GA HÀNG CỎ

Ngày 14/10/2017, báo Lao Động đăng bài của tác giả Bích Hà, viết về những gì liên quan đến nhà ga đường sắt ở Hà Nội, mà sinh thời được cả nước gọi bằng cái tên khai sinh là: Ga Hàng Cỏ.

Đầu thế kỷ 20, trong quy hoạch xây dựng của người Pháp ở Đông Dương, cầu Long Biên và ga Hàng Cỏ, là hai công trình kiến trúc quan trọng bậc nhất ở thành phố được gọi là thủ đô này. Mặc nhiên, hai công trình này đã trở thành chứng cứ quan trọng không thể phủ nhận của lịch sử tồn tại đối với thủ đô Hà Nội.

Từ khi còn ít tuổi, tôi đã được nghe cha mình giải thích tóm tắt, vì sao nhà ga đường sắt này được gọi là ga Hàng Cỏ, một lý do hoàn toàn đúng với nghĩa đen của từ hàng cỏ trên thực tế lịch sử.

Chín năm chiến tranh với người Pháp, những sự kiện lớn của quá khứ liên quan đến ga Hàng Cỏ, không biết bao nhiêu mà kể. Tôi nghĩ việc này, xin để dành cho những người làm sử.

Còn thế hệ chúng tôi, những kỷ niệm với ga Hàng Cỏ, tôi chắc chắn, chẳng người dân nào sống ở Hà Nội những năm 50, 60 và 70 của thế kỷ trước, lại không có lấy một vài kỷ niệm với địa điểm này. Và có lẽ, điều này không chỉ sảy ra với người dân thủ đô, mà còn đối với nhân dân cả nước. Tôi tin, nếu đem kể lại những hình ảnh của quá khứ, mà người ta vẫn gọi là kỷ niệm với nhà ga đường sắt này, thì không phải chỉ là rất rất nhiều những ký ức sâu nặng, mà những kỷ niệm đó còn đẫm cả nước mắt và máu của những thế hệ thanh niên, từng dắt tay nhau đi trên con đường này, con đường mà rất nhiều người lính đã gọi, đây là đường một chiều.

 

 Ga Hàng Cỏ trước năm 1972

Riêng với tôi, cái cảm xúc khi đọc bài báo Nhà nghiên cứu nói về giá trị văn hóa, kiến trúc của ga Hà Nội, đã khiến tôi hiểu đó là lời cáo chung về số phận, cho một công trình mang tính biểu tượng của lịch sử, là chứng nhân của một thành phố trải qua hai cuộc chiến tranh từng làm chấn động địa cầu.

Với cá nhân thôi, những kỷ niệm về ga Hàng Cỏ đã gắn liền với số phận của đời tôi, với tuổi trẻ của tôi. Ấy là cách nhìn hẹp, còn nhìn rộng ra, như đã viết ở trên, nó là những kỷ niệm của hàng nghìn, hàng vạn người, là những kỷ niệm của nước mắt và… máu của dân tộc này.

Chuyện đã qua.

Năm 1972, cái năm đỉnh điểm của chiến tranh Việt Nam, cái năm kinh hoàng của cả hai bờ chiến tuyến. Từ chiến dịch Đường 9 Nam Lào, Thành cổ Quảng Trị, rồi đến ngư lôi của thủy quân Mỹ thả giăng kín cảng Hải Phòng, cuộc tập kích của lực lượng không quân Việt Nam Cộng hòa ở Sơn Tây, cho đến chiến dịch không kích 12 ngày đêm, cái chiến dịch mà bao người đã ngỡ tưởng sẽ không còn Hà Nội….

Đất nước chìm trong lửa khói, đơn vị chúng tôi được lệnh khẩn trương chi viện cho các mặt trận phía Nam, điều mà từ khi chúng tôi cầm giấy gọi nhập ngũ tháng 12/1971, ai cũng hiểu con đường đi sẽ là như thế, nên chẳng ai quan tâm đến việc lúc nào, sẽ là lúc lên đường vào Nam?!

Từ vùng núi Ba vì, chúng tôi hành quân bộ về thị trấn Phùng để nhận quân trang quân dụng cho chuyến đi bộ vĩ đại đang chờ ở phía trước. Cấp lãnh đạo thông báo: Ngày mai, 19h00, chúng ta sẽ lên tàu hỏa từ ga Hà Nội, sau đó sẽ tập kết ở Nam Hà, từ đó sẽ hành quân bộ vào Nam. Sẽ có xe ô tô đưa các anh về Hà Nội trước giờ tàu chạy, yêu cầu tất cả sẵn sàng. Đặc biệt, khi vào ga, nghiêm cấm việc tự ý đi lại trong sân ga (thực ra là để khống chế những trường hợp có ý định “tụt’ lại).

17h00 hôm đó, chúng tôi đã tập kết trên sân ga Hà Nội.

Tôi ngạc nhiên khi chứng kiến, rất nhiều người nhà của một số anh có gia đình ở Hà Nội, đã nhốn nháo, í ới gọi tên người thân của mình. Tôi tự hỏi một cách ngớ ngẩn, rằng làm sao mọi người lại biết nhanh thế chứ? Mà mọi người đến đợi từ lúc nào không rõ? Khổ, họ đến sớm thế để làm gì? Liệu gia đình mình có ai ra tiễn mình không?

Tôi ngơ ngác đưa mắt tìm khắp các khu vực của sân ga. Tôi nhớ, hầu hết các anh bạn cùng đơn vị với tôi có gia đình ở Hà Nội, đều thấy có người nhà ra tiễn. Hình như, duy nhất chỉ có mình tôi là không có ai … Lý do gia đình tôi không có ai ra tiễn, phải đến gần một năm sau tôi mới hiểu qua thư của mẹ viết cho tôi gửi vào đơn vị.

Đứng trên sân ga, giữa cảnh ồn ào của người đi kẻ ở, giữa cái không khí như sắp chia ra làm đôi. Tôi tủi thân, ngậm ngùi đứng nhìn mọi người đang ríu rít. Họ ôm nhau, họ giúi thêm cho người thân của mình gói kẹo lạc, bao thuốc lá. Họ căn dặn nhau phải cẩn thận, phải chú ý….

Tôi thấy cái bịn rịn, cái xao xuyến của kẻ ở nhiều hơn người đi! Tôi đoán, thứ nhất, vì họ đông hơn, họ đông hơn nên cái day dứt của họ lớn hơn khi nó được cộng lại. Thứ hai, không ai bảo ai, không ai dám nói với ai rằng, thôi nhé, vĩnh biệt nhé…. Cho dù trong lòng, ai cũng biết, người lính, chiến tranh và cái chết là đồng nghĩa. Thậm chí, ngày đó, có người còn xác định với thái độ lạc quan lạ lùng là, một là xanh cỏ, hai là đỏ ngực nhé! Có lẽ vì thế, nên cái không khí chia tay nó thật lạ lùng, nó khác tất cả những cuộc chia tay mà đến tuổi đó tôi đã từng được biết. Tôi biết nhiều hơn người khác bởi lẽ tôi đi xa gia đình từ lúc 15 tuổi.

Bức ảnh hiếm hoi của tác giả ở Trường Sơn 1974.

Có hai người con gái chạy ùa đến trước mặt một anh bạn đứng gần tôi, anh bạn tên là Hạnh, anh là công nhân của Đoạn Toa xe Hà Nội, vậy nên nhà ga này với anh cũng gần gũi như nhà mình. Trong hai người con gái đó, có một chị nhiều tuổi hơn người kia, tên chị là Nhung, bạn cùng xi nghiệp với anh Hạnh. Tôi nghe thấy chị nói thất thanh với anh Hạnh:

“Ôi, anh đi B à?Hôm nay em được nghỉ, nhưng vì có việc chạy qua xí nghiệp, thấy mọi người bảo nhau anh đang chuẩn bị lên tàu đi B, em chạy ào ra đây. Em xin lỗi, vì không biết trước nên chẳng có gì mang cho anh…..”.

Người con gái trẻ hơn, chỉ là vô tình đang đi cùng với chị Nhung, bị chị Nhung rủ  cùng vào sân ga, tự nhiên cô rơi vào cảnh một mình, khi chị Nhung đang vồn vã trò chuyện với anh Hạnh.

Người con gái đó quay sang nhìn tôi, thấy tôi cũng đang đứng một mình… Ngày đó, chúng tôi đã rất quen với cảnh một mình rồi, đâu phải chờ đến hàng chục năm sau, người đời mới biết “Một mình” của nhạc sỹ Thanh Tùng.

Cô bạn gái “tự dưng” đó có tên là Nhật. Cô hỏi tôi thật vô tình một cách tự nhiên:

“Ơ, sao người nhà anh không ra tiễn à?”.

Cô vô tư quá, cô không hề biết cô đã xát muối vào nỗi đau đang giày vò tôi. Thú thật, lúc đó tôi cũng chẳng buồn bao nhiêu vì sự vô tình đó của cô. Cái khoảnh khắc mà lòng dạ tôi cũng không hiểu mình nên quan tâm đến điều gì nữa. Cho đến lúc đi xa rồi, tôi mới biết, những giây phút ấy, hoàn toàn có thể sẽ không bao giờ lặp lại trong đời.

Hai người chúng tôi cũng có đôi ba lời trao đổi nhàn nhạt, vì có phải là gì của nhau đâu mà mặn mà, mà thắm thiết. Cô Nhật chúc tôi cũng giống như những lời chúc trên báo đài thời bấy giờ cho những ai đi chiến trường. Tôi cũng không lạ gì cái cách nói mà đa phần ngày ấy, mọi người đều nói giống nhau: Đi nhé, cố gắng hoàn thành nhiệm vụ và lập nhiều chiến công….!

Song dù gì, tôi cũng mãi biết ơn sự có mặt vô tình của Nhật, vì nếu tôi có không bao giờ trở lại, cô sẽ là hình bóng, là gương mặt người quen cuối cùng trong tâm trí tôi trước khi lao vào lửa đạn. Hơn nữa, việc tôi mang mãi hình ảnh của người duy nhất tiễn đưa mình vào chiến trận, nó hằn sâu trong tâm khảm tôi những ngày sau đó, rồi thành nhớ, thành mơ… mà từ nhớ đến gì nữa thì ai mà biết được? Tôi vẫn thầm cảm ơn cô Nhật mãi… kể cả cô đã quên tôi từ lâu lắm rồi.

Rồi tiếng còi của người cán bộ chỉ huy vang lên, một thứ hiệu lệnh thật tàn nhẫn, như một sự cắt đứt thô bạo những sợi dây tình cảm của tất cả những ai trên sân ga, đang quyến luyến, thổn thức với người thân trước giờ ra trận. Chẳng ai trong chúng tôi dám cưỡng lại, bởi vì mọi người đều hiểu: chiến tranh mà, quân lệnh như sơn! Hơn nữa, ai trong chúng tôi cũng hiểu, phải lên đường!

Người chỉ huy nói lớn, yêu cầu tất cả anh em trong đơn vị X lên tàu khẩn trương. Lúc này là đúng 6 giờ chiều, tôi lại ngây ngô tự hỏi, tại sao thông báo là 19h00 cơ mà?! Tôi cứ nghĩ  như lịch của tàu liên vận quốc tế. Tôi đã quên mình là bộ đội.

Thực tế, dưới sân ga chỉ còn các anh em có gia đình ở Hà Nội, còn lại, những anh em ở tỉnh khác đã ở trên toa tàu rồi. Tiếng chào, tiếng gọi giữa người đi, kẻ ở lại râm ran, không, phải nói là ồn ào, ầm ĩ lắm, nó có cái gì mà theo tôi, có thể gọi là chới với, vì khoảng cách từ sân ga đến con tàu đã dần xa thật rồi….

Bỗng: rầm… rầm, tiếng giật của đầu tầu khi khởi hành, làm xô cái đoạn nối giữa các toa tàu, tạo ra một thứ âm thanh ghê rợn, nhưng nó ghê sợ hơn bởi lẽ, đó là sự báo hiệu của một sự chia tay không có hồi kết, chia tay không có sự đảm bảo cho ngày gặp lại, thậm chí với nhiều người trong chúng tôi sau này đã là sự vĩnh biệt, làm sao lại chào từ biệt được?!

Nhưng hãi hùng hơn cả cái tiếng cọ xát của kim loại giữa các toa tàu, ghê răng hơn cả cái tiếng rít của bánh xe lửa nghiến xuống đường ray, và tiếng còi đồng thời của cái đầu máy hơi nước thường vang vọng đến cả cây số, là tiếng òa khóc đồng thanh của tất cả những người đứng trên sân ga. Tiếng khóc rồi biến nhanh thành tiếng gào, tiếng gọi mà thực ra là tiếng thét khi đoàn tàu tăng tốc độ ra khỏi ga…. dứt khỏi những sự quyến luyến đang ở mức cao độ giữa những thằng người với nhau.

Tất cả đều khóc, kẻ ra đi, và người ở lại đều khóc, tiếng khóc vượt lên cao biến thành sự gào thét, nó đạt đến sự thảm thiết, hiệu ứng của sự vô vọng. Hôm nay nhắc lại, mọi ký ức của cái buổi chiều trên sân ga Hà Nội đó, vẫn nguyên vẹn trong đầu và trong tim tôi.

Riêng tôi, không có giọt nước mắt nào, cho dù tôi vốn là kẻ rất mau nước mắt. Hay do vì tôi không có người thân đưa tiễn, không chịu cái sự đứt phựt của cái sự chia cắt. Hơn nữa, có thể vì cô bạn gái vô tình là người đưa tiễn tôi thực sự là do vô tình, nên tâm trạng tôi chỉ im lặng… Tôi biến thành nhân chứng, kẻ quan sát và ghi nhớ mãi những giây phút kinh hoàng đó cho đến hết đời.

Năm 1964, nhân dịp kỷ niệm 10 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, tại Nhà hát lớn Hà Nội tổ chức buổi biểu diễn ca nhạc chào mừng rất quy mô. Đó là lần đầu tiên ở Việt Nam có biểu diễn giao hưởng hợp xướng,

Tổ khúc giao hưởng đầu tiên ở Việt Nam là kết quả của việc ghép 5 bài hát thành một tiết mục mà tác giả là nhạc sỹ Đỗ Nhuận, và chỉ huy dàn nhạc là Cao Việt Bách. Tôi đã không quan tâm đến một dàn đồng ca phải là có bao nhiêu người hát thì sẽ được gọi là hợp xướng, tôi chỉ biết buổi hôm đó nhiều người lắm, đông lắm.

Tôi được cha tôi cho đi cùng vào nhà hát bằng cửa sau, và tôi được đứng trong phòng đặt máy tăng âm ngay bên trái phía trước sân khấu, vì người phụ trách âm thanh hôm đó là học trò của cha tôi.

Vậy nhưng, dù dàn hợp xướng khá đông người, cùng dàn nhạc lớn, có cả thiết bị tăng âm, mà tôi đứng gần sân khấu như thế, cũng không thấm tháp gì với những tiếng gào khóc xé lòng của cái buổi chia tay của anh em chúng tôi trên sân ga Hà Nội ngày ấy!

Anh chị em cùng đơn vị X 34 Đoàn 559, hội ngộ năm 2010. Trong những người đồng đội này, có 7 người đã cùng đi chuyến tàu với tác giả năm 1972

Đã có bao nhiêu người dân ở cái thành phố được gọi là Thủ đô này, trong những năm chiến tranh, từng chứng kiến khi các đoàn tàu chở quân đi vào hướng Nam, cái nơi chắn tàu hỏa đầu tiên là đầu phố Khâm Thiên ấy, làm sao những người dân đứng chờ tàu chạy qua như những người làm nhân chứng đó, quên được những cái vẫy tay của người lính, những lời chào vội vã cuốn nhanh theo đoàn tàu, và đôi khi cả những lời nói chẳng nghiêm túc chút nào của đôi ba những người lính cực đoan khi nghĩ đến chiến trận.

Thật hay, vì hầu như những người dân đang đứng dưới mặt đường chờ con tàu quân sự chạy qua, chứng kiến những người lính đi vào chiến trường với những lời chào, mà đôi lần có cả những lời khiếm nhã của người lính nào đó như: “Tao đi đây, đi chết đây….”, ấy vậy mà tuyệt nhiên, không thấy có ai có thái độ tỏ ra giận dữ, hay trách cứ lời nào vì sự vô lễ của ai đó trong đoàn quân.

Có lẽ, sự nhường nhịn đến mức nén lòng ấy, chính là sự chia sẻ của nhân dân với những người lính hướng ra trận mạc. Nhân dân bao giờ cũng độ lượng mà….

Lời cầu nguyện.

Sau này tôi từng tả lại cho rất nhiều người thân, cái buổi chia tay kinh hoàng đó, và tôi vẫn suy ngẫm để hiểu, rằng cái lực đẩy nào đã tạo cho con người ta cất lên được cái màn khóc hợp xướng vĩ đại như vậy? Tôi cũng tự hỏi, vậy cái người nhạc trưởng của màn hợp xướng nước mắt đó là ai? Liệu có phải là lịch sử không? Có phải là lương tâm không? Và như thế, cái nơi ấy có đáng được gọi là nơi thiêng liêng không? Để hôm nay, “họ” nghĩ đến chuyện dẹp nó đi.

Chắc chắn, việc “dẹp” cái di tích của lòng người đó, không phải để phục vụ cho những giá trị cao quý, cho niềm kiêu hãnh của một dân tộc đã từng dám chấp nhận “xanh cỏ…”!

Tôi biết, “họ” sẽ làm những gì họ muốn, nhưng từ góc cá nhân, tôi không muốn con cháu họ sau này phải khóc vì những quyết định ngày hôm nay của “họ”, trong khi cả thế giới đều đang nhìn thấy sự thật, rằng giàu như Đinh, như Trịnh, mà đã bao đêm nay rồi, cứ phải uống thuốc ngủ mới chợp mắt được. Còn rất nhiều những đồng môn trong cái tầng lớp “họ” ấy sẽ phải mang nợ và hình phạt vô hình với những người đã ra đi từ đó không về….

Cảm ơn tác giả bài báo Nhà nghiên cứu nói về giá trị văn hóa, kiến trúc của ga Hà Nội, cảm ơn báo Lao động đã giúp tôi có lý do để kể câu chuyện này!

 

NGUYỄN LÂN BÌNH

Hà Nội, 8/1/2018.

 

Comments

  1. Thịnh Bùi Hữu

    A Lân Bình viết thật cảm động.Trong gia đình tôi cũng có 2 người từng có mặt trên những chuyến tàu năm ấy,và những cảnh tượng đó thì thoảng tôi cũng được nghe tả lại từ chính họ.Còn Ga Hàng Cỏ thì tôi vẫn tin sẽ không thể bị phá bỏ hết, chí ít thì cũng là toà nhà mang bao dấu ấn lịch sử hình thành và phát triển của TP Hanoi cả về Kinh tế,Văn hoá,Đô thị…Tôi vẫn còn chút lạc quan tin vậy.
    Các bài viết anh gửi tôi đều đọc cả.Mong anh khỏe,tiếp tục chiến đấu và giữ vững niềm tin là sớm muộn cũng sẽ đến ngày Lịch sử trả lại giá trị đích thực các cống hiến to lớn của cụ Nguyễn Văn Vĩnh!Tôi rất mong điều đó sớm thành sự thật.

  2. nguyễn lân bình

    Xin được giới thiệu ý kiến của thầy giáo Vũ Thế Khôi viết ngày 11/1/2018 qua mail.
    Bài viết chân thực và xúc động của người trong cuộc, bây giờ là chứng nhân của thời máu lửa. Bình may mắn, nên con đường sắt đi Nam không là “đường một chiều”. Học trò của anh, nhiều đứa sắp cầm bằng tốt nghiệp, đã vĩnh viễn nằm lại dưới đáy sông Thạch Hãn, trong và quanh Thành Cổ. 27 – 07 năm vừa rồi anh vào thắp hương ở bìa ruộng, nơi một học trò khi ra đi để lại vợ trẻ và con gái chưa đầy 1 tsuổi, khi anh đứng dậy, hương hóa, cháy xém ống quần. Vợ bảo bỏ, nhưng anh giữ lại làm kỉ niệm. Trong ảnh năm 1974 ở Trường Sơn, Bình là đứa nào thế? Xin được chia sẻ lên FB

  3. nghiem trong hanh

    Cảm ơn Lân Bình .Tôi là người lính trong chuyến tàu định mệnh năm xưa .Bây giờ nhìn lại gần nửa thế kỷ ,đọc lại bài viết của anh tôi thực xúc động .Không biết nên buồn hay vui đây ! Những viên gạch lát trên sân ke ga đường số 3 còn nguyên vẹn .Những chứng nhân vẫn còn ,chị Nhung ở Nha Trang ,chị Nhật ở Sài Gòn .cốc bia hơi uống vội trước lúc lên tàu .Sân ga già nua vẫn cần mẫn đón khách .Buổi chiều năm xưa quên làm sao được khi tiếng khóc là chủ đạo ,rồi tiếng dặn dò nhắc nhở ,cả tiếng hét ai oán khi đoàn tàu bắt đầu chuyển bánh vào Nam .Tất cả sống động như mới hôm qua .Có khác chăng chúng ta đã trở thành những ông già ốm yếu ,hy vọng càng xa vời .Tất cả hy sinh tuổi trẻ ,đổ máu thương tật đã mang lại điều gì ? Một lần nữa cảm ơn Bình .

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *