NGUYỄN VĂN VĨNH, MỘT NHÀ XÃ HỘI HỌC *

Lời dẫn.

Thưa các quý vị và các bạn!

Vương Trí Nhàn, là nhà nghiên cứu văn hóa, văn học, nhà phê bình văn học, sinh năm 1942 tại Bắc Ninh.

Ông tốt nghiệp đại học Sư phạm Hà Nội 1964, và đã từng tham gia quân đội tại chiến trường B5 (khu vực Quảng Trị).

Thập kỷ 70, ông học tiếng Nga, công tác tại Tạp chí Văn nghệ Quân đội. Năm 1977  ông là hội viên của Hội Nhà văn Việt Nam và làm việc tại NXB Hội Nhà văn Việt Nam.

Năm 1990, trong khi đang theo học tại trường viết văn Gorki của LB Xô Viết, ông đã viết bài nhận xét nổi tiếng về nhà văn Nguyễn Huy Thiệp có tựa đề là “Khuôn mặt nhàu nát vì đau khổ”.

Vương Trí Nhàn vốn một thời thiên về văn học sử với nhiều bài nghiên cứu về các nhà văn tiền chiến như Thạch Lam, Vũ Trọng Phụng….

Gần đây, ông tiếp cận với đề tài học giả Nguyễn Văn Vĩnh, một đề tài đã làm ông thổn thức tâm can và say mê trân trọng, đặc biệt là sau khi ông đọc hai cuốn sách lần đầu tiên được xuất bản của NXB Tri thức về Nguyễn Văn Vĩnh.

Ông thực sự quan tâm đến lịch sử, dân tộc học cũng như xã hội học, ông trở nên gần gũi với văn hóa học.

Nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn

Đầu năm nay, khi tiếp cận với một trong 500 bài viết tiếng Pháp của học giả Nguyễn Văn Vĩnh, đăng trên tờ L’Annam Nouveau – Nước Nam mới số 140, ra ngày 2/6/1932 ở Hà Nội, có nhan đề Le vieux Hanoi (Phố cổ Hà Nội), nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn đã giãi bày cảm xúc và nhận thức từ góc quan sát của mình về Nguyễn Văn Vĩnh dưới phạm trù xã hội học, và đăng ở trang tin vuongtrinhan.blogspot.com.

Chúng tôi thực sự ấn tượng với cách suy nghĩ của nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn, và xin được trích đăng đoạn đánh giá của ông về học giả Nguyễn Văn Vĩnh.

Xin được giới thiệu với các quý vị và các bạn!

Trân trọng!

TNT.com

NGUYỄN VĂN VĨNH, MỘT NHÀ XÃ HỘI HỌC *.

Vương Trí Nhàn

…Trong các bộ lịch sử văn học kể cả trước 1945 và ở Sài Gòn trước 1975, Nguyễn  Văn Vĩnh thường chỉ được giới thiệu như một dịch giả và một nhà báo, người làm Đông dương tạp chí.

Trong xã hội  chúng ta đang sống, nghề báo thực chất là một nghề làm chính trị, truyền thống báo chí VN trước 1945 không bao giờ  được nghiên cứu một cách khoa học, như một nghề nghiệp,  nên chúng ta ít khai thác cái phần mạnh nói trên của ông Vĩnh. Rút lại sở dĩ ông được đoái hoài tới ít nhiều chỉ là vì ông có công lớn với sự hình thành và phát triển chữ quốc ngữ.

Đầu  2013, trong lời giới thiệu  cuốn sách mỏng Lời người man di hiện đại, tập hợp một số bài báo của ông viết bằng tiếng Pháp, được dịch ra tiếng Việt, những người biên soạn vẫn còn viết:

“Cuối thế kỷ XIX sang đầu thế kỷ XX là giai đoạn hệ trọng nhất trong lịch sử văn hóa và ngôn ngữ ở Việt Nam với thời điểm chuyển dịch việc sử dụng chữ viết Hán-Nôm sang chữ Quốc ngữ mang tính đại chúng. Lịch sử Việt Nam đã ghi nhận vai trò của các nhân sĩ đương thời trong giai đoạn này và đó cũng là những người đóng góp quan trọng vào tiến trình quảng bá và phổ cập chữ Quốc ngữ, trong số đó phải kể đến tên nhà báo, dịch giả Nguyễn Văn Vĩnh…”

Nhưng khi tìm hiểu  những tờ báo bằng tiếng Pháp mà Nguyễn Văn Vĩnh đã làm, và một số bản dịch mới công bố trong cuốn Lời người man di hiện đại,  những người  không biết tiếng Pháp và chỉ đọc được Đông dương tạp chí vẫn có thể cho rằng ông là một trí thức lớn, một nhà nghiên cứu Việt Nam sâu sắc từ quan niệm hiện đại. Một nhà văn hóa với nghĩa tốt đẹp nhất của từ này.

Đứng về mặt khoa học nhân văn mà xét, có thể gọi ông Vĩnh là một nhà xã hội học, với một bút pháp không mang chất hàn lâm mà lại rất phổ cập, của một nhà báo đạt trình độ quốc tế.

Cho đến  những năm cuối thế kỷ XX, đầu XXI này ở các trường đại học VN, xã hội học vẫn là một ngành khoa học quá non trẻ quá sơ sài, không đủ khả năng khách quan hóa thực thể  VN  trong quá khứ để mổ xẻ, để nghiên cứu những bước đường đã qua của cộng đồng như một xã hội, từ đó dự đoán tương lai là cái điều đang mù mờ hơn hết trước mắt chúng ta.

Một trong những lý do khiến người ta lảng tránh không muốn nhận Nguyễn Văn Vĩnh là nhà nghiên cứu VN đi tiên khu trong lĩnh vực này chính là  vấn đề ngôn ngữ, nói cụ thể là viết bằng tiếng Pháp.

Lâu nay các nhà nghiên cứu Hà Nội vẫn có lối cái gì không đọc được thì coi như không có. Và chúng ta đã tự mâu thuẫn mà ta không biết. Tại sao chúng ta công nhận bộ phận viết bằng chữ Hán của các nhà nho từ thế kỷ XIX về trước, xem đó  là phần tự ý thức của dân tộc mà lại bỏ qua văn học tiếng Pháp của các nhà khoa học các nhà văn đầu thế kỷ XX?

Tạm nêu một ví dụ: cuốn Văn minh Việt Nam của Nguyễn Văn Huyên, một sự bổ sung, một sự tiếp nối, và trong chừng mực nào đó là một sự  vượt lên so với Việt Nam văn hóa sử cương của Đào Duy Anh chính là viết bằng tiếng Pháp; nay tác phẩm của Nguyễn Văn Huyên đã được dịch ra và phổ biến rộng rãi.

Các tác phẩm của Nguyễn Văn Vĩnh cần được đối xử tương tự.  Đó là cả một kho tàng lớn, không chỉ giúp vào việc tìm hiểu xã hội VN thời trung đại mà còn đánh dấu sự tiến triển của tư duy Việt trong công cuộc hiện đại hóa đầu thế kỷ XX.

Trong phần phụ  lục của cuốn Lời người man di hiện đại những người biên soạn cho biết hiện đã dịch và sắp xếp lại phần di sản của Nguyễn Văn Vĩnh. Nhưng cũng như di sản của Phạm Quỳnh, phần di sản này của ông chủ Đông Dương tạp chí và L’Annam Nouveau – Nước Nam mới, chỉ được đề cao nhưng lại không được triển khai xứng với tầm vóc của nó.

Nơi tiêu thụ tốt nhất của các công trình tư tưởng là các trường đại học thì sách lại không được bén mảng tới. Đây cũng là điều dễ hiểu trong hoàn cảnh cả xã hội đang trong một lộ trình phát triển mà không cần nghiên cứu. Song chúng tôi vẫn tin chắc là chúng ta không thể thay đổi được nếu phớt lờ di sản tư tưởng trước 1945.

Hà Nội, 8/1/2017.

 

 

  • Đầu bài do BBT. TNT.com đặt

 

 

 

Comments

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *