Câu chuyện thứ nhất – CHUYỆN BUỒN CỦA NGƯỜI HÂM MỘ NGUYỄN VĂN VĨNH

Đây là bài viết số 1 trong 2 bài của chuyên mục Chuyện không định kể

Phần I

“Bộ sưu tập Nguyễn Du và truyện Kiều ‘khủng’ gần 800 cuốn quý giá của thầy Khánh” TN. 31/12/2017. Trường Hùng.

Buổi chiều cuối cùng của năm 2017, tôi dự định sẽ đi tới chỗ này, chỗ kia, nhưng cuối cùng, lại ngồi điểm báo.

Thật hay, vì thế giới có Google, tinh hoa trí tuệ của nhân loại, mà nhờ nó, ngồi một chỗ ấm áp, người ta vẫn biết sự xoay vần của thế sự.

Ông Nguyễn Dực, thân sinh của Nguyễn Lân Bình chụp với 2 người con đầu lòng tại vùng tự do Thanh Hóa, năm 1952

Tôi bắt gặp bài viết mới của báo Thanh Niên, nói về một nhà giáo ở Thái Bình, đã yêu quý Truyện Kiều đến mức sưu tập được tới 720 bản của mọi thời đại. Tôi bị ấn tượng với con số 720, và tôi đọc miên man…

Tới đoạn:

“Bản Kiều cổ mà thầy sở hữu đầu tiên là bộ “Kim -Vân – Kiều” do cụ Nguyễn Văn Vĩnh dịch, gồm 2 tập (tập 1 xuất bản năm 1942, tập 2 xuất bản năm 1943). Chia sẻ đến đây, thầy hăng hái hơn bao giờ hết:…”, tôi cảm thấy có điều gì đó lai láng trong tâm tư của mình vì câu: “thầy hăng hái hơn bao giờ hết…”.

Tôi bị ngây ngất, vì hình như có cái chất “bùa mê” gì đó lờ mờ giữa tác giả bài báo với thầy Khánh, với Truyện Kiều, và… với cả dịch giả Nguyễn Văn Vĩnh.

Tôi dám chắc, sự đời chẳng có gì “tự dưng”…. nhất là những gì liên quan đến Kiều, đến cuộc sống văn hóa.

Tôi liên tưởng đến một câu chuyện cũ của tôi, cái câu chuyện nó đã thức tỉnh tôi động não, để chú tâm nhiều hơn vào những hiểu biết về Truyện Kiều, về ông nội mình, ông Nguyễn Văn Vĩnh. Chuyện là thế này:

Đi ăn sáng

Năm 1971, cái năm lụt lội kinh hoàng, chiến tranh không quân ở phía Bắc Việt Nam đang leo lên đỉnh của sự tàn khốc, tôi ở Bungari về nước.

Cha tôi lúc này mới có 50 tuổi, nhưng ngày đó có lẽ không phải chỉ có tôi, mà mọi người đều nhìn các bậc phụ huynh ở cái tuổi 50 là “già” lắm rồi.

Buổi sáng ngày đầu tiên sau khi từ Bungari về nhà, cha tôi bảo:

“Bình đi ăn sáng với cha!”. (gia đình tôi quen gọi tên con)

Tôi hơi ngạc nhiên về việc được ông bố gọi đi ăn sáng ở ngoài đường, bởi lẽ lúc còn ít tuổi, nhà nghèo “rớt mùng tơi”, làm sao có chuyện đi ở sáng ở ngoài?! Quanh năm ngày tháng, mấy anh em chỉ chăm chăm vào cái nồi cơm nguội, có thể sẽ ăn với nước mắm, có thể sẽ được phép của mẹ lấy thìa mỡ mà rang lên, vì mỡ lợn là thứ năng lượng “cao cấp” nhất của cuộc sống ngày ấy.

Chẳng vô cớ mà thường lúc còn nhỏ, khi đi xếp hàng mua thịt bằng tem phiếu, mẹ tôi luôn nhắc:

“Cẩn thận đấy, khéo mất phiếu mua thịt, mà nhớ là mua mỡ nhé. Nếu hết mỡ thì xin mua sườn nhớ không?”.

Theo chế độ, ngày ấy, những năm 60, người dân được một lạng thịt/tháng (100 gram). Cán bộ, công nhân, lao động nặng thì được hơn, nhưng không qúa 1 kg/người/tháng, ngoại trừ những trường hợp làm trong môi trường độc hại, hoặc công nhân mỏ. Vì vậy, nếu người mua muốn được gấp đôi tiêu chuẩn tem, phiếu, hãy xin mua mỡ, thịt thủ, xương. Mẹ tôi dặn là vì thế!

Hôm nay, được cha cho đi ăn sáng, thế còn các em thì sao? Tất nhiên, tôi cũng chỉ thoáng nghĩ đãi bôi thế thôi, chứ biết chắc chắn… các em đã có cơm nguội!

Cha tôi cho tôi đến một nơi ở đầu phố Mai Hắc Đế (số nhà lẻ), làm gì thấy hàng hiệu gì đâu, chẳng có biển ghi gì cả, khách đến cứ tự lôi nhau vào sâu sâu trong cái ngõ hẹp tôi tối và ngồi đợi. Tôi chẳng hiểu gì nên bắt buộc phải hỏi bố:

“Cha ơi, ăn cái gì ở đây?”.

Cha tôi nói cụt lủn:

“Cháo”.

Rồi ông hỏi tôi:

“Bình ăn cháo tim gan bao giờ chưa?”.

Tôi khẳng định:

“Chưa ạ!”.

Khi người nhà của nơi bán hàng bưng ra hai bát đặt trước mặt cha con tôi, cha tôi bảo tôi rất khẽ (nhiều năm sau tôi mới hiểu, vì sao lúc đó cha tôi phải nói khẽ?!):

“Cháo tim gan đấy, ngon lắm, cha chiêu đãi nhé nhân Bình về, ăn đi…!”.

Khi ra về, tôi tò mò xem cha tôi trả mấy hào? (Ngày ấy chỉ tiêu bằng hào, 10 hào bằng một đồng, lương người thường khoảng 40 đồng/tháng). Tôi thấy ông đưa ra đến 3 đồng cho 2 bát cháo. Tôi lặng người… và không còn thấy bát cháo tim gan ngon nữa!

Những cuốn sách ấn tượng trong kho sách của Người chuyên sưu tầm sách cũ.

Ảnh do ông Bình chụp khi đến thăm nhà riêng của người sưu tầm sách báo cũ năm 2005.

Uống cà phê.

Cha tôi lại bảo với tôi:

“Đi, sang đây uống cà phê. Ở bên Bun con có uống cà phê không?”.

Ông chỉ tay sang bên kia đường, và tôi thấy đi chỉ mấy phút, đã đến đầu phố Huyền Trân Công Chúa (giờ là Bùi Thị Xuân).

Tôi cũng không thấy có biển hiệu gì của hàng quán, mà nhìn vào nơi bán cà phê, tôi cũng lại chỉ thấy tôi tối… vậy thôi. Tôi có quan tâm gì đến cà phê đâu. Mãi cho đến lúc lập gia đình (29 tuổi) tôi mới biết cà phê, nước trà, bia, rượu và thuốc lá.

Tuy nhiên, cha tôi vẫn cho tôi một cốc cà phê sữa… thật kinh hoàng, bởi lẽ ngày ấy, hộp sữa đặc có đường để pha vào cà phê do Liên Xô sản xuất có màu xanh với chữ to “MOLOKO”, giá mậu dịch là 1 đồng 7 hào, đó là một thứ xa xỉ. Loại thực phẩm này chỉ dành cho các cán bộ cao cấp, hoặc phụ nữ sinh đẻ và chỉ bán bằng phiếu, và cũng chỉ được đâu có mấy hộp vào những tháng đầu sau khi sinh, mà phải có giấy của bác sỹ xác nhận là người mẹ mất sữa.

Vậy mà hôm nay tôi được uống cà phê sữa…. quá ghê gớm, làm sao tôi quên được?!

Bước ngoặt.

Chiến tranh đang điên cuồng, tôi về nước được 4 tháng rồi, mà vẫn chưa nhập được hộ khẩu. Thời ấy, không có hộ khẩu coi như người chết di động. Không có hộ khẩu, đừng yêu cầu bất kỳ quyền lợi gì đối với chế độ như: sổ mua gạo, tem phiếu dùng để mua mọi loại nhu yếu phẩm, hay muốn xin đăng ký radio, hoặc đăng ký xe đạp v…v. Nhưng với tôi, cuối cái năm 71 đó, vẫn được “ưu tiên” nhập ngũ, tuy chưa có hộ khẩu.

Rồi những tháng ngày nằm trong rừng Trường Sơn, rất nhiều lần, co ro trên võng, tôi mơ màng nhớ đến những tháng ngày no đủ ở xứ sở hoa hồng, nhớ từ cốc sữa chua, cho đến những lần được phép ăn cả con gà nướng… Nhưng không thể không nhớ đến cái bát cháo 1,5 đồng, khi đến ăn đừng nói to, và cốc cà phê sữa ở cái cửa hàng không có biển hiệu, đừng nói đến bảng giá….

Ơn Trời, tám năm quân ngũ, có đến 5 năm ở Trường Sơn, khi trở về tôi vẫn nguyên vẹn. Rất nhiều người đã từng không tin, rằng tôi ở Trường Sơn về, mà sao môi không thâm, và mắt không trắng (trắng dã)? Theo mọi người ngàyấy, lính Trường Sơn phải là mắt trắng, môi thâm và da tai tái…. Hệ quả tất yếu của sốt rét và mưa rừng.

Bà Lê Thị Tý, mẹ của Nguyễn Lân Bình, chụp nhân lần đưa Bình lúc 8 tháng tuổi về Hà Nội thăm gia đình năm 1952

Đời thường.

Cuộc sống dân sự giúp tôi hòa nhập vào những sinh hoạt đời thường của những kẻ có đồng ra đồng vào. Thật càng khó để tin rằng, đi chiến trường về mà lại trở thành phiên dịch. Ngày ấy, phiên dịch là một nghề cực kỳ hiếm hoi và “đẳng cấp”, bởi lẽ cái nghề “bơ thừa sữa cặn” ấy, nó cho phép chúng tôi có mức sống hơn người. Phải khẳng định, làm phiên dịch ngày ấy, còn dư giả và “nghênh ngang” hơn các gương mặt “đại gia” ngày nay. Nào lên xe xuống ngựa, nào hút thuốc lá ngoại, nào ra vào những nơi mà người dân chẳng bao giờ dám bén mảng đến, như khách sạn Thống Nhất (Metropol), khách sạn Thắng Lợi (Hồ Tây), cửa hàng Giao tế ở phố Hàng Trống (Bờ Hồ)….

Tôi bắt đầu “bắt chước” các bậc đàn anh, cũng phì phèo thuốc lá ngoại, cũng gọi bia chai Hữu Nghị, cũng cà phê cà pháo….

Ngày ấy (cuối những năm 70, đầu 80) Hà Nội có những quán cà phê “máu mặt” nào, tôi cũng biên biết, như cà phê Giản (Hàng Gai), cà phê Tuyên (Trần Hưng Đạo), cà phê Hói (Bà Triệu)…. Nhưng tôi nhớ đến cái kỷ niệm về cà phê với cha tôi ở Huyền Trân Công Chúa năm nào, và tôi lại mò đến.

Được gần một năm, số phận lại ưu ái một lần nữa, tôi lại được sang Bungari. Năm năm trở về, tôi trở nên sành sỏi hơn trong việc quán xá. Hà Nội bắt đầu có các cửa hàng ăn tên tuổi phục vụ cho tầng lớp người mới lên nhờ cuộc sống mở cửa.

Người ta đến 202 phố Huế, gọi cả miếng bít tết bò to như bàn tay, rót những ly rượu từ những chai rượu nhập có giá bằng cả tháng lương người lao động bình thường, và bên bàn ăn, mọi người được nói cười, chúc tụng râm ran như pháo nổ, chứ đâu có phải thì thào như ngày nào cha tôi cho đi ăn cháo tim gan, trả tiền đấy, tiền của mình đấy, mà khi ăn, ăn như ăn vụng….

Cuối những năm 80 đầu 90, Hà Nội ngày một nhiều hàng cà phê, phố nào cũng có và có cả cà phê “đèn mờ” phục vụ nhiều kẻ đến không phải vì để uống cà phê…. Nhưng nhớ cái kỷ niệm ngày xưa, vì tập tính của thằng người, khi đã tin cái gì rồi, thì cứ thế hành động lặp lại, biến thành thói quen. Tôi vẫn mò đến hàng cà phê ở Huyền Trân Công Chúa.

Đến những năm tháng đó, tôi mới được biết, rằng quán cà phê này có từ thời Tây (trước 1954), và được gọi là Moka. Cứ thế, những người khách thường xuyên tới đây biến thành lối sống của họ, không phải chỉ vì hương vị của cái thứ đồ uống mình thích, mà còn vì những gương mặt có cùng sở thích, hay cùng đến một nơi, và nói những câu chuyện mà họ cùng quan tâm, và thế là biến thành thói quen tụ tập. Nhiều ngày, cứ khi đi ăn sáng xong, tôi lại đến nhâm nhi cái vị cà phê “kỷ niệm”.

Rồi một lần, nhóm những người “nghiện” cái vị cà phê rất riêng này của quán Moka thấy tôi đến, họ ồ lên bảo nhau:

“Đây này, ông này là cháu cụ Vĩnh đấy, cháu gọi bằng bác cái ông “Chùa Hương” đấy, nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp ấy!”.

Tôi cũng không rõ vì sao hôm đó, mọi người lại có thái độ rộn ràng như thế khi thấy tôi đến? Tôi ngồi cạnh một anh bạn ít tuổi hơn, và loáng thoáng biết anh là người cũng thi thoảng hay ra sân CLB Quân đội đánh tennit, nơi tôi thường xuyên chơi, nhưng không có quan hệ trực tiếp.

Dáng người anh thâm thấp, da sạm ngăm ngăm, anh nói năng khá kẻ cả, cái cách nói của những kẻ hiểu biết hơn người, anh bảo tôi:

“Em biết anh từ ngày xưa, lâu lắm rồi…”.

Tôi ngạc nhiên, hỏi lại:

“Vậy à? Anh bảo từ ngày xưa là từ bao giờ? Ở đâu?”.

Anh trả lời tôi:

“Em là công nhân ở công trình xây dựng nhà trẻ Bun, nhà trẻ Đimitrôv, bên hồ Đồng Nhân ấy. Hồi đó anh làm phiên dịch cho các chuyên gia Bun, ông Panko, đúng không? Úi giờ, ai mà chẳng biết anh! Nhưng qua mọi người nói chuyện, hôm nay em mới biết anh là cháu nội cụ Nguyễn Văn Vĩnh”.

Thấy anh bạn nói đúng tông tích của mình, tôi đắc chí chìa bao thuốc Dunhill mời anh. Anh bạn bật lửa châm thuốc và nói tiếp:

 “Anh ạ, Cụ Vĩnh giỏi lắm, phải đọc mới biết cụ giỏi thế nào!”.

Song tôi tỏ ra ngờ ngợ những gì anh ta nói, bởi lẽ, anh vừa khẳng định, rằng anh là công nhân xây dựng. Làm công nhân, mà lại nói về cụ Vĩnh như nhà nghiên cứu văn hóa, mà tôi biết chắc, khối nhà chuyên môn đấy, cũng có biết cụ đâu, mà nếu biết thì chỉ biết theo hướng tiêu cực thôi. Tôi hơi ngờ vực, tỏ thái độ khó hiểu.

Tôi hỏi anh ta, nhưng thực ra là thái độ, giọng điệu của kẻ xem thường người đang nói chuyện với mình:

“Tại sao anh lại quan tâm đến cụ Vĩnh?”.

Mọi người ngồi chung quanh ồ lên vì câu hỏi thể hiện sự ngây ngô của tôi. Hầu như tất cả mọi người cùng nói:

“Ơ, thế thì ông ngớ ngẩn quá, thằng cha này nó là trùm sách cũ đấy, kinh lắm. Mà thằng này nhá, nó đọc và nó nhớ nhiều lắm, từ lâu lắm rồi bố ạ!”.

Tôi vỡ nhẽ và mạnh dạn nhận ngay với mọi người chung quanh, rằng tôi “nhà quê”, chẳng hiểu gì về thiên hạ mà lại còn nghêng ngang. Hỏi người khác thực ra là để muốn học mót ở họ điều mình không biết, vậy mà lại dùng cái chất giọng bề trên như là chất vấn người ta.

Tôi không hơn không kém, cũng là hiện thân và là hệ quả của lối nghĩ một thời, chỉ “tôn vinh” người lao động bằng khẩu hiệu, còn bụng dạ vốn coi họ chẳng là gì. Thoáng thấy thiên hạ có gì đó khác cái mình vẫn quan niệm, là nghi ngờ, phủ nhận vì cho rằng, dân đen… biết gì! Tôi hối hận, xin lỗi anh bạn đó và tự nhận là mình quá đáng.

Thật hay vì anh bạn đó không hề tỏ ra khó chịu về thái độ cao ngạo của tôi, ngược lại, anh lại rất vồn vã bằng một chất giọng nể trọng trong những câu chuyện sau đó.

Cuốn Kiều do Nguyễn Văn Vĩnh chuyễn từ chữ Nôm ra chữ Quốc ngữ và được xuất bản lần thứ nhất năm 1913

Cuộc đời, tôi là kẻ may mắn. Đã rất nhiều lần, trong những cuộc tiếp xúc vô tình với nhiều gương mặt có danh, với mọi lứa tuổi ở những môi trường văn hóa khác nhau, nhưng khi họ biết tôi là cháu nội cụ Vĩnh, tôi đã được nhiều người tỏ ra trân trọng, cộng với việc, tôi gọi nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp là bác ruột, và cha tôi, người đầu tiên trực tiếp xây dựng Đài Tiếng nói VN tháng Tám năm 1945.

Những người yêu cái hình bóng Hà Nội ngày xưa đều biết nhà văn Vũ Bằng với tác phẩm rất Hà Nội “Thương nhớ mười hai”, ông là người cùng tổ tình báo ngoại tuyến với người bác ruột của tôi là Nguyễn Phổ. Nhưng mọi người quan tâm đến Nguyễn Phổ không phải chỉ từng đó, mà họ ấn tượng vì sau 1954, nhóm tình báo đó, dẫn đầu là ông Trần Quốc Hương (Mười Hương) được điều vào Sài Gòn, bác tôi xin ở lại Hà Nội vì lý do gia đình. Đầu năm 1955, phía công an đã bắt bác tôi với tội danh làm gián điệp! Ông ở tù 17 năm liền, khi trở về, ông được minh oan và được truy lĩnh những quyền lợi chính trị của một nhân viên tình báo quân đội.

Cứ cộng vài chi tiết như tôi vừa nhắc đến, mọi người tiếp xúc đều thấy tôi đáng thương quá, và họ động lòng, từ chỗ động lòng đến chỗ nể nang chỉ có mấy cetimet.

Chỉ từng đó thôi, cuộc sống đã giúp tôi luôn nghĩ và hành động làm sao để xứng danh với các bậc tiền nhân, là những người ruột thịt của mình, những người đã ban cho mình lòng kiêu hãnh chính đáng. Làm người mà không có lòng tự tôn, nhất là không ý thức được cái giá trị ở ngay chính cái mình có, sẽ không bao giờ có liêm sỉ.

Anh bạn chuyên sách cũ quay sang tôi kể:

“Anh biết không, sách và báo của cụ Vĩnh có giá lắm đấy. Em là người bán được cuốn Truyện Kiều của cụ Vĩnh dịch sang tiếng Pháp với một cái giá cũng ghê đấy. Anh tưởng tượng xem em bán cho ai? Em bán cho gia đình ông Hoàng Quốc Việt (1905-1992)*, anh biết ông Hoàng Quốc Việt chứ? Anh phải biết ông ấy chứ, Ủy viên Bộ Chính trị nhá, Chủ tịch MTTQ VN này…

Tôi không nhận thấy có ý gì đặc biệt trong mấy câu nói của anh bạn chuyên sách cũ. Tất nhiên, ngày ấy, thế hệ chúng tôi đều được dạy ở nước mình có những vị lãnh đạo nào quan trọng, song tôi không có khái niệm bao nhiêu về ông Hoàng Quốc Việt, nôm na, biết rằng ông giữ chức quan trọng trong bộ máy Nhà nước, vậy thôi. Anh bạn chuyên sách cũ tiếp tục câu chuyện một cách rành rọt. Anh nói:

“Chuyện là thế này:

Trước khi ông ấy mất, các con ông ấy hỏi bố, rằng bố có cần dặn gì không? Bố có nguyện vọng gì không? Ông ta bảo: không, bố chỉ muốn, khi nào bố chết, mua cho bố cuốn Truyện Kiều của cụ Vĩnh dịch sang tiếng Pháp ấy, và đặt vào áo quan cho bố. Thế thôi!

Lúc ông ấy mất, cả nhà cuống cuồng làm những công việc cần làm cho người quá cố. Khâm liệm xong, đóng áo quan rồi, tất cả mới nhớ ra lời đề nghị của bố. Các con ông bàn nhau, bố chỉ có mỗi nguyện vọng như thế thôi, mà các con quên mất. Hình như, các vị ấy thấm thía và nhận ra rằng, nguyện vọng của người quá cố như một lời nguyền, mà việc ấy có phải quá khó đâu, thôi, đi tìm mua ngay, mang về đây, chúng mình lại mở ra cho vào để bố toại nguyện.

Thật may, vì người con rể lớn của ông Hoàng Quốc Việt, được ai đó mách, và ông ta tìm đến em. Hồi đó em bán giá cũng ghê đấy…

Khổ quá, sau đó mấy bữa, em mới biết thêm rằng, ông con rể mua được sách đem về, cả nhà quyết định bật đinh và mở nắp áo quan ra để đặt bộ sách vào. Xong xuôi, lại đóng nắp lại. Cả nhà mừng vì đã thực hiện được mong muốn cuối cùng của bố. Mọi người trong nhà đang tỏ ra toại nguyện, thì mấy cán bộ thuộc cơ quan an ninh bảo vệ đặc biệt của Nhà nước đến.

Những nhân viên an ninh đã đề nghị gia đình cho biết, tại sao lại bật nắp quan tài ra? Để làm gì? Gia đình đã cho gì vào trong?”.

Anh bạn đó dừng lời, rồi tiếp tục nói như tự sự:

“Em nghĩ vì ông Hoàng Quốc Việt là người quan trọng như thế, việc cơ quan cấp cao của Nhà nước phải theo dõi là đúng. Đến như nhà mình có người mất, còn phải phân công nhau trực suốt đêm bên quan tài là gì!”.

Người bạn sách kể tiếp như than thở:

“Khổ thế chứ, gia đình lại bật nắp quan tài một lần nữa theo yêu cầu của cơ quan an ninh, để chứng minh việc đặt bộ sách Truyện Kiều bên thi hài ông Hoàng Quốc Việt, và khẳng định với các vị an ninh rằng, chỉ vì đó là mong ước của người quá cố. Ngoài ra không có chuyện gì khác!

Đấy, anh thấy cuốn Kiều mà cụ Vĩnh dịch sang tiếng Pháp có giá trị không? Càng nghĩ càng thấy ghê quá, và chắc hồi xưa, ông này (Hoàng Quốc Việt) phải mê tiếng Tây lắm, chứ nếu chỉ cuốn Kiều mà mình vẫn thấy, thì làm sao mà phải cực khổ thế chứ?! ….”.

Nghe xong câu chuyện, tôi bàng hoàng vì nhiều lẽ. Đầu tiên, với tôi, là kẻ chỉ hiểu chút ít về Truyện Kiều khi còn học ở lớp 9 phổ thông. Ngày đó, tôi coi việc học Truyện Kiều trong môn văn cũng như các môn học khác, nghĩa là học để mà học, là học sinh thì phải học. Vả lại, các tiết học về Truyện Kiều chỉ gói gọn trong đôi ba giờ học trong chương trình của bộ môn văn.

Ngày ấy, tôi tuyệt nhiên không có ý thức gì rõ ràng về những giá trị cao quý của tác phẩm. Thuần túy, tôi chỉ thấy các câu thơ trong Truyện Kiều rất hay, vì nhiều ngôn từ Nguyễn Du viết, khi đọc rất ấn tượng do âm hưởng và vần điệu.

Việc cụ Vĩnh dịch Truyện Kiều ra tiếng Pháp, càng là một sự xa lạ đối với nhận thức của tôi, nói chính xác là do không có hiểu biết, nên tôi không có cảm nhận gì về giá trị này. Thậm chí, ngày đó tôi quan niệm, chẳng qua vì cụ giỏi tiếng Tây nên cụ dịch!

Như vậy, việc tôi nghe đến câu chuyện ông Hoàng Quốc Việt, một người trong lớp những người cộng sản đầu tiên ở VN, mà đắm đuối với Truyện Kiều, khác với những khái niệm của tôi, rằng lãnh đạo của ta chỉ quan tâm đến chính trị. Đặc biệt sau này, được nghe, được đọc mới càng thấm và ấn tượng cái sự việc của ông Hoàng Quốc Việt đối với Truyện Kiều. Nhất là khi được biết nhiều nhân sỹ đương thời như Huỳnh Thúc Kháng, Ngô Đức Kế và những người theo tư tưởng vô sản như Trường Chinh, hồi những năm 30 ở thế kỷ trước đã từng kết án việc phổ biến Truyện Kiều là phục vụ tư tưởng tư sản và đề cao văn hóa phong kiến….

Rõ ràng việc ông Hoàng Quốc Việt yêu quý Truyện Kiều đến mức, mong muốn mang sang cả thế giới bên kia, mà phải là cuốn Kiều do cụ Vĩnh dịch sang Pháp văn, hẳn là một câu chuyện không dành cho những người thường như loại tôi hiểu.

Trên nữa, vì sao phải là bản Truyện Kiều dịch ra tiếng Pháp của Nguyễn Văn Vĩnh? Mặc dù tôi cũng biết loáng thoáng rằng, trong quá khứ, không phải chỉ có cụ Vĩnh là người dịch Truyện Kiều ra tiếng Pháp.

Phần II

Đời thực.

Ngồi một lúc, châm thêm một điếu thuốc lá, anh bạn nọ tiếp tục câu chuyện với tôi:

“Anh có tưởng tượng được không, một lần, em mua được một mớ sách cũ của một người dưới Nam Định. Về nhà giở ra, em thấy có 4 cái thư viết tay ký tên Nguyễn Văn Vĩnh. Em sướng điên, nhất là lại có cả mấy bức ảnh. Tự nhiên em lại “trúng” được thêm mấy bức thư của cụ Vĩnh”.

Đến đây, nghĩ lại mới thấy sự ấu trĩ của cái thằng người ít học như tôi, hay tôi không ý thức được thế nào là cơ may, nên đã để tuột mất không biết bao nhiêu cơ hội nắm bắt, để hiểu về các bậc tiền nhân sinh thành ra mình, mà không phải chỉ là của gia tộc mình, mà còn là của nền văn hóa này. Cảm xúc của tôi khi nghe thông tin về 4 bức thư viết tay của cụ Vĩnh, chỉ là những con sóng gợn lăn tăn trong tâm cảm, cái thứ tình cảm hời hợt, ngớ ngẩn, ngoài việc thốt lên, thế à… ôi, thế à….!

Có đến hàng tháng, sau câu chuyện của người bạn chuyên sưu tầm sách cũ, tôi mới thấy lòng dạ áy náy, băn khoăn, nuối tiếc về việc tại sao không nghĩ ngay đến chuyện xin mua lại, hoặc tối thiểu xin được xem những bức thư đó, xem cụ Vĩnh viết gì, viết từ bao giờ, và viết cho ai? Liệu có phải vì ngoài chuyện tôi ngớ ngẩn, còn có cả chuyện vì keo kiệt, sợ phải tốn tiền nếu hỏi mua?! Ngày đó, tôi đã từng kể lại với đôi ba người thân cái sự việc này, nhưng cũng không có ai tỉnh táo hơn để bảo ban tôi, khích lệ tôi có quyết định nào đó, để sau này khỏi ân hận.

Ngẫm lại câu chuyện này, tôi mới thấu hiểu, vì sao cụ Vĩnh đã dịch cuốn tiểu thuyết“Miếng da lừa” của Honoré de Balzac, từ lúc người Việt Nam còn chưa có ý thức gì rõ ràng về nền văn học phương Tây, về văn minh phương Tây, về những triết lý sâu sắc về nhân cách văn hóa đối với thằng người.

Cuốn Kiều do Nguyễn Văn Vĩnh dịch sang tiếng Pháp trải qua sáu lần hiệu đính trong gần 20 năm dịch đi dịch lại. Bản dịch này được xác định là bản dịch tốt nhất (Hà Đình Nguyên – báo TN ngày 18/5/2005)

Rồi một buổi sáng, tôi lại đến cà phê Mô Ka, nơi từng để lại cho tôi nhiều kỷ niệm. Tôi gặp anh bạn sưu tầm sách cũ. Chào nhau xong, tôi hỏi luôn:

“Này, có lẽ tôi phải xin mua lại của anh mấy bức thư của cụ Vĩnh mà anh kể mấy bữa trước. Còn mấy cái ảnh mà anh nói, là ảnh của ai?”.

Anh bạn đó trợn mắt:

“Ôi giời ơi, sao anh không nói, em đã bán rồi!”.

Tôi lặng người, vì thật sự nhận thấy mình ngu rồi, ngu quá rồi! Tôi vỡ lẽ ra, vậy là trong thiên hạ, người ta quan tâm đến cụ Vĩnh nhiều hơn mình, người ta tầm nã những gì của cụ Vĩnh sát sao hơn mình. Điều này chứng minh sự vô tâm và vô ý thức của tôi, và có lẽ, không phải chỉ của tôi!

Tôi hỏi tự nhiên:

“Thế anh bán cho ai?”.

Anh bạn trả lời:

“Anh biết không, thằng mua ấy, nó là người nước ngoài, dân châu Á thôi. Nó rất giỏi tiếng Việt. Nó đến tìm sách cũ và xem có gì thú vị, nó xem mấy bức thư đó vì em kẹp trong cái cuốn sách mà nó quan tâm, rồi nó hỏi em giá bao nhiêu? Em nói đại, em cũng không nghĩ được rằng nó quan tâm thật, và sẽ mua thật. Em quát 300 Đôla.

Anh có tin không, nó chẳng nói gì hết, lẳng lặng móc ví rút luôn 3 tờ. Kinh quá anh ạ, sao nó “máu’ thế chứ?!”.

Tôi lại buồn nữa, buồn thật, vì tôi lơ mơ nhận thấy cái lý do xa xa để một người nước ngoài quyết định như vậy. Tôi chẳng còn gì để nói. Đầu tôi bỗng trở nên rỗng tuếc, vì rõ ràng mình vô thức đến tận cùng rồi.

Tôi châm một điếu thuốc, không phải vì muốn hút vào thời điểm đó, mà là để hòa trộn giữa cái đắng của thuốc lá và cái đắng ở trong lòng mình. Cái đắng sẽ còn theo tôi đến một ngày đi theo tổ tiên, theo ông bà, cha mẹ. Nhưng chí ít, qua sự việc này, tôi bắt đầu ý thức được Nguyễn Văn Vĩnh, ông nội mình là con người có mẫu hình nào trong đời sống văn hóa xã hội của đất nước này?

Tôi chỉ thấy mỉa mai vì khi bắt gặp những sự việc như vậy, bắt đầu có được chút tỉnh ngộ về cội nguồn, tôi đã 50 tuổi, cái tuổi trước đây ở nông thôn, người ta thường tổ chức lễ lên lão…. thành “thằng già”.

Kiểm chứng.

Năm 2005, hình như nhân 60 năm kỷ niệm CM tháng Tám, vợ chồng người em ruột tôi là kiến trúc sư, thông qua mối quan hệ với một số người bạn làm truyền thông, muốn vẽ lại bức tranh cuộc mít tinh ở Nhà Hát lớn Hà Nội ngày 17/8/1945 của Tổng Hội Viên chức Thủ đô, mừng Hồng quân Liên Xô chiến thắng Phát Xít.

Việc vẽ lại bức tranh đó, bởi lẽ người mẹ của chúng tôi, là người đã thức suốt đêm ngày 16/8/45 để may lá cờ đỏ sao vàng khổ lớn đầu tiên, phủ che kín mặt trước của Nhà Hát lớn trong buổi mít tinh, theo đề nghị của các bạn cùng hoạt động với cha tôi trong Tổng Hội Viên chức Thủ đô.

Câu chuyện này, mãi đến năm 2000, anh chị em chúng tôi mới biết thông qua cố nhà báo Trường Phước của VTV, khi ông nhận ý kiến của ông Trần Lâm, chỉ đạo việc xây dựng nội dung cho chương trình cầu truyền hình chuyển giao thế kỷ giữa Hà Nội với thành phố HCM.

Khi đến gặp mẹ tôi để phỏng vấn và quay phim, ông Trường Phước giãi bày với tôi thế này:

“Ông Trần Lâm nói với anh, cậu đến 43 Hàng Bài, gần rạp Tháng Tám, tìm một bà tên là Tý – Lê Thị Tý – Chính bà ấy là người may cái lá cờ đỏ sao vàng to nhất treo ở mặt trước Nhà Hát lớn hôm mít tinh 17/8/1945 đấy”.

Sau sự kiện ấy, tôi và ông Trường Phước trở thành chỗ thân tình.

Tôi được người em của mình mời đến nơi vẽ tranh, với mục đích gì, tôi cũng không nhận thức được…. Tôi chỉ đơn thuần thấy nó liên quan đến cha mẹ mình, và tôi đến.

Việc vẽ bức tranh bằng chất liệu sơn dầu được thực hiện tại xưởng vẽ nằm phía sau cung văn hóa Hữu nghị. Chỉ biết rằng, khi tôi đến, tôi được giới thiệu với một người đàn ông trong số những người có mặt, rằng đây là anh Thu, con rể cả của ông Hoàng Quốc Việt.

Cũng vì thiếu nhận thức về mục đích của việc vẽ tranh, lại chẳng hiểu gì về hội họa, nên tôi cũng không biết nói chuyện gì với mọi người, nhưng vì nhắc đến Hoàng Quốc Việt, lập tức nội dung câu chuyện của người sưu tầm sách cũ với cuốn Truyện Kiều từ hồi nào hiện lên trong đầu tôi.

Sau vài ba phút đi tới đi lui, lúc ra gần cửa ra vào, anh Thu cười bảo tôi với âm giọng thì thào:

“Ôi, nhà tôi đến khổ sở về cái cuốn Truyện Kiều của cụ Vĩnh đấy….”.

Chỉ một câu như vậy với tôi, có lẽ đã là quá đủ để tôi nhận thấy câu chuyện của người bạn bán sách cũ kia là hoàn toàn thật. Tôi đắc chí vì vô tình, sự việc chỉ thoảng qua trong cuộc sống, nay đã được tái hiện như một sự khép kín của đường tròn, nó giúp tôi hoàn toàn tin những gì người bạn sưu tầm sách đã kể với tôi nhiều năm về trước.

Tôi không định lợi dụng, đúng hơn tôi đã không đủ nhạy bén để chủ trương đi sâu vào khai thác sự việc này, vì vậy, khi nghe anh Thu nói như than thở, tôi chỉ nói được một câu vuốt đuôi, như để muốn tỏ ra rằng mình cũng hiểu nội tình câu chuyện. Tôi đã nói với anh Thu:

“Dạ, vâng! Tôi cũng được nghe kể về sự kiện này từ nhiều năm trước, liên quan đến đám tang của cụ Hoàng Quốc Việt”.

Anh Thu bĩu môi… bảo tôi:

“Đấy, ông thấy khổ không…?!”.

Suy ngẫm.

Năm tháng trôi đi, cuộc đời đã đánh thức tôi bằng nhiều sự việc, và nhắc tôi hãy mở to mắt ra mà nhìn cuộc sống. Đừng vì cứ bị ru ngủ, vì từng được dăm ba cái phần thưởng đã ngỡ mình là nhất xóm, nhất làng, rồi ngồi quy ra, cái phần thưởng ấy bằng mấy tạ thóc, yến khoai, rồi rung đùi bởi cái sự ban phát đó… Từ đó, quay lưng với những điều ngang trái, với những bất công, thậm chí là cả sự độc ác đã sảy ra với chính những người thân của mình trong quá khứ, mà vẫn chép miệng bảo: chuyện ngày xưa ấy mà!

Năm 2006, trong hành trình thực hiện việc làm bộ phim tài liệu về học giả Nguyễn Văn Vĩnh, tôi đặt ra lịch quay phim ở bảo tàng Nguyễn Du thuộc xã Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Tôi nghĩ được đến trường đoạn này, chính là nhờ cái câu chuyện của gia đình ông Hoàng Quốc Việt.

Thật là may mắn lớn, vì lần quay phim ấy, đúng vào lúc cơ quan quản lý văn hóa của Tỉnh Hà Tĩnh vừa cho nâng cấp gian trưng bày các ấn phẩm Kiều của Nguyễn Du phát hành qua các thời đại. Người đến tham quan nhận thấy ngay tính quy mô và sự phong phú của gian trưng bày. Đồng thời qua đó, chứng minh được cái giá trị rộng lớn và lâu dài của tác phẩm, cảm nhận được cái ảnh hưởng sâu đậm của nội dung, và cái vĩ đại của thi hào Nguyễn Du.

Riêng những cuốn Kiều đề tên Nguyễn Văn Vĩnh dịch, có đến 5 bản, cả bản dịch đầu tiên từ chữ Nôm ra Quốc ngữ 1913, cho đến bản dịch sang tiếng Pháp in năm 1942, nghĩa là 6 năm sau khi ông mất, người Pháp mới thấm thía cái tuyệt hảo của Truyện Kiều và họ mới quyết định để NXB Alexander de Rhodes phát hành.

Một góc gian trưng bày các ấn phẩm Kiều tại bảo tàng Nguyễn Du ( Ảnh chụp năm 2006)

Tôi khẳng định là may mắn khi chúng tôi tới quay phim ở bảo tàng Nguyễn Du năm 2006, bởi lẽ, nếu hôm nay, do nghe tôi kể mà ai đó vì ngưỡng mộ, quyết tâm đi 350 km đến để thể hiện sự say mê, yêu quý Truyện Kiều như ông Hoàng Quốc Việt, thì cái gian trưng bày đó đã không còn cái quy mô như tôi đã đưa vào bộ phim của mình.

Tôi hỏi thẳng thắn những người có trách nhiệm của bảo tàng trong lần vào thăm sau đó, khi thấy gian trưng bày bị thu hẹp, và số lượng bản phẩm trưng bày còn lại rất ít, họ đã nói khẽ với tôi:

“Vâng, thu hẹp lại vì ở “trên” nói không nhất thiết phải quá quy mô như trước đây…!”.

Tôi thật buồn vì cách nghĩ về quy mô với một Danh nhân Văn hóa Thế giới của ai đó có trách nhiệm, về một Đại Thi hào của nền văn hóa Việt Nam.

Kết.

Ngẫm ra, trong cuộc đời này, phàm những gì là có thật, là vĩ đại và giá trị thực, theo cách này hay cách khác, bằng lúc này hay lúc khác, và với người này hay người khác nó vẫn sẽ tồn tại bất chấp thời gian, bất chấp mọi mưu tính và thủ đoạn.

Những giá trị bất hủ của văn hóa, là cơ sở làm nền tảng cho những điều mà nhân loại gọi là vĩnh hằng. Văn hóa, cũng chính là phép thử để đo cái giá trị của vật chất, cái thứ giá trị đã chôn vùi không biết bao nhiêu kẻ phù du, mà nguyên nhân, cũng chỉ vì họ đã thiếu mất cái nền tảng văn hóa.

Cảm ơn cuộc đời vì đã cho tôi nghiệm thấy điều, đúng là: thức lâu mới biết đêm dài.

NGUYỄN LÂN BÌNH.

HẾT

 

 

Các bài trong chuyên mụcCâu chuyện thứ hai – MỘT LẦN VÀ MÃI MÃI! >>

Comments

  1. Lương Tất Thắng

    Khi là sinh viên tiếng Pháp, chúng tôi được học môn Văn học phương tây, mới được biết về Cụ Nguyễn Văn Vĩnh là dịch giả chuyển tải rất nhiều các tác phẩm văn học Pháp sang tiếng Việt. Cụ cũng là người cổ súy việc phổ biến chữ quốc ngữ cho người Việt Nam ta. Vì những năm đầu thế ký 20, người Việt bấy giờ vẫn còn viết bằng tiếng Pháp và chữ hán nôm. Cụ Nguyễn Văn Vĩnh đã nhìn thấy được tầm quan trọng của chữ quốc ngữ đối với sự phát triển của dân tộc và đã khẳng định :” Nước Nam ta mai sau này hay dở cũng là ở chữ Quốc ngữ”. Ngày nay một cháu bé học một năm là đã biết đọc và biết viết tiếng Việt, chính là chữ Quốc ngữ mà mà cách đây 100 năm các cụ còn phải vất vả phổ cập nó. Xin cám ơn các vị tiền nhân.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *