Nói về sự thật… Có cần một chức danh?

Tình cờ.

Năm 2013, sau một thời kỳ dài nghe ngóng, quan sát, và nhận thức, thông qua các diễn biến xã hội có liên quan đến đề tài Nguyễn Văn Vĩnh, tôi xin gặp ông Chu Hảo, Giám đốc Nhà Xuất bản Tri Thức.

Khi gặp gỡ và trao đổi với ông Giám đốc, tôi biếu ông một bài viết bằng tiếng Pháp của Nguyễn Văn Vĩnh đã đăng trên tờ L’Annam Nouveau – Nước Nam Mới từ năm 1932, có nhan đề L’ELITE ANNAMITE (Tinh hoa An Nam). http://www.tannamtu.com/?p=1010.

Nửa tháng trôi đi…. Trong một hoạt động thường kỳ của Nhà Xuất bản Tri Thức, tôi lại có dịp gặp lại ông Chu Hảo. Lần gặp gỡ này thật “náo nhiệt”, vì ông có thái độ vô cùng hào hứng và thân mật khi nói chuyện với tôi:

“Bình ơi, bài của cụ Vĩnh về trí thức An Nam hay quá, mà sao từ ngày đó cụ đã viết chính xác thế kia chứ, mà lại bằng tiếng Tây! Có lẽ Bình nên làm thử một cuốn sách, tập trung một số bài tiếng Pháp của cụ viết. Cuối năm nay, có Hội chợ sách Quốc tế ở Frăng Phuốc (Frankfurt) CHLB Đức, NXB Tri Thức được chỉ tiêu tham gia hội chợ với số lượng bốn đầu sách. Tôi có ý định trong bốn đầu sách đó, làm một cuốn của cụ Vĩnh bằng tiếng Pháp. Bình thấy có khả năng không?”.

Một kẻ ngoại đạo như tôi, đã nhiều lần thú nhận trước thiên hạ, rằng tôi không có chuyên môn chuyên sâu, nhưng việc làm sách về và của Nguyễn Văn Vĩnh là điều tôi ao ước từ đúng chục năm trước (2003-4). Sau đó, vì có nhiều diễn biến mang tính chất “xôi thịt” của một vài đối tác, nên tôi tự ái và đặt nguyện vọng làm sách sang một bên.

Cơ duyên đã dắt tôi vào việc làm bộ phim tài liệu về gia đình, về cụ Vĩnh… và ơn Trời như mọi người đã thấy, bộ phim hoàn thành năm 2007.

Bộ phim ra đời đặt tôi vào vị thế mới trong quan hệ không phải chỉ với xã hội, mà với cả chính gia tộc của mình. Trong những luồng ý kiến của những người thân trong và ngoài gia tộc (không phải ai cũng muốn bộc bạch và biết cách bộc bạch), có một người đàn ông quan hệ với gia tộc chúng tôi đã từ lâu, từng tu nghiệp ở bên Tây, và là một kẻ không thiếu tiền, anh ta đã buông một câu trong một lần ngồi trước những người họ hàng của tôi bình luận về bộ phim, câu nói chẳng phải nhắc nhở, mà cũng không ra góp ý như thế này:

“Làm phim à… nó vô cùng… Phải làm sách, sách nó mới thấm, mới có ý nghĩa lâu dài. Ông làm mà xem, nó hay lắm…!”.

Anh ta chỉ nói lửng đến đó, tuyệt nhiên không có ý giúp tôi nhận thức về cái ý nghĩa, cái thấm, cái lâu dài là như thế nào? Tôi đã suy nghĩ, nghiền ngẫm về hàm ý của câu nói như một sự “dạy bảo” đó, và tôi cũng ấn tượng với cách nêu vấn đề như vậy của người đàn ông nọ.

Quang cảnh buổi họp báo ra mắt những cuốn sách về học giả Nguyễn Văn Vĩnh và của Nguyễn Văn Vĩnh tại Liên hiệp các Hội khoa học Việt Nam 53 Nguyễn Du, Hà Nội, do NXB Tri Thức tổ chức.

Nhưng tôi sẽ làm thế nào? Lĩnh vực này tôi cũng đã được không ít người“mũ cao, áo dài” từng nêu lên trong những cuộc hội ngộ, đặc biệt là trong các hoạt động văn hóa và lịch sử có liên quan đến đề tài Nguyễn Văn Vĩnh.

Trong lòng tôi còn nguyên sự trách cứ những nhân vật đó, bởi lẽ nếu họ thực tâm  coi trọng những dâng hiến của cụ Vĩnh như những đánh giá mà chính họ đã từng nêu lên, thì họ sẽ phải là những người thực hiện công việc này chứ… vì họ có học! Họ có bề dày nghiên cứu, tiếp cận và tồn tại trong môi sinh văn hóa, họ đạt được những danh vị, học hàm các loại, vậy thì tại sao câu hỏi lại đặt về phía tôi:

“Sao cậu không làm sách, từ ngày hòa bình lập lại, sao chưa bao giờ thấy cuốn sách nào về cụ Vĩnh và của Nguyễn Văn Vĩnh nhỉ ???”.

Khi đối diện với những gương mặt có thái độ như vậy, tôi lại nhớ đến hồi còn nhỏ, khi tôi hay chất vấn mẹ mình về chuyện này chuyện nọ, rằng tại sao lại thế này…? Làm sao lại thế kia…? Vì sao lại thế nọ…? Mẹ tôi thường buông một câu: “Làm sao à… làm sao giăng cao đến giời…?!”.

Thực hiện.

Khi gặp cái ý tưởng của ông Chu Hảo về chuyện làm sách, tôi đắc ý lắm, thầm nghĩ, hay quá, mình mong mãi cơ hội, giờ chắc là đã đến lúc. Tôi phấn khích và lập tức lao vào cuộc không do dự. Tôi cũng chẳng toan tính, chẳng lo lắng mảy may về chuyện vốn đầu tư sẽ là thế nào? Chi phí cho việc xuất bản một cuốn sách sẽ là bao nhiêu? Tiền sẽ lấy từ đâu…? Thật hay, vì có lẽ những việc lớn mà cứ cân đong, toan tính, thường rất khó thực hiện.

Trong cái quyết tâm lao vào việc làm sách, in sách của cụ Vĩnh, cũng phải thú nhận thật, rằng tôi có cái cay cú khi thấy nhiều người chỉ nói… và chỉ nói thôi!

Khi soạn các bài viết bằng tiếng Pháp của cụ Vĩnh, tôi có chút thuận lợi nho nhỏ, đó là một danh mục nhiều bài viết được lập ra từ những người bác ruột của tôi cách đây đã mấy chục năm. Khốn khổ cho tôi trong chuyện này, vì tôi không biết tiếng Tây. Các bài viết được đưa vào danh mục thiếu rất nhiều chi tiết cụ thể, mà trong khoa học lưu trữ người ta thường bắt buộc phải xác định chính xác, các dữ liệu đó lấy từ đâu? Nguồn nào? Nếu lấy từ lưu trữ, thì lưu trữ của ai? Nếu là của Lưu trữ Quốc gia thì mã số bao nhiêu? Thuộc cơ quan lưu trữ nào? Có bản sao (chụp) bản gốc không?

Có rất nhiều bài viết của cụ Vĩnh về một đề tài, nhưng được đăng làm nhiều kỳ, ở nhiều số báo không liên tục, vậy giải quyết vấn đề ra sao? Không ít lần, tôi tìm thấy phần đầu của một bài viết, nhận thấy đề tài thật hấp dẫn, tôi nhờ người dịch lướt, tóm tắt. Tôi thấy nội dung của nhiều bài kinh hoàng quá, hay quá, khối tri thức nêu trong bài rất cần cho hôm nay, cho xã hội, kiểu gì người đọc cũng sẽ cảm kích, thán phục, và tôi xác định phải dùng bài này, bài này… Nhưng thật chán, vì tìm chẳng thấy phần“còn tiếp” hay “còn nữa” ở đâu cả. Muốn có, lại phải quay lại nơi lưu trữ. Mỗi lần quay lại thật chẳng dễ chút nào.

Cơ man nào là những trở ngại, khó khăn, nhất là với một kẻ không có lấy một tí chuyên môn, kiến thức về lĩnh vực mình đang theo đuổi, đừng nói đến kinh nghiệm. Hình như cái có duy nhất ở tôi là, ơn Trời, tôi chỉ có bản năng!

Áp phích của buổi họp báo ra mắt sách của học giả Nguyễn Văn Vĩnh tại Trung tâm Văn hóa Pháp L’ESPACE 24 Tràng Tiền Hà Nội, do TT Văn hóa Pháp tổ chức.

Những ngày lần mò, khảo xét các yêu cầu cần có để thực hiện việc biên soạn cho cuốn sách, ông Chu Hảo chỉ lưu ý tôi một chi tiết:

“Cụ Vĩnh viết về nhiều lĩnh vực lắm, trước mắt, mình chọn đề tài về nông thôn và nông dân đi, tam nông ấy”.

Tôi bám vào mục tiêu có tính định hướng đó, và tôi làm. Nhưng thực tế, tôi chỉ được biết vẻn vẹn đầu đề các bài viết bằng tiếng Pháp đã dịch qua tiếng Việt, còn nội dung thì sao? Các bác tôi cũng đã ra công dịch một số bài, mà theo các vị ấy, hồi đó (cách đây có đến ba chục năm rồi), với cách nghĩ của các bác, thì đó là những nội dung mà họ quan tâm, họ thích. Vậy hôm nay, để biến cái nguyện vọng cao quý kia thành sự thật, tôi sẽ làm thế nào khi đòi hỏi phải giới hạn trong một chuyên đề?

Khi số lượng các bài viết có chuyên đề về nông thôn, nông dân và nông nghiệp của cụ Vĩnh đã đăng trên tờ báo L’Annam Nouveau – Nước Nam Mới được tập hợp kha khá, tôi đã phải để lại nhiều bài, phần vì sợ cuốn sách dày quá, phần vì không tìm thấy phần tiếp theo, và sẽ không kịp thời gian để ra sách đưa đi hội chợ quốc tế.

Trong quá trình làm việc này, tôi nhận thấy một thực tế, rằng nếu chỉ làm cuốn sách in bằng tiếng Pháp, thì người Việt chẳng thể biết được Nguyễn Văn Vĩnh đã viết như thế nào, viết gì về cái nhà quê Việt Nam, nơi có những người nông dân, mà người ta vẫn gọi là người nhà quê đó ra sao? Bản thân tôi cũng lơ mơ, chỉ biết một cách tóm tắt đôi ba bài đã được người đi trước dịch sang tiếng Việt, song cũng đủ để hình dung được cái sâu sắc và ý nghĩa của các bài viết đó. Tôi trình bày với ông Chu Hảo về ý định đưa dịch sang tiếng Việt những bài sẽ đưa vào cuốn sách. Ông Chu Hảo thích quá và cổ vũ tôi làm ngay.

Tôi lại kiễng chân đi tìm tiền để chi trả cho những công việc bắt buộc. Khi cuốn sách đã có hình hài, ông Chu Hảo nêu dự kiến cho in song ngữ. Nghe song ngữ, nhiều người thấy nó “hiện đại”, nhưng tôi đã mạnh dạn phản bác ý định này của ông Giám đốc với lý do cụ thể như sau:

  • Sách song ngữ chỉ phục vụ cho những người đọc muốn học và muốn hiểu hơn tiếng Pháp, mà số lượng những độc giả đó sẽ không nhiều.
  • Cuốn sách sẽ thành sự lãng phí khi có độ dày gấp đôi, vì in cả hai thứ ngôn ngữ. Độ dày gấp đôi, đương nhiên giá thành cũng gấp đôi, nhưng giá trị sử dụng lại chỉ là 50% đối với người hoặc không biết tiếng Pháp, hoặc không quan tâm đến tiếng Việt. Nên in thành hai cuốn riêng biệt, một tiếng Pháp, một tiếng Việt. Tiếng Pháp là bản gốc, tiếng Việt là bản dịch.

Ông Chu Hảo gật gù và tán thành ý kiến tôi nêu. Tôi bắt đầu thấy khoái chí vì đường đi càng ngày càng sáng. Vậy nhưng tôi đã lại tự đặt câu hỏi cho mình:

  • Nếu như độc giả hài lòng về nội dung của cuốn sách, tỏ ra cảm phục tác giả, từ đó, họ tò mò muốn hiểu rõ hơn về sự nghiệp, con người Nguyễn Văn Vĩnh, họ sẽ lại phải mất công đi tra cứu, tìm hiểu xem sự nghiệp con người này ra sao? Cuộc đời con người này thế nào? Điều gì đã giúp tác giả nhận thức đầy đủ và sâu sắc như thế về nông thôn ngày xưa?
  • Nếu thực tế sẽ là như mình băn khoăn, vậy thì tại sao mình không làm một cuốn sách nêu khái quát về thế nào là Nguyễn Văn Vĩnh?

Tôi lại đem cái suy nghĩ đó trình bày với ông Giám đốc. Đồng thời tôi đưa ra dự kiến về nội dung của cuốn sách sẽ bao gồm những tư liệu, bài viết chưa phổ biến, đặc biệt của những nhà nghiên cứu danh tiếng như chí sĩ Nguyễn Văn Tố (in năm 1936 ở Hà Nội), như giáo sư đại học người Mỹ Christopher Goscha (in năm 2001 ở Canada), hoặc như bài viết của nhà thơ Nguyễn Vỹ đăng trong tạp chí“Văn thi sĩ tiền chiến” (in năm 1969 ở Sài Gòn)… Tôi nhận thức, đó là những bài nhận định, đánh giá và phác họa khá rõ con người Nguyễn Văn Vĩnh là như thế nào?

Theo tôi, cuốn sách này, cần lấy tên “Nguyễn Văn Vĩnh là ai?” để đáp ứng những quan tâm của người đọc và cả sự quay lưng của lịch sử.

Ông Chu Hảo tỏ ra ngạc nhiên vì ý tưởng của tôi, và lại nhiệt thành ủng hộ. Cho đến thời điểm đó, vấn đề đưa sách đi dự hội chợ sách quốc tế năm 2013 tại CHLB Đức vẫn còn nguyên.

Tôi lại vùi đầu vào các quyết định mới, làm sao để cùng lúc ra được cả ba cuốn về Nguyễn Văn Vĩnh và của Nguyễn Văn Vĩnh. Tôi đã thực sự liều lĩnh khi say sưa với công việc này. Bên cạnh hai bài viết bằng tiếng Pháp của cụ Tố và của C. Goscha đã được tôi thuê dịch từ vài năm trước, bài của nhà thơ Nguyễn Vỹ là bài duy nhất có nội dung phải…. “cân nhắc”.

Khúc mắc.

Khái niệm có tính lịch sử chính trị ở Việt Nam suốt 70 – 80 năm qua (đặc biệt là ở phía Bắc VN dưới chế độ DCCH), rằng khi nói đến các khuynh hướng chính trị trong giai đoạn trước 1945, các nhà làm tư tưởng nắm quyền đã gán cụm từ “văn hóa nô dịch” cho cặp đôi Nguyễn Văn Vĩnh – Phạm Quỳnh, đồng thời là một cặp “bồi bút” của Thực dân, thì bài viết của Nguyễn Vỹ, là người duy nhất (theo tôi) đến giai đoạn đó xác định:

Nguyễn Văn Vĩnh và Phạm Quỳnh là hai nhân cách, hai bản chất chính trị khác biệt, theo hai khuynh hướng phát triển có tính đối lập.

Đọc kỹ bài viết của Nguyễn Vỹ, tôi suy nghĩ rất nhiều, không phải vì nó nhạy cảm về tính chính trị với chính thể hiện tại, điều mà nhiều NXB phải lựa chiều khi thực hiện, mà bài viết đã bộc lộ mặt khác, liên quan đến hậu duệ và những người có tâm thức tích cực với sự nghiệp của Phạm Quỳnh.

Vậy nội dung bài viết của Nguyễn Vỹ, liệu có làm phương hại đến ai đó khi được in trong một cuốn sách chuyên đề về Nguyễn Văn Vĩnh không? Và nếu có phương hại, thì như vậy có phải thiếu tế nhị không? Chưa nói đến chuyện, cuốn sách về Nguyễn Văn Vĩnh, dù có thể chưa thỏa mãn các tiêu chí về học thuật của một cuốn sách danh nhân, nhưng khi xuất bản, dù gì cũng sẽ là cuốn sách đầu tiên trong lịch sử xuất bản của nước Việt Nam XHCN, về một con người, một sự nghiệp mà tất cả các thể chế chính trị trong lịch sử Việt Nam ở thế kỷ XX đã không chịu đựng nổi!

Tôi trình bản thảo cuốn sách“Nguyễn Văn Vĩnh là ai?” cho Giám đốc NXB với bao nhiêu tâm tư, lo nghĩ. Tôi đã tiên lượng những phản ứng có thể đến từ phía NXB. Và điều gì phải đến… đã đến!

Lần trao đổi tiếp theo với tôi, thái độ của ông Chu Hảo đầy vẻ thận trọng, có chút gì đó trầm lắng… Ông cho biết, ông hài lòng về nội dung của bản thảo. Tuy nhiên, ông hạ giọng với tâm lý của sự thiếu tự tin và nhiều trăn trở, với một tông giọng nhẹ nhàng, ông nói với tôi thế này:

“Bình ạ, riêng bài của Nguyễn Vỹ, có lẽ chúng ta nên cắt lại phần liên quan đến Phạm Quỳnh, quả thật là nó nhạy cảm quá…”.

Tôi đã cảm nhận đúng, rằng có thể sẽ có sự băn khoăn ở ông Giám đốc… điều mà tôi đã dự liệu, vì vậy nên tôi rất chủ động để phúc đáp. Tôi đã bộc bạch đầy tự tin:

“Em hiểu suy nghĩ của anh. Đúng, anh băn khoăn là phải! Song, thưa anh, bài này đã được in trong cuốn ‘Văn Thi sỹ Tiền chiến’ từ năm 1969 ở Sài Gòn, và chính Nhà Xuất bản Văn Học đã tái bản gần đây mà, tức là đã công bố.

Bài viết mô tả khá sinh động tác phong, cách sống và con người cụ Vĩnh, đã có mấy ai cùng thời mà bình phẩm cụ thể về cụ Vĩnh như thế đâu? Quả thật, bình thường chẳng mấy ai quan tâm lắm, nhưng bài này in trong cuốn sách về cụ Vĩnh, ít nhiều cũng làm ai đó nghĩ suy.

Thôi anh ạ, một là chúng ta để bài đó lại không in, hai là sẽ in nguyên văn, bởi lẽ lịch sử nó như vậy thì mình cũng không thể né tránh, nó là tư liệu mà!”.

Ông Chu Hảo gật gù, nhưng vẫn không dấu được vẻ áy náy. Vẻ mặt ông yên tĩnh, một biểu hiện ít thấy, vì lẽ ông vốn là người cởi mở và hay cười… Cuối cùng, ông cũng nhất trí với tôi.

Việc người ta đã cố tình ghép đôi Nguyễn Văn Vĩnh – Phạm Quỳnh như một thuật ngữ chuyên môn mang tính “định nghĩa”, hoàn toàn để phục vụ mục đích chính trị không chân thực. Nguyễn Văn Vĩnh có phải là kẻ thế này, hay thế kia theo cách nhìn khác nhau của lịch sử, chuyện đó thời gian đã và đang trả lời, và chắc chắn sẽ có sự trả lời đầy đủ, chính xác thông qua những gì đang được chứng minh một cách rõ ràng có cơ sở. Tất nhiên sẽ không thể là cái khái niệm mà một nhóm người mang tư tưởng định kiến, đã áp đặt cho Nguyễn Văn Vĩnh trong quá khứ.

Buổi tọa đàm đầu tiên tại Cà phê thứ Bẩy của nhạc sĩ Dương Thụ (tháng 5/3013) về việc xuất bản sách của học giả Nguyễn Văn Vĩnh. Buổi gặp gỡ đã thu hút sự quan tâm của rất nhiều các nhà chuyên môn trong lĩnh vực nghiên cứu văn hóa như dịch giả Dương Tường, nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân, giáo sư Chu Hảo…..

Cuộc sống mãi mãi là những sự liên đới, nghĩ như thế nên tôi dứt khoát phản bác cái quan niệm“không can thiệp vào công việc nội bộ…”, vì tôi dám khẳng định một điều: không có điều gì lại không liên quan đến một cái gì đó khác….

Cuộc sống là mối quan hệ hữu cơ mà tự nó đã chứng minh, dù ai đó công nhận hay không công nhận. Nhiều người hay vin cớ khi đứng trước những diễn biến phức tạp của xã hội, rằng xử lý như thế là can thiệp, là làm khó cho các bên liên quan trong nội bộ của sự việc… Vâng, nó chỉ là sự làm khó và là sự “can thiệp” khi người can thiệp mang mưu đồ không tốt, muốn trục lợi để phục vụ một ý đồ riêng mà thôi. Còn thông thường, bất bình và phản ứng trước sự bất công và dối trá là bản năng tích cực của thằng người. Trên nữa, nó thể hiện nhân cách của mỗi cá thể. Sự can dự có nền tảng đạo đức, nó giúp phân biệt sự tử tế với sự lừa dối. Nếu không, chúng ta đề cao Lục Vân Tiên để làm gì?

Và cứ sống với lối tư duy đó, làm sao mà xã hội ngày hôm nay, khi phải đối mặt với những cuộc xô xát, những mâu thuẫn, thậm chí cả sự đổ máu của đồng loại, mà nguyên nhân không đáng để gọi là nguyên nhân, thì phần đông, họ đã lẳng lặng quay đi như không biết gì. Nếu ai đó chưa thật tin, xin mời đọc bài “Bệnh vô cảm, công chức cắp ô và giấc mơ hóa rồng – Vietnamnet ngày 12/7/2015”.

Tệ hơn nữa, họ còn đem theo trong tâm lý một sự đắc chí, vì mình đã “khôn ngoan” do được dạy rằng: thôi, nhỡ chẳng phải vào đầu thì cũng vào tai… Và họ tìm được sự “bình yên” trong cái cuộc sống phồn vinh một cách giả mạo này.

Chúng ta thử tìm kiếm xem, có dân tộc nào có câu thành ngữ: “Cháy nhà hàng xóm, bình chân như vại” không? Hoặc xấu hổ đến mức dạy nhau hành xử một cách hèn nhát rằng “Ăn ‘thì’ đi trước, lội nước ‘mình’ theo sau”…

Thật, xin thưa, nếu có đủ lòng dũng cảm đích thực, chúng ta phải thay đổi cái gốc suy nghĩ mà hoa và quả của nó sẽ là sự ích kỷ, sự hèn nhát mọc lên từ cái gốc đó, (cái gốc ấy là một phần của cái gọi là truyền thống ngàn năm này), bằng việc đưa những phạm trù này vào sách giáo khoa, để hy vọng các thế hệ tiếp nối sẽ tự thay đổi nhờ lòng tự trọng, khi biết gốc gác của cha ông cũng có quá nhiều cái xấu không nên “tiếp nối” nữa.

Nguyễn Văn Vĩnh từ cả trăm năm trước, đã vô cùng căm ghét cái nền giáo dục khoa cử, ghét cái lối dạy và học chỉ có lợi cho một nhóm người. Nguyễn Văn Vĩnh luôn thù ghét cái kiểu cư sử dối trá của thằng người khi núp bóng phong tục, rằng cần phải sống dĩ hòa vi quý… mà thực chất, đó là sự thủ tiêu đấu tranh, hoàn toàn phù hợp với những chế độ chính trị cường bạo, luôn tìm cách đẩy người dân vào chỗ ngu muội để dễ bề cai trị.

Sự nghiệp của Nguyễn Văn Vĩnh phải dừng bước vì ông đã làm mọi cách, với những khả năng thiên phú để giúp người dân có học thức, có kiến thức và có tri thức, để làm gì? Để họ tự biết bảo vệ mình và biết mình có trách nhiệm gì đối với người khác. Nhưng khi người dân có được những điều mà Nguyễn Văn Vĩnh mong ước, lại chính là điều những kẻ cầm quyền không muốn, nên ông không phải chỉ bị họ loại bỏ, và kèm cả sự chối bỏ.

Hoàn thành.

Cuốn sách“Nguyễn Văn Vĩnh là ai”đã chỉ hoàn thành được một động tác, đó là đã đặt được dung nhan của Nguyễn Văn Vĩnh ra trước Thanh Thiên Bạch Nhật, để nếu người đời ngày hôm nay không bận lòng, thì thế hệ tiếp nối sẽ quan tâm và họ còn gì đó để quan tâm.

Xin quay lại cái câu nói của người đàn ông nọ về chuyện làm phim và làm sách:

“Làm phim à… nó vô cùng… Phải làm sách, sách nó mới thấm, mới có ý nghĩa lâu dài. Ông làm mà xem, nó hay lắm…!”.

Vào một ngày mà tôi cũng không còn nhớ chính xác, rằng hôm đó có phải là ngày lành tháng tốt hay không, hay ngược lại, trong một công việc có tính chất bắt buộc, vì nó là phong tục, tức ngày giỗ, tôi lại ngồi đối diện với người đàn ông có câu nói “dạy bảo” hôm nào.

Thường khi đi ăn cỗ, người đến dự hay có những ý định riêng trong việc lựa chọn chỗ ngồi. Họ liếc xem ngồi đâu? ở mâm cỗ nào, với ai? Lần này, việc tôi ngồi với người đàn ông nọ, hoàn toàn là sự vô tình do tình huống mà chủ nhà đưa lại.

Tôi là kẻ chống lại cái nguyên tắc khi ăn phải im lặng từ hồi còn là lính, cho dù đó là quân kỷ. Vì thế, dù tôi ngồi ăn ở mâm nào, với ai, tôi cũng muốn làm sao cho không khí được vui vẻ, trong một giới hạn tùy thuộc vào các thành phần có mặt cùng mâm.

Ở những bối cảnh như vậy, thường xuất hiện những gương mặt “tự tin” thái quá khi nói chuyện với người khác. Những mẫu người đó, họ không dấu những bản chất xấu tốt vốn có của thằng người, nhất là khi nội dung các câu chuyện rơi vào  sự tranh luận. Họ thản nhiên bộc lộ những ý kiến mang tính áp đặt, họ luôn tự cho mình là đúng, với tâm lý của những kẻ bề trên có học hàm, học vị, từng bôn ba trên giời, dưới biển. Ai đó tham gia trao đổi điều gì chỉ hơi thiếu chặt chẽ một chút, thiếu cụ thể một chút, là lập tức những kiểu người như vừa nói, bác bỏ thẳng thừng bằng những chất giọng cao đạo, gây không khi căng thẳng không đáng có.

Bữa cỗ hôm đó, với đôi ba điều trao đổi giữa các thành viên trong mâm cơm về những câu chuyện đời thường, loanh quanh lại rơi vào những câu chuyện vấn nạn xã hội, rồi những lời trách cứ trước một thực tế cuộc sống có quá nhiều điều vô lý, bất công, một tính cách thành thói quen thường thấy trong cuộc sống tinh thần của người Việt Nam XHCN. Lần này, chúng tôi bị quấn vào đề tài về những người nổi tiếng của hôm qua và hôm nay.

Đột ngột, tôi nhận được câu chất vấn (không phải hỏi) vẫn của người đàn ông nọ:

“Này, tại sao ông đưa cái bài của thằng cha Nguyễn Vỹ, Nguyễn viếc nào đấy vào cuốn sách về cụ Vĩnh? Nguyễn Vỹ là cái thằng nào? Thằng cha vô danh tiểu tốt, viết vớ viết vẩn, chẳng ra kiểu mẹ gì. Ông nhố nhăng…!”.

Tôi lặng người, mặt dài gần bằng cái bơm xe đạp của Liên Xô ngày xưa, nhưng không hề tái…. Tôi nói hơi nghiến răng, nhưng vẫn ngây ngô cho rằng, người này không biết Nguyễn Vỹ thật, và mình nên giới thiệu cụ thể một chút. Bằng một chất giọng phân bua, chân thành, tôi nói:

“Ơ, Nguyễn Vỹ là nhà thơ mà, bạn cùng thời với Nguyễn Nhược Pháp (Chùa Hương) đấy….”.

Người đàn ông đó vẫn nói như chà xát:

“Thơ thẩn cái mẹ gì, vớ vẩn quá…! Làm những cái việc này, phải là mấy thằng chuyên sâu, bọn chuyên nghiên cứu, là giáo sư… viện sỹ…”.

Với bản năng, kinh nghiệm ứng phó với cuộc sống của một thằng người, từng xa nhà sớm nhất trong các anh chị em, từng đi xa nhất và lâu nhất trong những người thân, từng làm những công việc khác người nhất trong quãng đời lao động, và từng bị dập vùi thê thảm nhất trong quá trình tồn tại giữa cái cuộc sống tập thể, một trong những biển thử thách đối với bất cứ thằng người nào khi lớn lên, đặc biệt là “bọn” Hà Nội, và lại là con cái của các gia đình tiểu tư sản (tạch – tạch – sè), tôi lập tức im lặng bằng cách kéo cái khóa mồm lại.

Việc thù dai, nhớ lâu còn là câu chuyện với tùy từng người, nhưng sự việc diễn ra ở trên đã nằm gọn trong ký ức của tôi như một viên sạn, mà trong nghành y, người ta bảo đó là sỏi!

Vốn là loại người không thích giữ cái ấm ức trong lòng, nên khi có cơ hội, tôi hay bộc bạch, giãi bày. Tôi cũng dám tự nhận mình là kẻ thích nói chuyện với đối phương một cách trần trụi nếu cần. Hồi còn đi làm, nhiều người trong cơ quan từng bảo ban tôi với thái độ lo lắng:

“Thẳng tính là chết, sao ông lại nói thẳng như thế? Như thế thì bao giờ mới “lên” được?!”.

Đôi lần, muốn cởi trói cho cái bất bình của mình, tôi đem nhắc lại câu chuyện của người đàn ông nọ với đôi ba người thân trong họ mạc. Tôi thích cách nghĩ, nỗi buồn đem chia sẻ, nó bớt đi một nửa, niềm vui đem tâm sự nó được nhân đôi. Nhưng khi bộc bạch câu chuyện trên, tôi nhận  đượcmột lời khuyên giống nhau:

“Thôi, mọi người đều biết mà, ai lạ gì đâu cậu ta…. nói ra rồi thành mất “đoàn kết”, rồi mất bạn, mất bè…”.

Và cứ thế, hóa ra bao đời nay, cái vỏ bọc của xã hội Việt Nam từ thời Phong kiến, qua cái xã hội Quân chủ, rồi dưới cái chế độ Thuộc địa, và hôm nay, đến cái chế độ hiện hành, người người đều yên tâm rằng, hãy nhớ lời dạy người đi trước, rằng một điều nhịn là chín điều lành.

Ôi, cái “lành” của một cơ thể ủ bệnh, cái“lành” làm cho thân hình tuy vẫn như nguyên vẹn, nhưng không có sức sống. Cái “lành”, một hệ quả vĩ đại của tư duy Nho giáo, của cả ngàn năm phong kiến, của cái đạo thánh hiền do chính những tầng lớp cai trị dưới nguyên tắc áp bức, đã thành công trong việc giáo dưỡng các con dân của mình suốt một chặng đường dài.

Cái“lành” giả tạo của một cơ thể không có khả năng đề kháng, không có và không được biện giải, thì dù cái thân hình ấy có cả nhà to mặt tiền trên phố chính do tổ tiên để lại, thì đồng tiền có sinh ra được vì nó ở vị thế “đắc địa”, cũng không bao giờ rơi vào tay của chủ nhà!

Kết.

Tôi viết câu chuyện này vì liên tiếp trong nhiều ngày vừa qua, trên các phương tiện truyền thông, trên nhiều tờ báo ca ngợi vai trò của nhà thơ Nguyễn Vỹ (1913 – 1971) trong nền văn học Việt Nam ở thế kỷ XX, tôi chạnh lòng và xin được giãi bày với bạn đọc một góc về sự liên đới của một con người có thật, một con người từng là bạn chí cốt của tiền nhân của chúng tôi nhưng đã bị hậu sinh xúc phạm.

Nếu không có sự vinh danh này của xã hội hôm nay đối với Nguyễn Vỹ, hẳn người  đàn ông nọ vẫn dám chắc, đó là “vớ vẩn”… và tôi, kẻ lầm lũi kiếm tìm những gì là sự thật về các bậc sinh thành, khi nói ra cũng không đáng tin cậy, vì không phải là kẻ có danh nọ, vị kia.

Chúng tôi xin được giới thiệu các bài viết gần đây nhất về nhà thơ Nguyễn Vỹ, giúp bạn đọc biết thêm một góc văn hóa cuộc sống. Đồng thời, tôi xin phép được cúi đầu thắp một nén hương, trước sự chứng giám của Đấng Tạo hóa và các Thánh thần, cầu xin vong hồn của nhà thơ Nguyễn Vỹ, độ lượng, bao dung, bỏ qua sự xúc phạm của một thằng người nghêng ngang, sản phẩm của cái lối sống coi thiên hạ là hạ đẳng, là rác rưởi, chỉ có mình mới là chân lý!

 

 

Các bài viết về nhà thơ Nguyễn Vỹ

Con gái nhà thơ Nguyễn Vỹ lần đầu kể chuyện về cha

Nguyễn Vỹ, cuộc đời và sự nghiệp nhà thơ, nhà báo đầu thế kỷ 20

 

NGUYỄN LÂN BÌNH.

Comments

  1. nghiem trong hanh

    Lần sau ,nếu có dịp ăn cỗ trong họ tác giả nên quan tâm tới phong thủy .Đừng ngồi cùng bọn tiểu nhân .Bọn này luôn khệnh khạng thích dạy đời .Nên tránh xa !

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *