8 BIỆT THỰ PHÁP CỔ “BỖNG NHIÊN” BIẾN MẤT….

Lời Ban Biên tập TNT.com

Mấy tuần lễ vừa qua, hệ thống truyền thông đã bình luận, hoặc đưa tin chi tiết xung quanh việc bà Hoàng Thị Minh Hồ (vợ nhà tư sản Trịnh Văn Bô) đã qua đời ở tuổi trên 100, và trở thành một sự kiện thu hút mạnh dư luận xã hội.

Nam mô A Di đà Phật! Cầu cho vong linh của bà được mát mẻ và linh thiêng!

Tuy nhiên, tôi cảm giác như vong hồn của bà sẽ khó được mát mẻ, khi một tờ báo lớn ở Việt Nam, tờ Thanh Niên ra ngày 7/11/2017 đã viết một hàng chữ đậm, là đầu đề một bài báo thật ai oán: “Nỗi buồn nhân đôi của gia đình ông bà Trịnh Văn Bô”! Chua chát hơn, một trang tin uy danh, khi đăng lại bài của báo TN, đã viết thành đầu đề khác còn xót sa hơn:“CỤ BÀ TRỊNH VĂN BÔ ĐEM THEO NỖI HẬN XUỐNG SUỐI VÀNG”.

Ngôi đình An Trí (Đình Yên Phụ) chụp năm 2016. Địa điểm được công nhận là di tích lịch sử nhưng ngày hôm nay đã không còn nữa!

Đọc những bài viết trên các báo liên quan đến sự kiện này, tựu trung, hình như mọi người đều rơi vào cái cảm giác tiếc nuối về…. vàng, và nhà! Nhưng tệ hại hơn, là từ những quan niệm vật chất đó, đã kéo theo là sự ngờ vực công lý của toàn xã hội, khi chứng kiến cơ man nào là những chứng cứ, là những quyết định, rồi là lòng trắc ẩn của cả một hệ thống chính trị, đã “vật lộn” ra sao để thể hiện cái nền đạo đức nhân quả, một thứ luật mà không thể ghi ở đâu trong các bộ luật của một quốc gia. Thực tế đó, là thể hiện sự “biết điều” trong các mối quan hệ xã hội khi người đời vẫn dạy nhau rằng, vì lương tâm có răng (cắn rứt), nhưng không ai dám kết án, điều gì đã ngăn cản một quyết định cuối cùng?!

Từ trường hợp cụ thể này, muôn vàn những nghĩ suy đã nhảy múa trong đầu người đọc về cả một cái quá khứ lịch sử không bình thường, chí ít là qua sự việc gia đình nhà tư sản Trịnh Văn Bô. Không ai tin được… và chuyện đó, nó đã xé nát lòng tin của nhiều người, nhất là đúng vào lúc các nghị viên trong Quốc Hội đang họp, và lần đầu tiên, có nghị viên nêu ra kiến nghị về việc đưa lòng tin thành một mục tiêu phấn đấu, giá trị ngang bằng với mục tiêu xây dựng và phát triển của một quốc gia.

Tôi thiển nghĩ, lòng tin phải cao hơn mọi thứ ở đời, và điều đó không cần phải phấn đấu, nếu có một hệ thống xã hội minh bạch, nền chính trị minh bạch, và con người quan hệ với nhau minh bạch, thì tự nó sinh ra lòng tin, lòng tin sẽ đem đến đức tin, nhân tố cuối cùng để tạo ra tính nhân bản, lối ứng xử nhân văn, cùng với một xã hội tồn tại bằng lòng nhân hậu, những điều mà kể cả kẻ ác cũng không chối bỏ khi được tiếp cận.

Chúng ta đã không đi con đường đó, và hôm nay mới có chuyện phải phấn đấu để lấy lòng tin làm nghị quyết. Thử hỏi, có nên thấy xấu hổ không?! Có phải chúng ta đã không còn quan tâm đến lòng liêm sỉ nữa không?!

Vâng, 5 ngàn lạng vàng thật kinh hoàng, cả một ngôi biệt thự tráng lệ, thật khủng khiếp…. Nhưng trong cùng cái quá khứ ấy, cái quá khứ mà người tình nguyện đã dâng hiến chỉ vì giản dị nghĩ rằng:“Dân tộc bớt đổ máu là chúng tôi mừng rồi” (TNO 7/11/17)… thì còn có bao nhiêu người khác, cũng đã từng coi đó là mục đích, là lý tưởng vì dân tộc, vì tự do ấy, và họ cũng đã lao theo không đắn đo, không run sợ, bằng tất cả những gì mình có và kèm theo cả mạng sống của chính họ. Họ cũng đã dâng, đã hiến và cả đã chết mà không hề “đòi” sau 50, 70 năm những cái “nợ” vô hình không phải là vàng, là nhà….

Ngôi biệt thự 107 Trần Hưng Đạo, chụp năm 2016 nhìn từ đường Phan Bội Châu.

Thực chất, trong lịch sử, không ít những người có quá khứ tương tự như trường hợp gia đình tư sản Trịnh Văn Bô. Chắc chắn cái ngày họ dâng hiến đó, họ (và những người như họ) không nuôi cái ý định “đòi” điều gì, nếu, một hệ thống chính trị, một xã hội coi nền đạo đức nhân quả là căn cốt trong ý thức của mình (một thứ điều kiện xa sỉ).

Nói về sự hy sinh, khó mà cân được cái hy sinh nào lớn hơn cái hy sinh nào?! Hơn nữa, khi con người ta đã tự nguyện dâng và hiến, cũng không ai đi tìm cách để đòi, nếu cách ứng xử của những người nhận được sự hy sinh và hiến dâng đó, không tự biến mình trở thành kẻ lạm dụng đến mức lợi dụng, thậm chí lấp liếm và biến thành sự trí trá đến mức phải gọi là cơ hội, và đó là sự lợi dụng lòng tốt và đức hy sinh của người khác. Chính những kẻ đó, đã biến mặt trái của một cuộc cách mạng thành mặt phải, thì làm sao các vong hồn được yên nghỉ, kể cả nằm bên cạnh suối vàng?!

Ngược lại, trớ trêu hơn, vì cái lòng tham của thằng người, vì cái tính trí trá khi chiếm đoạt không thành, mà không ít trong số chính những người đã dâng, đã hiến và đã hy sinh đó, còn để lại cả sự liên lụy cho những thế hệ đi sau là hậu duệ, là người thân còn phải trả thêm nữa bằng chính cuộc đời của các con các cháu họ, thay vì cái “nợ” mà các bậc tiền nhân của họ đáng ra phải được quyền nhận lại theo cái điều luật không ghi trong sách, luật nhân quả.

Càng nghĩ về quá khứ, càng thấy trân trọng và đáng thờ phụng những người đã tự nguyện dâng và hiến, họ làm tất cả đâu có ý đợi để được trả lại. Điều mà họ muốn được hồi âm sau khi dâng hiến cho một cuộc cách mạng, là một đất nước tự do,  một đất nước sống bình đẳng và ngập tràn lòng bác ái. Nếu sau cái kết lịch sử với sự chiến thắng, những người có trách nhiệm không bộc lộ sự bất nhất, không bị rơi vào cái vòng xoáy của tham, sân, si, một trong những nguyên nhân tạo nên sự ồn ào dai dẳng trong nhiều chính sách về quản lý đất nước, mà cái nhà 34 Hoàng Diệu của gia đình Trịnh Văn Bô chỉ là một ví dụ.

Qua những gì đã diễn ra liên quan đến “sự kiện” gia đình tư sản Trịnh Văn Bô ở Hà Nội, hoàn toàn đúng với nỗi niềm của học giả Nguyễn Văn Vĩnh từ cả trăm năm trước, khi ông đã lo lắng để làm sao cho người dân có được kiến thức, nhờ kiến thức để có được ý thức, vì chỉ có những kẻ hiểu biết, mới tạo ra được tính nhân văn, chỉ có sự hiểu biết mới giúp cho thằng người có được lòng biết ơn và nhớ ơn. Khi có được tính nhân ái, thằng người sẽ bớt tham lam và ác độc, bớt được những bất công và cường bạo.

Nghĩ như thế, nên Nguyễn Văn Vĩnh mới tìm cách để nâng cao dân trí, khơi dậy lòng trắc ẩn bằng việc dịch từ tiếng Pháp các câu chuyện ngụ ngôn của nhà đại văn hào La Phông Ten (Jean de La Fontaine, 1621-1695)  ra tiếng bản ngữ để đồng bào của ông ai đọc cũng hiểu. Hiểu để mà nhớ, nhớ để mà làm theo, và câu chuyện kinh điển nhất trong tập truyện đó, là chuyện “Chó rừng và con cò”.

CHUYỆN CHÓ RỪNG VÀ CON CÒ

Chó rừng tham ăn hay nuốt vội.

Nhân một khi vui hội anh em.

Miếng ngon đương lúc miệng thèm.

Chưa trôi miếng gối đã thèm miếng sau.

Phải cái xương mắc sâu trong họng.

Phúc mười đời cò bỗng bay qua.

Chó rừng mới gật chị ta.

Đến ngay thò mỏ gắp ra một hòn.

Xong công việc, cò còn tính giá.

Chó rừng đà chẳng trả tiền công.

Lại còn ơn vỗ như không:

– Đầu mày trong cổ họng ông mới rồi

Đã thoát khỏi thì thôi, phúc đức!

Lại chửa màng còn chực đòi công.

Bội ơn! Cút thẳng cho xong.

Chớ hề đến trước mặt ông mà ngầy!

  

Càng nghĩ càng thấy ghê sợ vì những điều không bình thường trong hành xử của con người. Phàm ở đời, nước mắt của kẻ này lại là niềm vui của kẻ khác. Vậy, những kẻ giành được niềm vui đó là những ai?

Xin mời các quý vị và các bạn đọc bài:“8 biệt thự Pháp cổ, ‘bỗng dưng’ biến mất”, đăng trên Vietnamnet ngày 28/12/2015.

 

NGUYỄN LÂN BÌNH.

Comments

  1. nghiem trong hanh

    Đức Phật dạy : con người phải biết “Tâm tàm quý ” có nghĩa con người phải biết tâm xấu hổ .Buồn thay ,rất nhiều kẻ nhân danh ông nọ bà kia không thèm biết đến Tâm xấu hổ .Một nhà thơ đã viết : Đừng vỗ nợ với nhân dân .Thực chất đó là sự vô ơn .Cảm ơn bài viết mang nhiều thông điệp của tác giả .

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *