Nhân sáng kiến ‘Tiếq Việt’, đọc lại Nguyễn Văn Vĩnh

TTO – Cháu nội học giả Nguyễn Văn Vĩnh vừa gửi cho Tuổi Trẻ Online một bài viết về ý nguyện ‘tân trang’ tiếng Việt của học giả từ trăm năm trước.

Ông Nguyễn Lân Bình viết cho Tuổi Trẻ Online – trích đăng:

Nhìn lại bối cảnh lịch sử trước yêu cầu phát triển và hoàn thiện chữ viết tiếng Việt của học giả Nguyễn Văn Vĩnh, so với ngày hôm nay của chuyên gia Bùi Hiền, là sự khác biệt toàn diện.

Những quyết tâm của Nguyễn Văn Vĩnh trong việc làm hoàn thiện Quốc ngữ từ khi nó chưa được định hình là quốc tự, được bắt đầu từ năm 1907, nhằm chứng minh sự tiện lợi, khả năng văn học, tính văn hóa của một loại chữ viết.

Mục đích của ông, hướng đến sự cạnh tranh với chữ Hán, chữ Nôm và Pháp ngữ, hòng sớm giành được vị trí độc tôn, thể hiện sự độc lập của một dân tộc có nền tảng văn hóa riêng biệt.

“Thời đó, Nguyễn Văn Vĩnh mong muốn thứ chữ viết được Latin hóa này, sẽ đủ sức chuyển tải những tinh hoa của nền văn minh nhân loại, giúp người dân khám phá những tiến bộ trong tư tưởng, khoa học và xã hội của thế giới, thông qua con chữ. Ông tin rằng, có chữ sẽ có kiến thức, có kiến thức sẽ đưa con người thoát được sự lạc hậu, nghèo đói và mông muội.”

– Ông Nguyễn Lân Bình –

 

Ông Nguyễn Lân Bình đọc đáp từ trong buổi lễ Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh vinh danh học giả Nguyễn Văn Vĩnh là Danh nhân Văn hóa Việt Nam, tổ chức tại TP.HCM năm 2016

Ông nuôi ý định cải tạo tận gốc sự nhận thức của cả xã hội, hướng đến việc xây dựng một quốc gia phát triển, đoạn tuyệt với nền quân chủ phong kiến mà đại diện là triều đình nhà Nguyễn. Từ đó nhằm xây dựng một thể chế chính trị tiến bộ, đòi sự bình dẳng với chính kẻ cai trị mình.

Xuất phát từ nhận thức và lý tưởng đó, từ thập kỷ 20 của thế kỷ 20, khi nhà cầm quyền và tâm lý của người dân Việt Nam, dần nhận thấy vai trò đắc dụng của Quốc ngữ là không thể cưỡng lại, Nguyễn Văn Vĩnh đã nắm bắt yêu cầu của xu hướng toàn cầu hóa, bắt đầu từ ngôn ngữ, việc này gắn liền với những tiến bộ trong công nghệ in ấn, và điện tín quốc tế, nên ông đã theo sát những yêu cầu của xã hội đối với việc sử dụng Quốc ngữ.

Ông đã vắt óc để tạo ra sự thay đổi, khắc phục những điểm hạn chế của chữ viết tiếng Việt, tạo cơ sở khoa học trong việc quốc tế hóa chữ viết, phục vụ cho những tiêu chí của ngành bưu điện (1926 – 1927), làm thỏa mãn những đòi hỏi phức tạp của một thứ ngôn ngữ có quá nhiều dấu và âm sắc.

Nguyễn Văn Vĩnh đã thành công việc cải tiến Quốc ngữ dùng cho ngành điện tín (Tạp chí Tem-Bưu điện Việt Nam số tháng 11.2011. Tác giả Đoàn Quang Vinh).

Đây là giai đoạn phát triển rực rỡ của chữ viết tiếng Việt trên con đường soán ngôi  chữ Hán và chữ Pháp. Chính kết quả này, là cơ sở hình thành nền văn học chữ Quốc ngữ vào thập kỷ 30 và 40 ở thế kỷ trước, mà đại diện của nó là Phong trào Tự lực Văn đoàn.

Ngoài ra, phải kể đến vai trò lịch sử mang tính chính trị của Quốc ngữ, khi nó được biến thành phương tiện hữu hiệu trong việc giúp những nhà chính trị Việt Nam theo đường lối vô sản, đạt được thành công quan trọng, trong việc vận động quần chúng tham gia vào cuộc cách mạng lật đổ một thể chế chính trị, xây dựng một quốc gia bằng bạo lực cách mạng.

“Tác giả Bùi Hiền, cũng như mỗi người chúng ta, đều là những người được thừa hưởng những thành quả của các thế hệ nhân sĩ yêu nước đi trước, những người đã dốc lòng vì lòng tự tôn dân tộc, đưa được Quốc ngữ trở thành quốc tự. Trải qua một giai đoạn dài tiến hóa, nay ai đó muốn cho thứ chữ viết này tiện lợi hơn, khoa học hơn, tiết kiệm hơn, âu cũng là một đòi hỏi mang tính quy luật của một xã hội.”

– Ông Nguyễn Lân Bình –

Tuy nhiên, dù là ai, việc nêu những phát kiến về bất kỳ một lĩnh vực nào của cuộc sống ngày hôm nay, đặc biệt với ngôn ngữ và chữ viết, là thứ sản phẩm tinh thần không tự nhiên sinh ra, thứ sản phẩm là sự tích tụ trí tuệ của nhiều thế hệ, qua nhiều giai đoạn lịch sử, thì nhất thiết, họ nên nhìn lại một cách bao quát, tổng thể những gì các bậc tiên liệt đã làm.

Họ đã đạt được gì và điều gì còn dở dang, chưa thật hợp lý, nhất là khi xã hội ngày càng phát triển, càng có nhiều đòi hỏi mà ở những thế hệ đi trước không dễ tưởng tượng ra.

Vậy nên, một cá nhân, hay một nhóm người quan tâm đến một điều gì đó, mà qua đó muốn khẳng định những điều mình nêu lên là “tiến bộ”, là một việc nên nhường lại cho công chúng, cho thời gian, cho dù mục đích của những phát kiến đó là để phục vụ cộng đồng, xã hội.

Điều này vừa có lợi cho chính những tác giả của phát kiến, vừa thể hiện được tính kế thừa và tôn trọng lịch sử.

Hơn một thế kỷ trước, khi bàn đến những quan điểm khác nhau, những kiến nghị khác nhau của dư luận có tính tranh cãi, trước việc phát triển và phổ cập Quốc ngữ, ngày 4-8-1907, trước 300 cử tọa, tại Hội quán Trí Tri ở số nhà 59 phố Hàng Quạt (nay là số nhà 47) Hà Nội, Nguyễn Văn Vĩnh đã đọc một bài diễn văn nhân việc thành lập Hội Tri thức đầu tiên trong lịch sử của các nhân sĩ Việt nam, Hội Dịch Sách, ông đã  lưu ý như sau:

…. Kẻ hèn lấy điều ấy làm nhục, tôi tưởng rằng: ở đời người chỉ vui có cuộc đấu tài. Chứ cứ khoanh tay, mà có ăn cũng là uổng một đời, đến lúc chết, lại không biết mình sinh ra để làm gì. Có cạnh tranh, mới có học hành, mới có tư-tưởng. Người hơn cầm thú, chỉ vì có cái tư-tưởng…

Học giả Nguyễn Văn Vĩnh

Để giúp bạn đọc hiểu thêm tiến trình phát triển của chữ viết tiếng Việt ở thế kỷ 20, đồng thời làm cơ sở cho sự so sánh giữa hôm nay và hôm qua trong các mối quan hệ liên đới, chúng tôi xin được giới thiệu, một trong rất nhiều bài viết thể hiện nhận thức, kiến thức của học giả Nguyễn Văn Vĩnh về tiếng Việt.

Bài viết này là một trong những tư liệu được sưu tầm và sẽ in trong cuốn sách sắp xuất bản “Nguyễn Văn Vĩnh, Người yêu tiếng Việt trọn đời” của Nhà xuất bản Trí Thức, dự kiến phát hành vào quý 1 của năm 2018.

Nhân sáng kiến Tiếq Việt, đọc lại Nguyễn Văn Vĩnh - Ảnh 5.

Bài viết của học giả Nguyễn Văn Vĩnh

Nhân sáng kiến Tiếq Việt, đọc lại Nguyễn Văn Vĩnh - Ảnh 6.

Bài viết đã in trong cuốn sách Chữ quốc ngữ và cuộc cách mạng chữ viết đầu thế kỷ 20 của nhà nghiên cứu Hoàng Tiến

CÁCH VIẾT CHỮ QUỐC NGỮ *

(L’Orthographe dans le quốc-ngữ)

ĐDTC số 82 năm 1914.

Trước khi tôi được qua xứ Trung-kỳ và Nam-kỳ, tôi vẫn cho cách phân biệt chữ ch với chữ tr, chữ s với chữ x, chữ d, chữ gi, với chữ r, là một cách vẽ vời của mấy người có đạo, theo những sách quốc-ngữ của các cố, mà câu nệ, rồi lại muốn cả những người khác cũng câu nệ như mình, để cho những sách đạo thành ra như kinh-truyện văn nôm.

Nay tôi đã qua đàng-trong ít lâu, đã trải những sự khó khăn trong tiếng nói người đàng trong với đàng-ngoài rồi, thì tôi mới biết chắc rằng sự dùng chữ lẫn lộn của người xứ Bắc ta, là lầm; mà sự phân biệt của người đàng-trong, dẫu những người làm sách quốc-ngữ trước cũng có tự tiện ít nhiều, nhưng thật là phải lẽ, hợp với sự thật, vả lại làm cho tiếng An-nam giầu thêm ra được mấy âm.

Tiếng ta đã hiếm tiếng, mà được thêm ra ít tiếng, cũng là thêm rõ ràng, thêm tinh-vi ra một chút.

Như chữ ch với chữ tr, từ Thanh-hóa trở vào, ngoài Bắc-kỳ cũng có mấy hạt, phân biệt hẳn, đến nỗi đọc lộn chữ nọ làm chữ kia, thì không ai hiểu được.

Như tiếng:

Cha mẹ mà đọc làm tra (khảo)

Trung hiếu mà đọc làm chung (tất)

Trâu bò mà đọc làm châu (báu)

Trọn vẹn mà đọc làm chọn (kén)

Thì người nghe hiểu lẫn. Như trong một câu mà chỉ có một tiếng thì còn có thể đoán được. Ví bằng có ba bốn tiếng viết sai, hay là đọc sai như thế thì người nghe rồi hẳn tai không hiểu được nữa.

Chữ s với x, phân biệt với nhau giống quan hệ bằng chữ ch với chữ tr.

Chữ s thì đàng-trong đọc mạnh, uốn lưỡi như là chữ ch tây. Chữ x thì đọc nhẹ như ngoài ta.

Xinh tốt thì đọc nhẹ…. Sinh sản thì đọc nặng,

Xa xôi thì đọc nhẹ … sa chân thì đọc nặng,

Xong rồi thì đọc nhẹ… song le thì đọc nặng,

Xông pha thì đọc nhẹ…. Sông núi thì đọc nặng

Còn chữ d với chữ gi thì ở Trung-kỳ , Nam -kỳ đọc không phân biệt, mà viết lại phân biệt lắm. Hai chữ đó thường đàng-trong cứ đọc hơi giống như chữ y tây. Chớ khi thành hẳn chữ z tây, như là ngoài Bắc ta thường đọc. Người ngoài Bắc thì trong khi nói những tiếng: da, dám, giầu, riêng, dùng, giác, dóc, thì thường có kẻ đọc như đàng-trong, có kẻ đọc rõ hẳn như chữ z tây, có kẻ đọc uốn lưỡi như chữ j tây. Ít người đọc như chữ r tây. Đọc thì có cách khác nhau như thế, nhưng không phân biệt, mà tiếng đọc sai không sai đến nghĩa.

Đàng-trong thì đọc không phân biệt d với chữ gi; nhưng mà hai chữ ấy (d với gi) thì phân biệt hẳn với chữ r, chớ không đọc lẫn lộn cả như ngoài ta.

Lại còn mấy cách phân biệt tiếng đàng-ngoài với tiếng đàng-trong nữa, xa nhau hơn những cách trên này nhiều. Như là mấy tiếng ngoài này đọc và viết bằng chữ gi thì đàng-trong đọc và viết bằng chữ tr, như là:

Trồng cây, ngoài ta nói giồng cây,

Trời đất, ngoài ta nói giời đất

Trầu cau ngoài ta nói giầu cau

Trao đổi, ngoài ta nói giao đổi;

Có một tiếng ngoài ta dùng chữ s, trong dùng chữ tr là tiếng trống mái – Ngoài ta nói sống mái.

Nhiều tiếng ngoài ta dùng nh thì đàng-trong dùng l, như là:

Lớn, ngoài ta nói nhớn

Lời, ngoài ta nói nhời

Lẽ, ngoài ta nói nhẽ

Lầm, ngoài ta nói nhầm.

Có mấy tiếng ngoài ta dùng chữ d thì đàng-trong nh, như là:

Con nhện, ngoài ta nói con dện,

Mũi nhọn, ngoài ta nói dọn,

Nhịp cầu, ngoài ta nói dịp cầu

Nhúm lửa, ngoài ta nói dúm lửa.

Lại có tiếng khác nhau, như tiếng ngắn (dài) ngoài ta, trong nói là vắn – Bắc cũng có người nói vắn.

Đó là nói về những khai-khẩu âm. Đến như chữ vần, thì đàng-trong đàng-ngoài cũng có khác, nhưng không phân biệt đến nỗi chẳng hiểu được nhau.

1/ gi đổi ra tr:

trả, để thay tiếng giả

trai gái, để thay tiếng giai gái

trăng gió, để thay tiếng giăng gió

trao đổi, để thay tiếng giao đổi

trầu không, để thay tiếng giầu không

tro tàn, để thay tiếng gio tàn

trồng cây, để thay tiếng giồng cây

trở về, để thay tiếng giở về

trời đất, để thay tiếng giời đất.

2/ s đổi ra tr:

trống mái, để thay tiếng sống.

3/ d đổi ra nh:

mạng nhện để thay tiếng dện

nhọn, để thay tiếng dọn

nhốt gà, để thay tiếng dốt gà

nhơ bẩn, để thay tiếng

nhúm lửa, để thay tiếng dúm lửa

nhủ bảo, để thay tiếng dủ

nhịp cầu, để thay tiếng dịp cầu.

4/ nh đổi ra l:

lạt, để thay tiếng nhạt

lát (chốc), để thay tiếng nhát

lầm, để thay tiếng nhầm

lẹ, để thay tiếng nhẹ

lẽ, để thay tiếng nhẽ

lỡ, để thay tiếng nhỡ

lời, để thay tiếng nhời

lớn, để thay tiếng nhớn.

5/ ng đổi ra v:

vắn dài, để thay tiếng ngắn. Ba xứ ta chỉ nhường nhịn nhau có độ bấy nhiêu tiếng thì tiện lợi cho việc làm văn-nôm vô cùng. Có thể dùng văn-chương chung được, mà tiếng nói ba nơi cùng theo nhau mà chóng nên được một tiếng mói đủ dùng trong việc học phổ-thông. Thì ta há lại chẳng nhường nhịn được nhau hay sao?

* Bài viết được người biên soạn chép sao nguyên bản từ tờ báo đã phát hành năm 1914. Nếu độc giả nào có yêu cầu xem bản gốc, chúng tôi sẽ vui lòng đáp ứng.

NGUYỄN LÂN BÌNH – NGUYỄN VĂN VĨNH

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *