẳng thể cải biến nó theo cách nào khác hơn là để tự nó được thay thế dần dần, đó là chưa nói đến việc thay thế cũng phải được diễn ra đúng lúc, việc thêm vào hay bỏ bớt đi cũng phải tương ứng với nhu cầu thông thường. Chúng tôi cũng chẳng muốn đánh giá đồng bào mình là những con người thô lỗ, vì như chúng tôi trình bày, họ chỉ hay lặp lại một cách vô thức những gì họ nghe được ở khắp chốn, cùng nơi. Những cách biểu đạt đó đã trở thành các cụm từ ghép mà ý nghĩa tổng quát chẳng có gì khác hơn là sự bất lực và cáu giận. Thật là thú vị nếu chúng ta tìm được nguồn gốc của các từ ngữ đó. Như đã nói ở phần đầu bài viết này, ta cần phẩi lộn lại một thời xa xưa để tìm tòi, và cái thời kỳ đó nằm ở khúc nào trong lịch sử vậy? Các thói quen đó ra đời khi chúng ta sống ra sao? Chịu chết! Dù sao thì vấn đề cũng đã được đặt ra, liệu chúng ta có tìm được lời giải thích thỏa đáng không? Các nhà học giả đã từ nhiều năm lao vào tìm kiếm tư liệu để dựng lại lịch sử của đất nước này, cho dù vẫn có người coi nhẹ khía cạnh này, thậm chí còn cho đây chỉ là những chuyện tầm phào. Đó là một sai lầm. Nhìn chung, cách nói năng dân dã, đặc biệt trong các câu chửi thề đều hàm chứa một bối cảnh sinh hoạt của lịch sử, nó là một quá khứ có thật mà không thể tìm thấy ở những đền thờ, chùa chiền và miếu mạo.”

(Người dịch: nhà giáo Phạm Toàn, hiệu đính: nhà văn Nguyên Ngọc)

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *