Giới thiệu sách mới – phần 2

Thưa các quý vị và các bạn!

Tôi thấy, suốt một chặng đường dài, có đến hàng chục năm, khi tiếp xúc với những tầng lớp xã hội khác nhau, các lứa tuổi khác nhau, trước những nhóm người trong đó khi có những người bạn quen thân, thường lúc giới thiệu, họ hay nhấn mạnh với mọi người có mặt khi và chỉ vào “tôi” là ai, đứa nào?! Rằng cậu này là cháu nội của học giả Nguyễn Văn Vĩnh, rồi là con của cái ông lắp đặt hệ thống phát thanh đầu tiên ở Việt Nam tháng Tám năm 1945 mà sau gọi là Đài ….

Nhưng thật mỉa mai, vì phần lớn những gương mặt, nhất là những vị có chút danh, đều tỏ ra lạ lùng với cái tên Nguyễn Văn Vĩnh, mỉa mai hơn, là trong số họ có không ít những vị cũng làm nghề báo, nghề văn, thậm chí là có chức vị trong làng văn hóa. Trước thực tế đó, tôi thường gỡ bí cho các bạn mình bằng cách nói thay, để họ không mất thời gian suy ngẫm xem Nguyễn Văn Vĩnh là thế nào? Và tôi nói thẳng việc, mình là cháu ruột nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp, tác giả bài thơ mọi người đều biết,“Chùa Hương”, và Nguyễn Nhược Pháp là anh trai của cha tôi, con trai của Nguyễn Văn Vĩnh…. Cách giải tỏa đó chắc chắn và thật hiệu quả.

Khu mộ gia tộc học giả Nguyễn Văn Vĩnh sau khi được xây dựng lại năm 2010,

tại nghĩa trang Bãi Sấu, thôn Phượng Vũ, xã Phượng Dực, huyện Phú Xuyên, Hà Nội

Cứ thế, trong đời sống văn hóa, tinh thần của phần đông thế hệ người Việt Nam sinh ra sau năm 1945, họ biết Nguyễn Nhược Pháp có phần gần như “miễn cưỡng”, nếu không có một ngày, ca sỹ Trung Đức, người đã từng là chiến sỹ lái xe trên đường Trường Sơn trong chiến tranh, người có tâm hồn văn nghệ, đã thành công một cách kỳ diệu trong việc cải biên bài hát “Em đi Chùa Hương” của nhạc sỹ Trần Văn Khê (1921 – 2015), sáng tác năm 1946, phổ lời bài thơ “Chùa Hương”. Bài hát sinh động, gần gũi với mọi người Việt Nam, từ đó, xã hội càng có lý do để biết đến tác giả bài thơ hay nhất trong lịch sử các tác phẩm viết về Chùa Hương, và đó là Nguyễn Nhược Pháp.

Ảnh chụp ngày gia đình đưa hài cốt của nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp,

sau 47 năm thất lạc về bên cạnh người mẹ cả (cụ bà Nguyễn Văn Vĩnh) trong khu mộ của gia tộc

Hơn 80 năm trôi qua, bài thơ “Chùa Hương” ngày càng trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu trong đời sống văn hóa của người Việt, nhất là khi đất nước bước vào mùa lễ hội sau Tết Nguyên Đán. Tuy nhiên, hình như sau này, xã hội chỉ để tâm vào cái số mệnh bạc của thi sĩ mà thôi…. Nhiều nữa, người đời cũng chỉ xoáy vào những mối tình câm của một người yểu mệnh, mà không mấy ai biết rằng, Nguyễn Nhược Pháp không phải chỉ là một nhà thơ, không phải chỉ là một chàng trai “đa tình lãng mạn”, mà thực tế, ông còn là người được thừa hưởng những tinh hoa văn hóa của cha mình, nên ông còn viết kịch, viết truyện ngắn và là người viết cả phê bình văn học, cho dù ông từ biệt cõi nhân gian lúc mới có 24 tuổi.

Để chứng minh sự xuất chúng, những tài năng thiên bẩm của Nguyễn Nhược Pháp, để giúp cho xã hội biết rõ hơn những năng lực có tính di truyền, và cũng là để tưởng nhớ đến một thi sĩ tài hoa, có công đưa hình ảnh chùa Hương, ngôi chùa linh thiêng, biểu tượng không phải chỉ của những tín đồ Phật giáo ngoan đạo, mà còn là của đức tin người Việt trong cuộc sống tâm linh, chúng tôi quyết định kết hợp với Nhà Xuất bản Phụ Nữ, chính thức phát hành cuốn sách bao gồm toàn bộ những sáng tác của ông, cuốn sách mang tên: “GIỎ NHÀ AI, QUAI NHÀ NẤY”.

A. Nội dung cuốn sách.

Cuốn sách gồm các sáng tác của Nguyễn Nhược Pháp được chia thành năm phần, có thơ, kịch, truyện ngắn, phê bình và một số ý kiến viết về ông của người đương thời, và cả của những người đời sau.

1. Phần thứ nhất.

Phần thơ của cuốn sách, có lẽ đây là phần sáng tác gần gũi nhất với công chúng, đồng thời đầy đủ nhất khi sưu tập, nếu so với các thể loại sáng tác khác của Nguyễn Nhược Pháp. Phần sáng tác này được sưu tầm từ nhiều nguồn khác nhau trong những năm tháng đã qua, và được lưu truyền qua nhiều phương thức. Cũng có thể, vì những người thân, vì công chúng và các bạn đồng môn của Nguyễn Nhược Pháp luôn mang trong mình hình ảnh cùng với cái biểu tượng đậm nét“Chùa Hương”, nên đã giúp cho các cá nhân, các nhóm văn nghệ sỹ, các tổ chức văn hóa độc lập có điều kiện để tập hợp, nhắc tới và phổ biến rộng rãi những tác phẩm thơ của ông.

2. Phần thứ hai và ba.

Những vở kịch và truyện ngắn là phần hơi xa lạ hơn đối với công chúng, một mặt vì các sáng tác thể loại này của Nguyễn Nhược Pháp thiếu những nét độc đáo, hoặc chưa tạo được dấu ấn. Đã có những góc nhìn cho rằng, các tác phẩm kịch và truyện ngắn của ông, khi đọc, người ta thấy cái hơi hướng của lối sống “Tiểu Tư sản”, một  mẫu hình tư tưởng mà theo con mắt của một giai đoạn lịch sử, đây từng là đối tượng bị bài bác và lên án, thậm chí phỉ báng trong đời sống chính trị một thời ở phía Bắc Việt Nam, khi đất nước còn cắt chia thành hai miền. Ngày đó, các cơ quan tuyên truyền văn hóa văn nghệ, vì những lý do khác nhau, đã không giành sự quan tâm cần thiết, nên ở mảng sáng tác này của Nguyễn Nhược Pháp, lại càng trở nên lạ lẫm đối với công chúng.

Trong phần kịch và truyện ngắn, người đọc thấy hiện lên rõ nét những lối sống của một xã hội ở buổi giao thời, giữa những thói quen khó chịu của tầng lớp thị dân chịu ảnh hưởng mạnh trước lối sống Tây phương do người Pháp đem tới, và một bên là những quan niệm phong kiến trong giao tiếp, đã được trở thành cốt cách, quy ước, ứng xử trong cuộc sống của một dân tộc đói nghèo. Điều này tạo nên nhiều tình huống mỉa mai, trớ trêu và chua xót trong đời sống xã hội thời thuộc Pháp.

Riêng phần kịch và truyện ngắn, có lẽ đa số các anh chị em ruột của Nguyễn Nhược Pháp, và thứ nữa là các cháu ruột của ông cũng không nhận ra những bối cảnh trong các tác phẩm đó nó thấp thoáng cái cuộc sống sinh hoạt của chính cái gia đình lớn, cái môi sinh văn hóa, nơi nuôi dưỡng mọi người trong một hoàn cảnh không phải lúc nào cũng suông sẻ, cho dù cha mẹ đều là những người tài thực sự.

Xa hơn, người ta còn thấy cả những tâm tư, những nỗi buồn luẩn quất lúc nào cũng như quấn lấy tác giả, thậm chí có cả hình ảnh của người mẹ đẻ đôi lúc lởn vởn trong tâm trí của ông, lúc đậm lúc nhạt do bà mất từ khi ông mới có hai tuổi. Nếu tưởng tượng xa hơn, người ta còn thấy cả bóng hình người mẹ cả của ông, người bồng bế, nuôi dạy ông, chăm sóc ông trở thành chàng trai tài hoa, chính người đàn bà ấy, đã không vô cớ từng đau đáu nhắc đi nhắc lại với các con cháu của mình khi về già rằng: “Khi nào tao chết, nhớ cho tao nằm cạnh thằng Pháp!”.

3. Phần thứ tư.

Phần phê bình văn học của Nguyễn Nhược Pháp, đối với xã hội là một sự ngạc nhiên. Theo chúng tôi, lý do chính là vì các bài viết này, ông đã viết bằng tiếng Pháp, vì viết bằng tiếng Pháp, ông mới đăng lên được trên tờ báo của cha mình làm Chủ nhiệm, tờ “L’Annam Nouveau – Nước Nam Mới” (1931 – 1936).

Các bài phê bình của ông chỉ thực hiện vào năm 1935, cái năm ông cũng đã “lớn”, cái năm mà nền văn học chữ Quốc ngữ đã thực sự trưởng thành và sinh ra những gương mặt tài năng, một cao trào mạnh mẽ mà đỉnh cao là sự hình thành Nhóm Tự lực Văn đoàn. Đây là giai đoạn nền văn học chữ Quốc ngữ đã để lại dấu ấn cực kỳ quan trọng, khi xã hội bắt đầu nghe đến những cái tên nhân sĩ có tính tiêu biểu như: Khái Hưng (1896 – 1947), Nguyễn Tường Tam (Nhất Linh, 1906 – 1963) Nguyễn Công Hoan (1903 – 1977), Thế Lữ (1907 – 1989), Vũ Trọng Phụng (1912 – 1939), Tú Mỡ (1900 – 1976) ….

Tiếp cận với phần phê bình của Nguyễn Nhược Pháp, người đọc không dễ để cảm nhận, hoặc để chia sẻ với ông, nhưng chí ít, qua những bài phê bình này, người ta cũng thấy hiện lên một mảng đời sống văn hóa ở Việt Nam vào những năm 30 của thế kỷ trước, đặc biệt là ở phần phía Bắc. Những năm tháng mà lịch sử văn hóa Việt Nam lần đầu tiên xuất hiện làn sóng phê bình và tranh luận, điều mà trước đó, trong xã hội phong kiến, người Việt hoàn toàn không có khái niệm gì, thậm chí trong xã hội vua tôi, đó là điều không được chấp nhận. Người đại diện nổi tiếng của trào lưu này là Phan Khôi (1887 – 1959), và mãi cho đến tận những thập niên gần đây, chúng ta mới đang dần quen với cuộc sống phản biện.

Ngoài ra, ở phần phê bình này, người đọc cũng có cơ sở để hiểu thêm về tính cách của tác giả, hiểu thêm cái thẳng thắn đến mức trơn tuột của ông, một tính cách ông kế thừa được từ người cha vang danh của mình.

Những bài phê bình văn học bằng tiếng Pháp này, đã được những người em của ông gom lại và chuyển ngữ sang tiếng Việt, nhằm giúp cho các cháu chắt trong nhà biết rằng, ông trẻ đã từng nghĩ gì và viết gì?! Người dày công làm những công việc thầm lặng đó là hai người em trai sát với Nguyễn Nhược Pháp là Nguyễn Phổ (1917 – 1997) và Nguyễn Kỳ (1918 – 2013).

Dòng suối Yến, đường vào chùa Hương.

Việc chuyển ngữ của các vị với danh nghĩa là người trong nhà cách đây đã gần ba chục năm, nên văn phong thuần túy và giản dị. Có lẽ, khi làm những việc này, các vị cũng không rõ, liệu rồi có ngày nào, những di cảo của anh mình sẽ được in thành sách? Có thể, vào những năm tháng đó, các vị chỉ đơn thuần vì quý người anh, thương người anh tài ba mà đi sớm, nên đã dốc lòng làm những công việc thật chẳng dễ chút nào. Chính vì sống bằng cái tình cảm đó, nên ngoài việc chuyển ngữ theo cách đơn thuần, việc sưu tập cũng đã để thiếu một chút những yêu cầu kỹ thuật của công tác lưu trữ, những đòi hỏi có tính nguyên tắc của công tác xuất bản, phát hành ra xã hội.

Để bù lại những phần thiếu hụt, bằng nhiều cách, công tác biên tập đã tiếp cận được đến tận những nơi có những tư liệu gốc đó. Tất nhiên, dù cố gắng đến đâu, thực hiện những công việc này cũng không thể triệt để. Cuộc sống đôi khi không nhất thiết và cho thấy, có nhiều tác phẩm văn hóa được lưu truyền trong xã hội qua nhiều giai đoạn lịch sử, mặc nhiên nó như được xã hội cấp giấy khai sinh, giấy chứng nhận, thí dụ như các tác phẩm thơ của Nguyễn Nhược Pháp.

Các bài viết bằng tiếng Pháp đã được những người thân của tác giả chuyển ngữ, và cũng đã được các chuyên gia tiếng Pháp rà soát, hiệu đính một cách thận trọng.

Khi thực hiện những phần việc này, người biên tập đã nhận được nhiều ý kiến tham góp, rằng có nên dịch lại tất cả không? Thật hay vì những người liên quan đến công tác xuất bản đã thống nhất, hãy dùng những bài chuyển ngữ của những người là em ruột của tác giả, như thế nó có cả phần hồn tâm linh bên trong của tác phẩm, cho dù việc hiệu chỉnh và sửa chữa một bài dịch, còn khó hơn là dịch mới đối với bất kỳ ai khi làm công việc này.

4. Phần thứ năm

Phần này bao gồm một số tâm sự, chia sẻ những suy nghĩ và tình cảm của người đương thời sau khi chứng kiến sự ra đi mãi mãi của nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp, như: Nguyễn Bính (1918 – 1966), Xuân Diệu (1916 – 1985), Lưu Trọng Lư (1912 – 1991), Nguyễn Vỹ (1912 – 1971), Phạm Huy Thông ….

B. Kết

Thật tuyệt vời, vì nhờ có duyên may với NXB Phụ Nữ, việc xuất bản cuốn sách được đích thân vị Giám đốc chỉ đạo, đôn đốc để cuốn sách không phải chỉ tốt về nội dung, hay về mặt trình bày, mà còn là sự tri ân với nhà thơ, người đã mất đúng 80 năm trước, người đã gắn liền tên tuổi của mình với ngôi chùa nổi tiếng nhất cả nước. Cao hơn nữa, cũng là để hàm ơn người đã sinh ra nhà thơ danh tiếng, mà danh tiếng của người sinh ra người danh tiếng, còn vượt lên cao hơn, đó là học giả Nguyễn Văn Vĩnh.

Cuốn sách dự kiến sẽ được nộp lưu chiểu vào tháng Giêng năm 2018, và có số trang trên, dưới 320. Khổ sách 13 x 20,5 cm.

Trân trọng!

BBT. Tannamtu.com

Chủ nhiệm: NGUYỄN LÂN BÌNH.

Comments

  1. nghiem trong hanh

    Quả thật ,người đương thời đa phần chỉ biết Nguyễn nhược Pháp qua nhạc phẩm :”Em đi chùa Hương ” .Hình ảnh :chân em đi đôi guốc cao cao …trong tâm thức người Việt thật gần gũi ,trong sáng.Thật có lỗi với vong linh nhà thơ.Việc giới thiệu chân dung Nguyễn nhược Pháp với công chúng dịp này là cần thiết .C

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *