Hồi đáp – Tư liệu thứ tư

CHỮ VIẾT – NĂNG LƯỢNG SỐ 1 CỦA BẤT KỲ CUỘC CÁCH MẠNG NÀO.

Lời BBT. TNT

Phạm trù chữ viết tiếng Việt rất rộng lớn, trong các bài đã đăng trên trang tin Tannamtu.com, đã có không ít bài liên quan đến đề tài này. Tuy nhiên, theo chủ quan nhìn nhận, chúng tôi nhận thấy các cơ quan có trách nhiệm của Nhà nước đối với lĩnh vực này, vẫn ở trạng thái lảng tránh việc tôn vinh giá trị đặc biệt của viết Quốc gia, chữ Quốc ngữ.

Công chúng có thể ngửi thấy cái mùi khét của những lập luận khác nhau, bị chi phối bởi những lập trường khác nhau, khi có một nhân sĩ đã phải viết bài trước công luận với những từ ngữ thật khó bỏ qua, vì nó động chạm đến niềm hãnh diện thiêng liêng của người Việt, bài viết có đầu đề:  “BẢN THÂN CHỮ QUỐC NGỮ “CÓ TỘI” VỚI DÂN TỘC VIỆT NAM KHÔNG?”. Tác giả Nguyễn Văn Nghệ.

Đây là hậu quả của sự giằng co trong ý thức hệ giữa những ảnh hưởng đa dạng của các chủ thuyết chính trị khác nhau, đã âm ỉ trong tiềm thức của các nhóm người có quyền lực trong từng giai đoạn lịch sử ở đất nước ta.

Trong chủ đề về tư liệu này, chúng tôi không muốn đi quá xa về phần dẫn chứng, mà chúng tôi chỉ xin trích từ các văn bản hiện chúng tôi nắm giữ, để chia sẻ với những người quan tâm. Những phần trích dẫn đó, chúng tôi in chữ nghiêng.

Sáu cuốn sách của Nguyễn Văn Vĩnh

Những thế hệ người Việt Nam sinh ra sau 1945, khó có thể hình dung được cái ý chí, cái quyết tâm xây dựng nền Quốc văn dành riêng cho người Việt của các nhân sỹ yêu nước cách đây hơn 100 năm, nó gian nan và phức tạp đến mức nào trong hoàn cảnh một dân tộc đang bị các loại hình tư tưởng văn hóa từ các nước lớn, với các chủ thuyết chính trị khác nhau tìm cách xâm nhập, thôn tính. 100 năm nhìn lại, chúng ta còn nhận thấy có cả sự ‘cay cú’ của một vài nhóm người thiểu số đã từng gay gắt đòi ‘hạ bệ’ chữ Quốc ngữ.

Giai đoạn từ 1900 đến 1930, là giai đoạn khó khăn nhất trong việc hình thành nền văn hóa độc lập, nền văn hóa chữ Quốc ngữ. Giai đoạn thể hiện bản năng sinh tồn dữ dội nhất của người Việt trong lĩnh vực văn hóa tư tưởng.

Những giai đoạn quan trọng của lịch sử phát triển văn hóa Việt Nam 30 năm đầu thế kỷ XX, rất ít được nhắc đến với thái độ hàm ơn trân trọng của chế độ xã hội hiện chúng ta đang tồn tại. Nguyên nhân chính, là do những nhóm người cực đoan, đồng minh của tư tưởng Hán hóa, làm công tác tuyên truyền trong bộ máy cai trị đất nước, đã thực hiện một cách tinh vi thông qua quyền lực, để xóa bỏ vai trò lịch sử của những gương mặt ái quốc theo cách riêng của họ. Trớ trêu hơn nữa, họ đã muốn làm lu mờ giai đoạn lịch sử này, làm đứt đoạn ký ức, nhằm giành vai trò độc tôn, phục vụ cho những chủ thuyết riêng.

Bằng những đánh giá phiến diện, đầy định kiến và không có cơ sở khoa học, họ, những người có quyền lực, đã lưu truyền việc kết án vô căn cứ nhiều nhân sỹ tiêu biểu của giai đoạn lịch sử vừa nêu, trong đó có một con người đã toàn tâm, toàn ý cho sự nghiệp phát triển tri thức của người dân Việt Nam khi chữ viết chính thức của dân tộc chưa có, đó là Nguyễn Văn Vĩnh.

Giấy khai sinh 1938

Khi chữ Quốc ngữ chính thức trở thành chữ viết Quốc gia, họ đã dùng chính thứ chữ mà NVV là người đã dốc sức cổ xúy với sự hào hùng quyết liệt nhất, bền bỉ nhất theo ghi nhận của lịch sử, nhằm giành bằng được cho đồng bào của mình cái quyền có con chữ riêng. NVV luôn tâm niệm, con chữ là đứa con linh hồn của tiếng nói, của ngôn ngữ. Quốc ngữ sẽ là nguồn năng lượng quý giá nhất cho cỗ xe tiến hóa đối với dân tộc Việt tiến về hệ ý thức độc lập, dân chủ và bình đẳng, NVV quyết chiến vì thế! Vậy nhưng, họ đã từng quy chụp NVV như sau:

“Từ nhà trường của thực dân, ngoài những tên tay sai văn hoá lớp trước chúng ta thấy xuất hiện một lớp mới như Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh v.v… bọn này được thực dân chuẩn bị cho đủ lông cánh để nhảy ra vũ đài văn hoá khi cần thiết…”. (Trang 48).

Điểm đặc biệt là Đông dương tạp chí chỉ chú trọng dịch các loại sách văn học của Pháp, không đả động đến sách triết học…. (Trang 54).

Y còn dạy cho các Nghị viên học ăn học nói trong các kỳ họp, nào là “đừng nói quá nhời”, “đừng viện ý dân” mà hoá ra “lố” lắm… (Trang 55).

Trích trong bài “Vài nét về quá trình đấu tranh chống thực dân và tay sai trên lĩnh vực văn hoá của nhân dân ta trong 30 năm đầu thế kỷ 20”, tác giả Nguyễn Anh. ‘Tập san nghiên cứu lịch sử số 116 xuất bản năm 1968’.

Trước Nguyễn Anh 30 năm, E. Vayrac, Trưởng Phòng sách báo bản xứ, một người Pháp có vai trò đáng kể trong bộ máy chính trị của Chính quyền Thực dân, năm 1937 đã viết trong báo cáo về Thực trạng in ấn và xuất bản ở nước An Nam thuộc địa, có đoạn viết về NVV như sau:

“Người Pháp quả thật không hiểu gì về người An Nam; còn người An Nam lại hiểu về chúng ta thật là kỳ dị, hoang đường, ngoài sức tưởng tượng…. 

Ngay từ đầu, tôi đã có may mắn được kết giao với một vài người An Nam nổi tiếng, cụ thể là với ông Nguyễn Văn Vĩnh, nhà văn lớn nhất của An Nam trong thời đại chúng ta. cũng là người ngay thẳng nhất, thành thật nhất mà tôi biết, người trong tất cả mọi trường hợp sẵn sàng nhất để nói với chúng ta sự thật. Chính ông đã dần dần cho tôi thấy cái vực sâu ngăn cách giữa chúng ta với quần chúng An Nam. Và chúng tôi phải tự hỏi, bằng cách nào chúng ta mới có thể xóa bỏ được sự ngộ nhận hoàn toàn đó….

Lúc đó ông Vĩnh chưa thực tin tưởng vào chính phủ. Ông đã đứng phần nào về phía phản đối. Ông đã dịch những sách triết học Pháp, những sách chuẩn bị cho cuộc cách mạng. Tôi đếm được ông đã dịch sáu hay bẩy quyển “Khế ước xã hội” (Jăng Jắc Rút Sô Jean-Jacques Rousseau,1712 – 1778. b/t), bản thân ông cũng không giấu tôi là đã dịch những cuốn sách đó…”

Có thể khẳng định, qua các di cảo của NVV để lại, NVV là một nhân vật hiếm hoi của cái bối cảnh lịch sử tranh tối tranh sáng, một xã hội đang mang thai sự hình thành nền văn hóa mới, NVV là người có khả năng nhận thức sâu sắc về những yếu kém của dân tộc mình, nguyên nhân tạo ra một nước nghèo, hèn, lạc hậu. Ở phía đối diện, NVV cũng là người hiểu người Pháp đến tận chân tơ kẽ tóc, hiểu cả những nguồn gốc sâu xa của sự cực đoan trong chính sách cai trị thuộc địa, lý do làm cho người An Nam phẫn nộ đến mức“Ngày xem ống khói chạy đen xì toan ra cắn cổ” (Nguyễn Đình Chiểu).

Công văn Bộ VH TT&DL trả lời ông Nguyễn Lân Bình

Cái giai đoạn lịch sử đất nước đang quặn mình trong cơn đau trước khi sinh ra một đứa con tinh thần là nền văn hóa chữ Quốc ngữ ấy, không phải chỉ có Phan Châu Trinh thai nghén một dự án lý tưởng về sự hợp tác Pháp – Nam (Pháp – Việt đề huề), mà xa hơn nữa, NVV đã thành tâm mơ ước một cuộc cải cách toàn diện không phải bằng búa, rìu, mà bằng tri thức và trí tuệ trước một “cuộc chiến” các bên đều thắng. Nhận thức và mơ ước như thế, nên NVV đã quyết tâm, dốc lòng xây từng viên gạch nhỏ cho con đường xa lộ dành cho cỗ xe tiến hóa của dân tộc mình.

Chúng ta cùng đọc lại những điều NVV đã gửi đến đồng bào mình, thông qua một phương tiện truyền thông do chính ông phụ trách, nhưng mỉa mai thay, tiền đầu tư cho phương tiện đó hoạt động, lại là của “kẻ địch”.

Trích đoạn của bài “TIẾNG AN NAM” trên Đông Dương Tạp Chí số 40, ra năm 1913. NVV đã thiết tha kêu gọi mọi người dân nên góp công xây dựng một nền tảng quốc văn học thuật mới, cơ sở cho sự phát triển tri thức và trí tuệ, trong lúc nền hành chính văn tự Việt Nam lúc đó, đang đứng trước sự giằng co của chữ Hán Nôm vay mượn và Pháp văn áp đặt.

“… Nay muốn cho văn tự nước Nam có kinh điển thì bao nhiêu những bậc tài hoa, những người có học thức trong nước  phải chuyên về nghề văn quốc ngữ.  Các bậc danh nho thì nên bỏ quách cái tài ngâm hộ cho người đi (ý nói ngâm nga thi phú Tàu), chỉ học cho biết để mà nhân cái hay của người làm cái hay của mình mà thôi. Các bậc có Pháp học thì tuy rằng cái ngoại tài ấy phải chuyên làm cách tranh cạnh (cạnh tranh.b/t), làm mồi kiếm ăn, nhưng nếu muốn nhân việc lập thân mà lại có ích cho đồng bào mình thì phàm luyện được chúc tài nào của người thì cũng nên dùng quốc văn mà phát đạt nó ra cho cả người đồng bang được hưởng.

Nào báo quốc ngữ, nào sách học quốc ngữ, nào thơ quốc ngữ, văn chương quốc ngữ, án ký hành trình, tiểu thuyết nghị luận, tờ bồi việc quan, đơn từ kiện tụng, nên làm toàn bằng văn chữ quốc ngữ hết cả. Cả đến những cách cao hứng vịnh đề, tình hay cảnh đẹp, câu đối dán nhà, tứ bình treo vách, câu phúng bà con, lời mừng bạn hữu, đều nên dùng quốc văn hết thảy, mà cốt nhất là phải tập lấy lối văn xuôi, diễn dịch như in lời nói cho rõ ràng, cho nhất định, phải khiến cho lời văn chương theo lời mẹ ru con, vú ấp trẻ, lời anh nói với em, vợ nói với chồng chớ đừng để cho văn chương thành ra một cách nói lối, mà tiếng nói vẫn cho là nôm na.

Văn chương phải như ảnh tiếng nói và tiếng nói phải nhờ văn chương hay mà rõ thêm, đủ thêm ra.

Lại còn một điều khẩn yếu nửa ra muốn cho văn quốc ngữ thành văn chương hay khỏi thành một tiếng nôm na mách qué, thì cách đặt câu, cách viết, cách chấm câu phải dần dần cho có lệ có phép, mà lệ phép thì phải theo ý nhiều người đã thuận, chớ đừng ai tự đắc lối của mình đem ý riêng ra sửa đổi thói quen”.

Biết ơn sự ra đời của chữ Quốc ngữ, chúng ta những mong sẽ có một ngày kỷ niệm riêng cho chữ Quốc ngữ, và đương nhiên sẽ là ngày tôn vinh tiếng mẹ đẻ của người Việt. Ngày lễ tôn vinh chữ Quốc ngữ sẽ là cầu nối tạo sự đoàn kết giữa các dân tộc khác nhau sống trên lãnh thổ Việt Nam, cũng như dành cho tất cả những người Việt Nam hiện đang sống ở mọi miền trái đất.

Trong ngày lễ này, mọi tầng lớp nhân dân không lệ thuộc vào tín ngưỡng, tôn giáo, dân tộc, vùng miền, nhãn quan chính trị, nhưng cùng nói và cùng hiểu một thứ tiếng mẹ đẻ, cùng hiểu một thứ chữ viết, sẽ cùng nắm tay kết đoàn, cùng vì một đất nước đang rất cần được bảo vệ trước những hiểm họa đa dạng của ngoại bang.

Ngày lễ đó được gọi là:

                              “Ngày kỷ niệm chữa viết Quốc gia –

                             Chữ Quốc ngữ và đoàn kết dân tộc”

 

                                                                                                    Hà Nội, 10/7/2017

BBT. TNT

NGUYỄN LÂN BÌNH

                                                                          

Tài liệu tham khảo:

http://thethaovanhoa.vn/the-gioi/ngay-tieng-me-de-quoc-te-21-2-hay-de-toi-noi-bang-ngon-ngu-cua-minh-n20140221080506298.htm

https://voer.edu.vn/m/tieng-viet-6-bai-4-nguyen-van-vinh-voi-tieng-me-de-va-chu-quoc-ngu/83ca41fc

==============================

 

 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *