Kỷ niệm 10 năm ra đời bộ phim tài liệu lịch sử độc lập (2007 – 2017) – LÀM PHIM ĐỂ LÀM GÌ? – Phần 2

BỘ PHIM VỚI NHỮNG NGƯỜI LÀM PHIM

Có thể khẳng định, kẻ khởi xướng và những người hợp tác, khi bắt tay thực hiện bộ phim, đều không hình dung được hết cái sức nặng cũng như giá trị của đề tài NVV. Người khởi xướng suy nghĩ thuần túy, rằng quá khứ của ông cha, tại sao lại là sự mơ hồ? Tại sao bị che đậy? Thế nào là tư tưởng thiên kiến? Cách nhìn thiển cận về đề tài NVV có phải vì chủ quan? Vì sao họ muốn dập vùi? Nguyên nhân nào tạo ra sự đố kỵ này?

Việc các hệ thống chính trị tránh sự đề cập đến tư tưởng và sự nghiệp của NVV, thực chất chỉ vì nó quá mới lạ (khác lạ). Ngoài ra, tính hấp dẫn của con người NVV, đã làm khó cho những chính sách của các hệ thống chính trị đó, khi họ có những toan tính, áp đặt những phương thức cai trị phi khoa học đối với dân chúng.

Cần được làm rõ và minh định về con người và sự nghiệp của NVV, dù là kết luận thế nào, và không dùng để minh oan! Đó là xuất sứ của tư duy người khởi xướng.

Các thế hệ là con cháu trực tiếp của NVV đã từng nhiều năm sống trong nỗi sợ hãi, bị ám ảnh trong các mối quan hệ xã hội ở từng giai đoạn lịch sử nhất định, đẩy họ đến chỗ đành lựa chọn sự nhẫn nhục,chép miệng, “bỏ qua”, để sống nốt những ngày cuối đời được yên ả. Thực tế đã có rất nhiều những danh sỹ, nhà khoa học, nhà cách mạng ở mọi lĩnh vực khác nhau, trong các thời kỳ khác nhau ở xã hội VN, cũng đã đóng vai người “hiền lành” để được yên ổn.

Có đúng đây là một kết quả tốt trong phương thức triệt tiêu phản biện, thủ tiêu đấu tranh, và không chấp nhận sự công bằng xã hội, tạo một góc nhìn khác về lịch sử…

Vậy nhưng, những người hiểu biết, có nhân tâm, có kiến thức, hiểu bản chất cùng cái tâm trong sáng của NVV, hiểu những giá trị to lớn có thật mà NVV đã làm, đã để lại cho hậu thế, họ vẫn mang trong tâm khảm hình ảnh kính trọng NVV, họ thầm phục và biết ơn con người này qua thời gian. Đặc biệt, khi có điều kiện, họ đã nhắc đến NVV với tấm lòng ngưỡng mộ tha thiết, họ coi những gì biết qua NVV như những bài học để làm người.

Bản thân những cộng sự, những người hợp tác xây dựng tác phẩm, kể từ đạo diễn, quay phim, nhân viên kỹ thuật, nhưng người hỗ trợ công việc tiếp xúc với các tổ chức cá nhân ở cả trong và ngoài nước, cũng đều mang trong lòng sự thiện chí với đề tài, với người khởi xướng. Lúc đầu khi bắt tay vào làm phim, hình như vì chứng kiến kẻ khởi xướng “đơn thương độc mã”, đã làm họ động lòng. Họ, những người cộng sự đều mang trong tâm thức một suy nghĩ chung rằng: NVV là một “nỗi oan” lịch sử, ẩn chứa sự bất công kéo dài, kéo theo sự khổ đau dai dẳng của gia đình, người thân…. Vì vậy, mình nên giúp đỡ, nhất là khi chính họ, cũng có tâm lý, rằng mình cũng đã từng là hiện thân của sự đối xử bất công!

Người đạo diễn, một con người từng trải, đã từng phải thú nhận khi lần đầu tiên (cuối 2005, đầu 2006) tiếp xúc với những tư liệu ít ỏi ban đầu về đề tài NVV, rằng:

“Ừ, hồi xưa mình cũng có nghe loáng thoáng về cụ ….”.

Rồi trong quá trình thực hiện, ông được gặp gỡ, trao đổi với những gương mặt uyên bác về kiến thức xã hội, khoa học và cuộc sống, lại trực tiếp phỏng vấn, ghi hình, nghe các vị đó giãi bày về NVV, ông ta đã phải thốt lên:

“Kinh thật, càng nghe càng thấy cụ Vĩnh khiếp thật, sao lại giỏi thế không biết?!”.

Đây chính là chất kích thích kẻ khởi xướng và những cộng sự của mình mải miết theo đuổi đề tài, bất kể khó khăn, phức tạp nào. Mặt khác, có thể do người khởi xướng là kẻ ngoại đạo về mọi mặt, nên cũng như người điếc, đạn bom, súng nổ không thấy sợ, việc đi là cứ đi, làm là cứ làm. Rồi cầu Trời cho mọi việc….

Chúng tôi càng đi càng thấy trời sáng, càng đi càng thấy nhiều người xót xa chia sẻ, thậm chí có cả sự ân hận vì đã vô tình, trong quá khứ, từng can dự vào tiến trình thóa mạ, hạ nhục một bậc tiền nhân đáng trọng. Những thực tế đó càng làm tăng thêm lòng ngưỡng mộ, lòng kính trọng của nhiều người, và thúc đẩy cái quyết tâm phải làm thật tốt để chứng minh với lịch sử, rằng NVV tuyệt nhiên không như “họ” tuyên truyền.

Nhờ cái gốc tâm lý nói trên, suốt chặng đường dài, kẻ khởi xướng và Nhóm làm phim đã được bạn bè ở cả hai trường phái chính trị, người thân ở gần cũng như ở xa, ở trong nước cũng như khi ra nước ngoài, chào đón, hậu thuẫn, cổ vũ và chia sẻ.

Điện PANTHEON tọa lạc giữa thủ đô PARIS (Ảnh Nguyễn Lân Bình chụp)

Chỉ xin kể lại một câu chuyện rất nhỏ, trong hàng trăm những sự việc thần tài đã sảy ra với Nhóm làm phim khi đến nước Pháp. Cần nhấn mạnh, kẻ chủ xướng không có mảy may kinh nghiệm gì, như chuyên môn, những kiến thức thông thường về mảnh đất lần đầu tiên đặt chân, lại kèm cả cái gánh nặng tài chính, ăn ở, sinh hoạt, đi lại cho nhóm làm phim. Vậy những ai sẽ giúp…. Câu chuyện thế này:

Nhóm làm phim quyết định vào quay tại Điện PANTHEON ở Paris, nơi lưu giữ những linh hồn thiêng liêng của lịch sử nước Pháp, nơi có hầm mộ của các danh nhân xuất sắc, mà tâm điểm là hầm mộ của đại văn hào Alexander Dumas (Ba Người Lính Ngự Lâm) và Victor Hugo (Những Người Khốn Khổ), hai tác gia vĩ đại trong lịch sử văn hóa của nhân loại, hai con người đã viết những tác phẩm để đời làm mê hoặc cái tư tưởng “học đòi” tiến bộ của người “nhà quê” NVV.

Trước khi ra khỏi nhà, người dắt đi là một Việt kiều, có hàm chức trong hệ thống hành chính của Chính phủ Pháp, đã lưu ý:

“Ở Điện PANTHEON, họ chỉ cho chụp ảnh, không cho quay phim đâu. Họ bắt được, phạt nặng lắm và bị tịch thu máy quay đấy!”.

Cả nhóm sững sờ… Bâng khuâng một lúc, đạo diễn và quay phim bàn nhau:

“Mình cũng biết ở đây họ cấm dùng camera (đạo diễn hướng về người quay phim), cậu phải mặc cái áo khoác rộng, cho cái máy quay vào trong, quay được chỗ nào xong, mình cất máy vào trong áo, rồi lúc nào thấy cần, mình lại quay. Thế nhé!”.

Tại Điện PANTHEON, sau khi mua vé vào cửa, cả nhóm đi thẳng xuống phía đặt các hầm mộ các danh nhân và xác định sẽ dừng để quay tại khu vực hầm mộ của A. Dumas và V. Hugo.

Không khí trầm mặc, vì vừa là bảo tàng, vừa là nhà mồ. Khách đến thăm lặng lẽ, mọi sự di chuyển rất trật tự toát ra vẻ thâm nghiêm… Để cho sinh động trong cảnh quay, người đạo diễn đã chủ động đứng trước hầm mộ của hai vị danh nhân, diễn giải tóm tắt những nét chính về sự nổi tiếng của V. Hugo và A. Dumas, đồng thời nêu nhận định, rằng vì sao NVV lại dốc sức để dịch những kiệt tác của hai con người này ra tiếng Việt? NVV làm vậy để phục vụ ai? Cái gì?

Người quay phim say xưa lia máy, lúc thì lấy toàn cảnh, lúc thì cận cảnh và tiến gần vào căn hầm, nơi đặt hài cốt của hai vĩ nhân của nền văn minh Pháp. Mọi việc diễn ra đã trôi chảy được hơn 30 phút.

Bỗng từ xa, một nhân viên an ninh cao lớn, nước da hơi xẫm màu, trong bộ trang phục rất uy nghi màu tối, chân bước vững chắc. Chung quang thắt lưng anh ta, gài rất nhiều trang thiết bị chuyên dụng, tay phải anh lăm lăm chiếc dùi cui điện, đi nhanh về phía chúng tôi. Phút chốc, tất cả chúng tôi biết có chuyện rồi, bất lợi rồi.

Nhân viên an ninh đi nhanh đến mức (không phải là chạy), người quay phim của chúng tôi không kịp thu máy vào trong áo. Chúng tôi bị đại diện nhà chức trách bắt quả tang vi phạm quy định!

Đứng trước mặt chúng tôi, nhân viên an ninh dùng chiếc dùi cui chỉ thẳng vào chiếc camera nói ngắn gọn: Ai cho phép các ông quay phim? Tắt máy ngay và chấm dứt…. Người bạn Việt kiều đưa chúng tôi đi, hơi luống cuống, song cũng đủ bình tĩnh để xin lỗi và chấp hành lệnh của nhân viên an ninh.

Người nhân viên an ninh nói gì nữa, tôi không quan tâm lắm, vì rõ ràng, lời cảnh báo đã được nêu từ trước khi đi. Vả lại cũng đã quay được đủ (tôi cảm thấy vậy). Tôi thoáng lo lắng, vì mới là ngày đi quay đầu tiên trên đất Pháp, đã bị cảnh cáo thế này… Còn bao nhiêu dự định nữa, toàn những nơi nghe đâu cũng áp dụng những quy định nghiêm ngặt lắm trong lĩnh vực an ninh, không biết rồi sẽ thế nào? Mọi việc sẽ ra sao nếu “mất” máy quay?

Hình như, người Việt kiều nhận thấy thái độ của nhân viên an ninh không quá đáng lo như lúc đầu mới xuất hiện, ông nói ôn tồn và mạch lạc như có ý thanh minh với người nhân viên an ninh điều gì, mà tôi bỗng thấy anh nhân viên vẻ mặt chững lại, và tạm dừng việc lên án sự vi phạm của chúng tôi. Tôi há mồm khi chứng kiến nhân viên an ninh đó ồ… rồi à…, rồi lại à…. ồ…. Động tác anh ta quay đầu, mắt đảo quanh nhìn mọi phía như muốn tìm kiếm điều gì đó, làm tôi không hiểu. Anh ta hướng mặt và nói nhanh với người quay phim (người quay phim nói tốt tiếng Pháp): Vậy ông quay nốt đi, nhưng phải nhanh đấy, khẩn trương nhé…  Xong các ông phải ra khỏi đây ngay đấy, coi như tôi không nhìn thấy các ông!

Nói rồi, người nhân viên an ninh rẽ nhanh sang lối đi bên phải, hút bóng trong những đường hầm tĩnh lặng với loại ánh sáng yếu vừa đủ. Anh ta rời chỗ chúng tôi nhanh đến mức chúng tôi đã không kịp merci (cảm ơn) anh.

Mấy người chúng tôi, từ chỗ toát mồ hôi cách đó mấy phút, đến chỗ vui sướng như trúng thưởng đột xuất, đã bảo nhau gói gém đồ nghề và “biến” khẩn trương. Ra đến ngoài đường, mùa thu Paris đã làm chúng tôi thở phào khoan khoái, kèm theo cả thái độ của sự đắc chí. Tôi hỏi người Việt kiều giúp đưa chúng tôi đi, rằng anh nói những gì với nhân viên an ninh đó, mà thay vì sự trừng phạt, mắng mỏ, bắt bớ theo quy định, anh ta lại bảo người quay phim quay nốt đi?

Người Việt kiều nói: Mình giải thích với cậu ấy, rằng chúng tôi sai rồi, nhưng đây là những người từ VN sang, họ làm phim tài liệu về một người VN, từ 100 năm trước, là người đầu tiên dịch các tác phẩm vĩ đại của văn học Pháp sang tiếng Việt. Đó là người VN đầu tiên có công truyền bá văn hóa Pháp với dân tộc chúng tôi, mà nhờ những tác phẩm nổi tiếng của hai ông này (chỉ nơi đặt hầm mộ của V. Hugo và A. Dumas), đã làm cho người Việt chúng tôi biết và yêu quý văn học Pháp!

Nghe xong, chúng tôi cười ngây ngất vì cả nhóm vừa sung sướng do“thoát hiểm”, vừa thấy tự hào về công việc mình đang thực hiện. Hóa ra, cái tâm của văn hóa chính là những dòng suối nhỏ hòa vào thành một con sông lớn, con sông ấy đã nuôi sống nhân loại, tắm mát từng con người, làm cho con người xích lại gần nhau, tôn trọng và độ lượng với nhau, tạo cơ hội cho nhau cùng tồn tại.

Chỉ một câu chuyện nhỏ vậy thôi, nhưng chúng tôi hiểu rằng, chúng tôi đang làm một việc tử tế, chỉ có việc tử tế mới làm rung động được lòng người, chỉ có việc tử tế mới đem lại những kết quả tốt đẹp, thậm chí là mỹ mãn.

Nhà hát Opera ở thành phố Mác Xây, nơi lần đầu tiên Nguyễn Văn Vĩnh được đến xem vở kịch nói Le Cid, tháng 6/1906. (Ảnh Nguyễn Lân Bình chụp)

Đã có vị giáo sư, khi trả lời phỏng vấn về NVV, nội dung trả lời đã vượt rất xa dự kiến của người hỏi (bây giờ, nhờ kỹ thuật số, việc ghi hình rẻ hơn rất nhiều so với 10 năm trước. Hồi đó, chúng tôi dùng băng từ ghi hình). Không phải chỉ vượt về thời gian dự kiến phỏng vấn, mà còn vượt cả những nội dung của kẻ khởi xướng mong đợi. Tất nhiên, như kẻ chủ trương đã từng thú nhận về sự “rỗng tuếch” về nhiều mặt trong cuộc sống, nhưng qua các nhân vật được tiếp xúc, kẻ khởi xướng học được nhiều điều mà không trường lớp nào dạy, và có nhiều tiền cũng không thể mua được.

Sau hôm phỏng vấn vị giáo sư nọ tại nhà riêng, ông đã gọi điện thoại cho kẻ khởi xướng và hỏi rằng:

– “Tôi nói hôm qua cậu thấy thế nào? Có dài quá không?

Tôi trả lời:

– Dạ không, hay lắm ạ. Xin được cảm ơn giáo sư vô cùng!

Vị giáo sư phản đối:

– Không, đừng nói thế. Tôi mới là người phải cảm ơn cậu. Cậu đã cho tôi một cơ hội để tôi sám hối, vì hồi xưa, trên bục giảng cho sinh viên, tôi đã toàn nói linh tinh về NVV. Nói thật, ngày ấy có hiểu gì đâu, tôi có được đọc đâu. Bây giờ đọc kỹ, mới thấy mình vô lối. Tôi cảm ơn cậu lắm vì cậu đã tìm đến tôi. Cuối đời, có được cơ hội thế này với vong linh cụ Vĩnh, tôi yên lòng. Khi nào làm xong phim, nhớ gọi nhau đến xem nhé!

Việc bộ phim hoàn thành đã tạo ra nhiều diễn biến tâm lý tích cực với những bộ óc có tư duy cầu thị, trân trọng cuộc sống trí tuệ và luôn bất bình với những sự mờ ám trong xã hội, nhất là đối với một bộ phận trong giới trí thức vốn lâu nay không có cơ hội để hiểu NVV một cách toàn diện. Vậy nhưng cái thành công của bộ phim cũng đã sinh ra những đáng tiếc đối với đôi ba người liên quan, nhất là những người từng trực tiếp tham gia trao đổi về hướng xây dựng bộ phim.

* Ban đầu, lúc thai nghén việc làm phim, người khởi xướng đã vô tình rơi vào một bối cảnh rắm rối khi lựa chọn đối tác để kết hợp thực hiện ý định làm phim. Giai đoạn này, đã sảy ra những ồn ào về việc lựa chọn đạo diễn. Do nhận thấy nhiều biểu hiện bất thường, người chủ trương bằng bản năng, đã quyết định tắp lự, sẽ tự thực hiện, không “hợp tác” với những đối tượng được xắp đặt có điều kiện, không xin trợ giúp điều gì, và cũng không dự định gì lớn lao. Mục đích chỉ là, nếu mình không làm, sẽ chẳng có ai làm, vậy thôi!

Người khởi xướng đã không bao giờ hình dung được hậu quả của một quyết định ngắn mà không gọn. Việc trao đổi miệng ban đầu của một kẻ vô tư (kẻ ngoại đạo) trong chuyên môn, với những người “lão luyện” trong nghề nghiệp, đã sinh ra những lời dị nghị, trở thành sự ồn ào giữa những đối tượng liên quan. Sinh ra nỗi bất bình của đôi ba người do đã hiểu lầm phương thức, nguyên tắc làm phim. Thực chất, nếu ngày đó, họ (những người muốn hợp tác) thật sự kính trọng NVV, họ tham gia với sự thành tâm trước vong hồn của một con người là đề tài chính của bộ phim, chứ không phải vì cái danh “nhà đạo diễn, nhà biên kịch”…., họ đã không cư xử như đã làm.

Tuy nhiên, điều đó không khó hiểu, thậm chí, nó phản ánh chính xác cái bản chất, lối sống, cách tư duy của một xã hội luôn toan tính chạy theo danh và lợi. Hiểu như thế, nên kẻ khởi xướng không thấy bị tác động bởi biến cố này.

* Sự chia tay với người quay phim thứ nhất sau khi hoàn thành trường đoạn đầu tiên thực hiện ở Sài Gòn là một điều đáng tiếc. Trường đoạn thực hiện ở SG có ý nghĩa tinh thần rất quan trọng, vì nó là bước đi khởi sự của bộ phim. Lý do người quay phim chia tay rất đơn giản: vì người đó đang có một “đơn hàng” khác, với nhiều hứa hẹn hợp với tính toán của anh ta hơn. Mặt khác, người khởi xướng có một tâm thế kỳ quặc ngày đó, là cứ phải làm, nếu phải dừng ở đâu, chỗ nào, vì bất kể lý do gì trong quá trình làm phim, sẽ không sao. Những gì quay được, ghi lại được về NVV cũng tốt. Cứ cất đi, ai bảo sẽ không có giá trị gì?

Lối suy nghĩ này của kẻ khởi xướng đã làm mếch lòng người đạo diễn, vì trong khi người đạo diễn dành toàn tâm, toàn ý vào đề tài, làm sao cứ thích đến đâu thì đến, thích dừng ở đâu thì dừng như thái độ vuột ra bằng lời của kẻ chủ xướng. Sự thật này nhìn lại hôm nay, thấy khôi hài, nhưng ngày đó là như vậy!

* Hoặc như sự “vô tâm” của người đọc thuyết minh cho bộ phim. Thường những người xem phim rất quan tâm đến chất giọng của người đọc, nhất là khi giọng người thuyết minh gây được thiện cảm với người xem. Nhiều người hài lòng và hỏi thăm một cách hồn nhiên, rằng giọng ai mà hay thế? Chắc phải là một người rất hiểu và “mê” NVV, đặc biệt lại là một bộ phim lịch sử.

Chắc sẽ không ai tin, người đọc thuyết minh cho bộ phim, được mời qua sự giới thiệu của một người biết anh ta. Anh ta đồng ý nhận bản thuyết minh để đọc trước. Đúng giờ hẹn, anh đến studio và … đọc một mạch… và, nhận thù lao (thù lao không thỏa thuận)… xong và ra về. Anh tuyệt nhiên không nửa lời hỏi han về tinh thần, nội dung của bộ phim, hình như anh cũng không quan tâm đến nhân vật NVV là thế nào….?!

Khi bộ phim hoàn thành, chúng tôi có nhã ý mời anh đến xem phim hôm trình chiếu, anh chỉ cười trên điện thoại…. và không hề gặp lại anh cho đến lúc này.

(Xin đọc bài: Bộ phim tài liệu lịch sử ” Mạn đàm về Người Man di hiện đại”

Bốn năm trước khi quyết định làm phim, tôi đã có ý thức, làm gì về đề tài NVV mà mong có lợi, sinh lời sẽ là điều bất cập cho bất kỳ ai. Tuy nhiên, tôi, người tổ chức các mối liên hệ trong quá trình làm phim, đã cố gắng xử sự thật phóng khoáng và minh bạch, nhất là những việc liên quan đến tiền bạc với các cộng sự của mình. Mục đích, để mọi thành viên khi tham gia với mình sẽ luôn thấy thoải mái, không bị ám ảnh vì chuyện thanh toán đắt, rẻ. Như thế, các thành viên trong nhóm làm việc sẽ có hiệu quả cao, dễ có được tính đột phá, tạo nên dấu ấn cho tác phẩm.

Trong quá khứ, ai đã từng tham gia trực tiếp trong chiến tranh, khi cùng nhau chiến đấu trong cùng một chiến hào, cùng lặn lội giữa muôn vàn nỗi khó khăn trong lửa đạn, lúc ấy, đồng đội nào cũng dễ thương, bạn chiến đấu nào cũng thấy đáng quý. Đói rét, bệnh tận không cản lối được người lính.

Nhưng khi chiến trận kết thúc, khói lửa của đạn bom tan đi, bầu trời xanh và vừng mây sáng, có đủ cơm ăn nước uống, và trận chiến được vinh danh, cần có các gương mặt tiêu biểu để ghi danh với lịch sử…. Và đó cũng chính là lúc… mất đồng đội, mất bạn! Thậm chí có những trường hợp, kéo theo cả sự uất ức, thù ghét lẫn nhau cho đến khi sang thế giới khác. Những sự tệ hại đó, đều có gốc rễ là tính ích kỷ, ham danh và tự phụ. Hình ảnh của một người nông dân cuốc đất, mãi là biểu tượng cho những người có lối sống như vậy.

Việc dư luận xã hội sau khi bộ phim tài liệu lịch sử về NVV hoàn thành, đã từng âm ỷ có sự ngờ vực rất độc hại, mà một nhà văn có danh, đã nhận xét chua chát khi viết thế này:

“…. Bộ phim thật xúc động với rất nhiều công sức, sáng tỏ nhiều điều đối với lịch sử, xứng đáng để toàn xã hội cùng biết. Chỉ đáng tiếc, nghe đâu bộ phim có sự tranh chấp về bản quyền giữa gia tộc NVV và những người làm phim, nên khả năng quảng bá, phổ biến bộ phim bị hạn chế”.

Vâng! Ở đời, chẳng có lửa làm sao thấy khói, song nếu quý vị thực lòng xót xa vì sự ngờ vực gây tổn hại đến danh dự của NVV và gia tộc của cụ, mà cất công tìm hiểu, nhân danh là những người kính trọng danh dự của bậc tiền nhân, trân trọng NVV, lôi cổ những người liên quan ra trước mặt Trời, hãy trình bày công khai, từ đâu ra những suy diễn tiêu cực như vậy? Hay đó chỉ là sự bất đồng giữa các cá nhân, hoặc là sự hiểu lầm từ những suy diễn… Kể cả đó là sự thật của một mưu tính riêng, cũng phải được bạch hóa. Tất cả phải vì công lý, vì sự thật, vì danh dự của NVV chứ!

Khi bộ phim được yêu cầu làm thủ tục chứng nhận bản quyền tác giả tại Cục Bản quyền – Bộ Văn hóa VN (tháng Hai 2008), tất cả những tờ khai theo quy định trước cơ quan có thẩm quyền, đều có đầy đủ chữ ký tươi, bản sao chứng minh thư (xác nhận hộ khẩu) của những người là đồng tác giả, cam kết chịu trách nhiệm trước pháp luật và khẳng định không tranh chấp bản quyền!

Việc hình thành nhận thức Bản quyền tác giả của bộ phim, hoàn toàn xuất phát từ các quy định và yêu cầu của nhà chức trách, dựa trên những tiêu chí được luật pháp quy định. Bản thân kẻ khởi xướng tuyệt nhiên không có khái niệm gì về lĩnh vực này. Hắn, kẻ khởi xướng cũng không phiền muộn gì nếu cơ quan có thẩm quyền khi xét cấp chứng nhận bản quyền nói rằng: anh chẳng cần phải xác nhận thủ tục này làm gì! Sản phẩm của các anh chỉ là một cách làm riêng của gia đình…

Nếu đưa ra kết án, rằng kẻ đưa tin với thiên hạ về việc bản quyền bộ phim có tranh chấp, có thể hiểu đó là sự đồng lõa với ý đồ của những kẻ bảo hoàng muốn tiếp tục ngăn cản việc phục dựng chân dung thực của học giả NVV, ngăn cản sự quảng bá hình ảnh về một danh nhân xuất sắc, cũng không phải là điều gì quá lời!

 

Hoàng hôn trên sông Hương (ảnh do Sỹ Bằng chụp trong ngày đi quay phim ở đền thờ Phan Bội Châu tháng 6/2006).

Tuy nhiên, không thể phủ nhận một thực tế ngoạn mục của những người mà ơn Trời, người đời vẫn nói là có duyên trong một công việc cụ thể, đã tham gia tận tình suốt một năm không nghỉ. Không ai tin (nhất là trước khi thực hiện bộ phim) rằng, bộ phim được hoàn thành có đến 80% nội dung các diễn biến là ngẫu nhiên.

Từ việc xuất hiện những gương mặt cộng tác, đến việc vay tiền bạn bè, mượn ngân hàng, rồi những tình huống không tưởng, như việc xuất hiện buổi triển lãm Hội họa Nhật Bản tại HN, cơ hội để được quay và phỏng vấn trực tiếp tác giả bức tranh sơn dầu đầu tiên vẽ về con người và sự nghiệp NVV. Hay như trường đoạn quay ở khu di tích Phan Bội Châu ở Huế, làm gì có trong dự kiến, đừng nói đến kế hoạch. Cũng xin nhắc đến trường đoạn quay ở Trung tâm Lưu trữ Hải ngoại Quốc gia Pháp (CAOM), một nơi dứt khoát không cho quay phim, nhưng khi nói về NVV, bà Giám đốc Trung tâm, từ chỗ chỉ đồng ý tiếp xúc không quá 30 phút, nhưng khi bàn luận về NVV, bà đã kéo dài buổi gặp gỡ hết trọn buổi sáng và cho phép “dí” cả ống kính camera vào các hộp đựng thẻ (mã) lưu trữ…

Không thể kể hết, mãi cũng không hết những diễn biến đầy may mắn, cảm động và mang đậm mầu sắc của sự linh thiêng. Những điều này, mãi là những kỷ niệm đẹp mà bản thân đạo diễn và quay phim, dù có theo đuổi nghề điện ảnh thêm một kiếp nữa, cũng khó mà gặp lại cái kiểu làm phim như bộ phim “Mạn đàm …”, và càng không thể quên những gì liên quan đến NVV.

Nhân danh là kẻ chủ xướng, xin mãi mãi biết ơn!

Biết ơn Tạo hóa, biết ơn Trời, Phật và các Thánh thần, biết ơn số phận, biết ơn các cộng sự, người thân, bạn bè ở khắp mọi nơi, từ Sài Gòn đến Savanakhet, từ Đà Nẵng đến Montpellier, từ Huế đến Aix Provence…. đã góp sức tạo nên bộ phim “Mạn đàm về Người Man di hiện đại”.

Hết phần hai.

Phần ba: BỘ PHIM VỚI XÃ HỘI.

 

 

 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *