Kỷ niệm 10 năm ra đời bộ phim tài liệu lịch sử độc lập (2007 – 2017) – LÀM PHIM ĐỂ LÀM GÌ? – Phần 4

Tri ân

Bộ phim “Mạn đàm về Người Man di hiện đại” có một lịch sử ra đời thực sự là một sự ngẫu nhiên, nhìn từ nhiều góc độ như kể chủ xướng đã tâm sự. Đặc biệt, những người được phỏng vấn trong bốn tập phim hoàn toàn xuất phát từ nhận thức bản năng về các mối quan hệ xã hội, dựa trên cơ sở những hiểu biết thông thường của người khởi xướng.

Trong giai đoạn dựng phim, người đạo diễn đã lựa chọn các ý kiến phát biểu của tất cả các nhân vật xuất hiện trong ống kính. Như vậy, về bản chất, nội dung phát ngôn, diễn giải của các cá nhân có gần như 100% là tự nhiên, ngoại trừ đôi ba trường hợp, những người cao tuổi, do muốn cụ thể, đã ghi ra giấy tên các tác phẩm, các tờ báo, năm tháng ra đời để tránh bị sai lệch về tính dữ liệu, những điều mà không nhất thiết lúc nào người ta cũng phải nhớ đến.

Số lượng các nhân sỹ, các nhà khoa học mà Nhóm làm phim tìm đến, đều thông qua điện thoại và chỉ có khoảng 10% là những người mà kẻ chủ xướng có chút ít sự quen biết trước khi làm phim.

Khi bộ phim hoàn thành, cả Nhóm làm phim đã đều thấy biết ơn vô vàn những ý kiến giãi bày của tất cả các cá nhân xuất hiện trong ống kính máy quay. Nhờ những ý kiến mộc mạc và chân thành, nhưng đó chính là những lý do đã giúp cho bộ phim trở nên hấp dẫn người xem, bắt chấp việc có đôi ba ý kiến trùng lặp. Hơn nữa, chính những tâm sự của các cá nhân đó, đã trở thành những chất liệu quý hiếm để bộ phim thành hình.

Thời gian là một phép thử chính xác nhất trước những điều mà người đời thường băn khoăn, hoặc ngờ vực. Nhưng ngược lại, thời gian cũng là sự tác động, chứng minh độ bền của bất kỳ loại vật chứng nào, mà đối với kiếp người, lại là thứ dễ biến động hơn bất kỳ điều gì khác tồn tại trong cuộc sống.

Vì sự biến động có tính mất mát này, chúng tôi xin được điểm lại những gương mặt khác nhau đã xuất hiện trong bộ phim tài liệu “Mạn đàm về Người Man di hiện đại”, vừa là để một lần nữa biết ơn những “hạt cát” bé nhỏ, vừa là để tri ân với những thành tố đã tạo ra một sản phẩm tinh thần có một không hai trong cộng đồng xã hội.

Chúng tôi xin điểm lại lần lượt từng trường hợp tính theo thứ tự thời gian người đã ra đi, cùng những câu nói ấn tượng mà người đó để lại trong bộ phim về sự nghiệp và cuộc đời của Tân Nam Tử Nguyễn Văn Vĩnh.

Thứ nhất: TRẦN HÒA BÌNH (1956 – 2008), Nhà thơ, nhà báo, giảng viên Khoa Báo chí, Học viện Báo chí Tuyên truyền thuộc Học viện Chính trị Quốc gia HCM.

“Lịch sử cần phải tồn tại như nó vốn có, chúng ta phải trả lại cho thế hệ trẻ, còn việc nhận thức như thế nào đó là việc của thời đại”.

Thứ hai: NGUYỄN THỊ NGA MỸ (1956 – 2009). Con gái út của ông Nguyễn Kỳ (Con trai thứ sáu của học giả NVV).

“Cũng như các anh, các chị mình, cũng bị xã hội vùi dập, không được công nhận. Nhưng nhờ việc mang gien của ông mình nên cũng đã hoàn thành việc tự học và cũng tìm được vị trí cho mình”.

Thứ ba: NGUYỄN KỲ (1918 – 2009). Con trai thứ sáu của học giả NVV, là người con ra đời sau sự kiện chính trị chấn động do NVV dám bắt tay vua Khải Định (1917), bị Triều đình Huế kết tội khi quân.

 “Tôi được may mắn ở cùng với ông (bố) tại Tòa soạn báo của cụ bên hồ Hoàn Kiếm”.

Thứ tư: NGUYỄN KHÁNH HỘI (1931 – 2012). Người Nam bộ, Việt Kiều tại Pháp. Khi ông gặp Nhóm làm phim, ông đã ở nước Pháp được 58 năm. Ông từng là chuyên cao cấp của Tập đoàn IBM trước khi nghỉ hưu.

“Thế kỷ 21 là kỷ nguyên của sự cạnh tranh mọi mặt, lịch sử Việt Nam vẫn không nói cho rõ trường hợp Nguyễn Văn Vĩnh thì đó sẽ là một thiếu sót lớn”.

Thứ năm: NGUYỄN VINH PHÚC (1926 – 2012). Nhà giáo, nhà nghiên cứu nhiều năm về lịch sử Hà Nội.

“Năm 1906, chàng thanh niên Nguyễn Văn Vĩnh mới ngoài 20 tuổi đầu đã giám tự mình thay mặt các Nhà Nho, thay cho Lương Văn Can, Thay cho Lê Đại, Nguyễn Quyền làm đơn xin Thành lập Đông Kinh Nghĩa Thục”.

Thứ sáu: DƯƠNG CẨM CHƯƠNG (1911 – 2014). Bác sỹ, họa sỹ, con trai thứ của Dương Bá Trạc (1884 – 1944) danh sỹ cùng thời trong ĐKNT với NVV. Bác sỹ Dương Cẩm Chương là người duy nhất còn lại từng làm việc và trò chuyện với NVV trong số những người được phỏng vấn trong bộ phim. Khi bác sỹ trả lời phỏng vấn, lúc đó ông đã 95 tuổi.

 “Ông là người khỏe mạnh và ông có câu nói:“Làm nhà báo phải biết đi mô-tô”. Nhìn thấy ông Vĩnh là thấy sự hoạt động, cho đến lúc này tôi cũng chưa gặp người nào có tác phong như ông Vĩnh”.

Thứ bẩy: NGUYỄN THỊ MƯỜI (1920 – 2013). Con thứ 10 (con gái thứ tư) của học giả NVV.

“Trong truyện “Hai người tranh nhau con Sò”, cụ dịch:

“Hai người đi trẩy hội chùa,

Qua nơi bãi cát, gặp sò nổi lên.

Tay cùng trỏ, mắt cùng nhìn”…

Cách dịch của cụ mới thật là Việt Nam, mà là ở nông dân Việt Nam. Vậy nhưng người ta cứ nói rằng: Thầy tôi ưa Tây!?”.

Thứ tám: BÙI TƯỜNG TRÁC (1917 – 2014). Con rể học giả NVV (chồng bà Nguyễn Thị Mười).

Thứ chín: NGUYỄN CHUNG TÚ (1922 – 2014). Giáo sư khoa học. Năm 1960 GS đã đệ trình luận án về Hiện tượng phát huỳnh quang của CdI2(Pb) tại Đại học Rennes (Pháp), được đậu Tiến sĩ Quốc gia Vật lý, hạng tối danh dự với lời khen của ban giám khảo.

“Sau này tôi đọc lại tất cả các tác phẩm đó bằng tiếng Pháp, mới thấy rõ cái biệt tài của cụ. Cụ dịch, văn dịch mà mình tưởng như là nguyên văn, ai cũng công nhận như thế”.

Thứ mười: NGUYỄN HỒ (1923 – 2015). Con trai út của học giả NVV. Người con được NVV sinh ra tại ngôi nhà số 13 phố Thụy Khuê, đối diện bờ Hồ Tây, nên được đặt tên là Hồ.

“Tôi nhớ kỷ niệm với Bố mình, khi mới 9 tuổi, gia đình mất hết tài sản vì bị chính quyền bán đấu giá. Hàng ngày ông Vĩnh vẫn đi làm bằng tầu điện từ phố Thụy Khuê lên đến hồ Hoàn Kiếm. Buổi trưa ông về nhà cũng bằng tầu điện, ông không còn phương tiện nào khác…”.

Thứ mười một: NGUYỄN THỊ CHUNG (1924 – 2015). Con dâu học giả NVV (vợ ông Nguyễn Kỳ).

“Nhờ có 20 năm biên soạn tài liệu về cụ, từ lúc là cậu bé kéo quạt … đến những bài điếu văn trong đám tang, tôi đã hiểu rõ hơn”.

Thứ mười hai: TRẦN VĂN KHÊ (1921 – 2015). Giáo sư, tiến sỹ âm nhạc đầu tiên người VN tại Pháp. Giáo sư tại Đại học Sorbonne, Pháp, thành viên danh dự Hội đồng Âm nhạc Quốc tế UNESCO.

“Xem lại các điếu văn, các câu đối phúng viếng ta nhận thấy nếu cụ không phải là người yêu nước, không phải là người có tâm và không phải là nhà văn hóa lớn thì không thể nào những người đáng kính trọng như cụ Phan Bội Châu, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Trọng Kim, Dương Bá Trạc… gửi đến những câu đối viếng đám tang cụ Vĩnh trân trọng như vậy”.

Thứ mười ba: NGUYỄN LÂN ĐÍNH (1931 – 2016). Bác sỹ dinh dưỡng. Con trai thứ hai của bác sỹ Nguyễn Hải (1901 – 1938, con trai cả của học giả NVV). Năm 2012 ông được trao Giải Thưởng Dinh Dưỡng VINUTAS-DUTCH LADY.

“Theo cách nhìn của tôi, ông nội tôi là một người yêu nước! Chỉ có mọi người không hiểu chứ với tôi chưa bao giờ tôi lại không hãnh diện về ông nội mình!”.

Thứ mười bốn: ĐINH XUÂN LÂM (1925 – 2017). Giáo sư sử học, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử VN.

 “Nguyễn Văn Vĩnh là người rất gắn bó với Phan Châu Trinh. Riêng việc khi Phan Châu Trinh bị bắt, cụ Vĩnh là một trong những người sốt sắng ký đơn chống đối và đề nghị chính quyền ân xá. Điểm thứ hai là cụ Vĩnh là người dịch bản tuyên ngôn của cụ Phan Châu Trinh về chủ trương Pháp Việc đề huề, lúc đó Phan Châu Trinh có khuynh hướng Pháp Việt hợp tác. Việc cụ Vĩnh dịch và giới thiệu bản tuyên ngôn này thể hiện sự nhất trí về tư tưởng giữa hai con người. Căn cứ vào đó ta có thể khẳng định mối quan hệ về mặt tư tưởng chính trị giữa hai con người”.

Một lần nữa, nhân danh kẻ chủ xướng, nhân danh những người trong Nhóm làm phim, xin mãi biết ơn những người đã khuất!

Cầu Trời, Phật và các Thánh thần lúc nào cũng ban cho các vong hồn đã khuất sự mát mẻ và linh thiêng!

Hà Nội, ngày 15/6/2017 (Ngày sinh lần thứ 135 của học giả Nguyễn Văn Vĩnh).

Người viết, tổng hợp: NGUYỄN LÂN BÌNH.

 

================

 

 

 

 

 

 

 

 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *