Nguyễn Lân Bình: Mạn đàm về Người Man di Hiện đại

Baodatviet – “Mạn đàm về Người Man di hiện đại” có lẽ là bộ phim tài liệu lịch sử duy nhất về một gia tộc được dựng công phu, đồ sộ và… hoàn toàn bằng kinh phí độc lập.

 

Người dám làm một việc “không giống ai” ấy là anh Nguyễn Lân Bình, một công chức ở Cục Phục vụ Ngoại giao đoàn, Bộ Ngoại giao, cháu nội học giả Nguyễn Văn Vĩnh. Bộ phim dài bốn tiếng về Nguyễn Văn Vĩnh đã được chiếu tới 27 lần, trong đó có những buổi chiếu cho hàng trăm sinh viên trường ĐHQG Hà Nội, ĐH Văn hoá, và ĐHSP Hà Nội.., và đều nhận được phản hồi tích cực.

Ấn tượng đầu tiên về người đàn ông này là niềm tự hào và say mê đặc biệt khi nói về gia tộc mình. Nghe anh kể mới thấy niềm tự hào ấy hoàn toàn có lý, bởi đó là gia tộc có quá nhiều người tài, nổi tiếng với những tên tuổi đã “đóng đinh” vào lịch sử văn hoá, văn học Việt Nam như học giả, nhà báo Nguyễn Văn Vĩnh, nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp, nhà thơ Nguyễn Giang…

Khi có dịp ngồi nói chuyện với nhau, anh Bình thường nhắc nhiều về ông nội mình, một người có công lớn trong việc truyền bá chữ quốc ngữ ở Việt Nam những năm đầu thế kỷ 20. Nỗ lực của học giả Nguyễn Văn Vĩnh đã đóng góp rất lớn vào việc nâng cao dân trí, mở mang tri thức cho người dân, giúp dân tộc Việt được dùng chữ viết riêng hiện đại, tiện lợi, trên con đường hội nhập với các dân tộc khác trên thế giới.

Nguyễn Văn Vĩnh từng làm chủ bút nhiều tờ báo nổi tiếng tại Việt Nam những năm đầu thế kỷ 20 bằng cả tiếng Việt (Đông Dương tạp chí, Trung Bắc tân văn – tờ  nhật báo đầu tiên trong lịch sử báo chí VN) và tiếng Pháp (Notre Journal, L’Annam nouveau – An nam mới…). Cụ cũng dịch hàng chục tác phẩm như “Kim Vân Kiều” (từ chữ Nôm sang chữ quốc ngữ, rồi dịch từ chữ quốc ngữ sang Pháp văn); dịch “Triết học yếu lược”; “Thơ ngụ ngôn” của La Fontaine; “Ba người lính ngự lâm pháo thủ” (24 cuốn) của Alexandre Dumas; “Những người khốn khổ” của Victor Hugo; “Miếng da lừa” của O.de  Balzac… sang chữ quốc ngữ, để phổ biến chữ quốc ngữ với người Việt, đồng thời mở ra một cửa sổ giúp người dân tiếp cận với văn học, văn hoá thế giới…

Nhưng do không chịu khuất phục người Pháp mà Nguyễn Văn Vĩnh đã bị chính quyền o ép tới mức phá sản. Giữa năm 1935, chính quyền thuộc địa tịch thu toàn bộ tài sản của cụ đem bán đấu giá, số tiền bán đấu giá vẫn chưa đủ để trả hết nợ. Người Pháp đã đưa ra ba lựa chọn cho Nguyễn Văn Vĩnh: 1/ Nếu vào Huế làm quan, sẽ được trả lại toàn bộ tài sản như cũ; 2/ Ngồi tù ở Hỏa Lò dù chỉ một ngày ; 3/ Biệt xứ sang Lào với danh nghĩa đi tìm vàng để trả nợ. Với cái “máu” của người làm báo đậm chất kẻ sĩ, cụ chọn đi Lào. Tiếng là đi tìm vàng, nhưng chỉ trong một tháng ở Lào, Nguyễn Văn Vĩnh chuyên tâm tìm tư liệu viết thiên phóng sự dài kỳ “Một tháng với những người đi tìm vàng”, gồm 11 bài đăng trên báo L’Annam Nouveau.

Khi loạt phóng sự này còn dở dang thì ngày 1/ 5/1936, Nguyễn Văn Vĩnh đột ngột qua đời trong một chiếc thuyền độc mộc trên sông SêPôn. Một cái chết tới nay vẫn là bí ẩn. Cụ Vĩnh có tới 15 người con, trong những biến cố của lịch sử đất nước, đại gia đình ấy phải ly tán mỗi người một nơi và có những người con của cụ gặp hoàn cảnh không may mắn…

120531_Rhodes_thumb.jpg

Bức tranh  Sự ra đời của chữ Quốc ngữ – Cái chết siêu việt của ông Nguyễn Văn Vinh

do TS Vật lí hạt nhân, hoạ sĩ Nguyễn Đình Đăng vẽ năm 2001 tại Tokyo- Nhật Bản

Anh Bình kể, một thời gian dài, anh hầu như không hiểu gì về lịch sử gia đình. Bởi nhiều lý do mà ngay trong nhà cũng không dám thường xuyên treo ảnh cụ Vĩnh. Thời đi học, anh chỉ biết đơn giản rằng ông nội mình là một người tài, bị phá sản… Mãi tới cuối những năm 80, lần về quê đầu tiên với người chú ruột, rồi cuối những năm 90 vì được gia tộc tin cậy giao lại kho tư liệu mà các bác các chú anh đã cất giữ, anh Bình mới bàng hoàng lờ mờ nhận thấy: hóa ra sự nghiệp của ông nội mình quá lớn. Vậy mà phần đông con cháu biết rất ít về cụ…

Phải làm gì để con cháu không quên cội nguồn, phải làm gì để mọi người trong gia tộc đều được biết gia tộc mình có nhiều điều kỳ vĩ mà vì sao phải chịu thăng trầm, đắng cay đến vậy? Câu hỏi ấy ám ảnh Nguyễn Lân Bình nhiều năm. Cho tới năm 2006, anh quyết định làm một bộ phim.

Nhắc lại hành trình suốt một năm làm phim, anh Bình tâm sự: “Nhiều lúc không dám nghĩ mọi chuyện lại trở thành hiện thực, vì khi bắt tay làm phim, không biết phải bắt đầu từ đâu và lựa chọn những chi tiết nào?!” Để có bộ phim dài bốn tiếng ấy, nhóm làm phim đã quay tới 1.500 phút ở Hà Tây, Hà Nội, Hà Tĩnh, Huế, Quảng Nam, Đà Nẵng, TP HCM, Lào và đi  tới 5 thành phố ở Pháp.

“Lúc đầu, đạo diễn Trần Văn Thuỷ vì lo tôi quá tốn kém, ông bàn chỉ quay từ tư liệu trong nước thôi, bởi riêng vé máy bay khứ hồi Hà Nội – Paris đã là 20 triệu đồng một người, giá năm 2006”, anh Bình kể. Ai cũng biết muốn có tư liệu về Việt Nam thời Pháp thuộc thì phải đến được các kho lưu trữ ở Pháp. Để cho bộ phim sinh động và sát thực, dù tốn kém cũng phải đi.

Anh quyết định vay thế chấp mang sổ đỏ đi “gửi” ngân hàng. Có lẽ đó là quyết định mạo hiểm nhất trong quá trình làm phim. Biết chuyện, những người ruột thịt của anh đều “choáng” và lo lắng (mãi tới giữa năm 2007, người chú ruột của anh khi bán ngôi nhà riêng đã đưa tiền để anh chuộc lại sổ đỏ, mới lấy lại sự bình tâm cho gia đình).

Tôi đã xem bộ phim tài liệu dài 4 tập, thời lượng tới 215 phút và thực sự bị hấp dẫn tới phút cuối cùng. Quả thực, nếu thiếu những trường đoạn quay ở SêPôn và 5 thành phố tại Pháp với rất nhiều tư liệu và nhân vật, thì chắc chắn bộ phim sẽ thiếu thuyết phục, hoặc có cố làm thì cũng khô khan.

Với  đống tư liệu “chết”, nhưng nhóm làm phim rất công phu khi không chỉ đi gặp rất nhiều nhà nghiên cứu, nhà sử học, con cháu của cụ Vĩnh ở trong và ngoài nước, mà còn lặn lội theo hành trình “Một tháng với những người đi tìm vàng” mà cụ Vĩnh đi năm 1936 từ Hà Nội sang Sê Pôn… Với cách làm phim theo kiểu kể chuyện, qua lời kể của các con, cháu và những nhận xét, đánh giá của các nhà nghiên cứu xã hội có uy tín …, bộ phim đã dựng lên thân thế, sự nghiệp của học giả Nguyễn Văn Vĩnh và những người con tài hoa của cụ.

Trong phản hồi về bộ phim, có không ít lời nhận xét rất cảm động, như PGĐ Sở Y tế Quảng Nam Nguyễn Như Chính rằng: “Thật xúc động.  Bộ phim đã dùng hình ảnh để chứng minh cho những ai còn mơ hồ về cụ do thiếu thông tin vì không có điều kiện tìm hiểu. Tôi nhiều lần rơi lệ khi xem hết bộ phim…”. Đặc biệt, GS Phan Huy Lê – Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam đã thốt lên với anh Bình rằng: “Chưa bao giờ ở Việt Nam lại có một bộ phim lịch sử do cá nhân thực hiện, không có sự trợ giúp tài chính của bất kỳ tổ chức nào mà đạt được sự cuốn hút tuyệt đối đến phút chót như phim này”.

Một ngày cuối năm 2008, tôi tìm tới ngôi nhà ở 55 ngõ Lương Sử C, nơi Nguyễn Lân Bình lưu giữ được kỷ vật duy nhất của ông nội mình, đó là bộ ghế tràng kỷ mà cụ Vĩnh rất cầu kỳ thuê thợ chạm khắc hai bài thơ ngụ ngôn của La Fontaine do cụ dịch. Anh Bình vẫn tất bật với bộ phim.

Anh cho biết, bộ phim đã được dịch hoàn chỉnh sang tiếng Pháp, bản tiếng Anh đang hiệu đính phần cuối. “Sau những biến cố của lịch sử, cháu chắt cụ Vĩnh giờ ở nước ngoài khá đông, mà thế hệ thứ ba, thứ tư, nhiều người không nói được tiếng Việt nên tôi cho dịch sang tiếng Anh, tiếng Pháp để cháu con dù ở đâu cũng hiểu được về lịch sử gia tộc của mình khi xem phim. Mà lịch sử của một gia tộc cũng chính là lịch sử của một Dân tộc”, anh Bình nói.

Dường như, với anh, những câu chuyện của quá khứ còn ám ảnh…

Nguyễn Thiêm

Nguồn bài dẫn: http://baodatviet.vn/Home/vanhoa/Man-dam-ve-Nguoi-Man-di-hien-dai/20091/28465.datviet

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *