Kỷ niệm 110 năm cuộc “Cách mạng Văn hóa” ĐÔNG KINH NGHĨA THỤC (1907 – 2017) – Bài 6 ( Bài cuối)

PHÁN, KÝ

(Đăng Cổ Tùng Báo, số thứ Năm ngày 27 tháng Sáu năm 1907)

Các ông chớ có tưởng rằng: tôi sắp chê báng gì anh em đâu. Tôi cũng một làng, đâu lại dám thế. Những ông dèm chê mình là hẹp suy lắm. Có khác gì mấy ông Đại-pháp, thấy mấy người nói dối thì làm ngay sách nói rằng: bao nhiêu người An-nam cũng nói dối cả.

Vả lại bài này không phải là bài chê khen gì. Tôi chỉ có ý tìm cách mà bàn với anh em đồng-sự, xem có phương kế nào, mà để về sau cháu chắt chúng ta ai có nói đến rằng: “Cụ kị mày xưa làm thông ngôn”, chúng nó không phải đến nỗi xấu hổ mà thôi.

Có cách làm được đấy, các ông ạ !

Nước Nam ta bây giờ, chẳng phải nói dấu gì nhau, dốt tệ lắm, mà cũng vì cái dốt, cho nên người ta khinh bỉ, cũng vì cái dốt cho nên phải làm như trâu như bò, được đồng nào sắm đồ-tầu hết. Cũng vì cái dốt, cho nên trong nước cái nghĩa đoàn-thể không có; cũng vì cái dốt, cho nên nghệ hay không muốn làm, cứ ai chuyên về nghề ăn không; cũng vì cái dốt, cho nên người đói meo ra không lo, lo quan âm đói, tà ma đói; nói dút lại thì bao nhiêu cái khổ nhục nhằn nước Nam ta cũng vì một cái dốt mà ra cả.

ảnh thi hương 1897

Điều ấy bây giờ từ ông làm quan, người lái buôn, học trò, thợ thuyền, cho chí chúng mình ai ai cũng biết cả rồi, cho nên từ ngày Nhà-nước cải tân học đến giờ, ai ai cũng nao nức vào việc ấy làm.

Nhưng mà cái nao nức ấy, có ăn thua gì không?

Vị tất.

Là vì thế này: Mấy ông quan thì nao nức cũng có, nhưng xưa nay chỉ có một việc…. trị dân, còn việc dạy dân thì chưa quen. Cho nên bất quá chỉ đùng-đùng ông nọ mở tràng, ông kia mở tràng, nhưng học gì, học thế nào, nghe chừng đâu những khi rảnh việc quan, cũng đã nghĩ chán rồi, nhưng vẫn chưa ra. Hóa cho nên mở tràng cứ mở, nhưng gián hoặc cũng nhiều ông mở tràng, cho khai dân trí thì ít, cho mắt quan trên trông vào thì nhiều. Sau nữa lại còn cái nhẽ dân không, khó làm-quan!

Đến như nhà-nho. Cánh ấy thì nhiệt-thành thực. Nhưng mà xưa nay chỉ quanh-quẩn có bấy nhiêu quyển sách, bây giờ thấy nên cải, thì cải đấy thôi, chớ đã rõ nó ra thế nào. Hiệu khách (Hoa kiều b/t) cũng có bán ít sách Tầu, sách Nhật, nhưng nghe nó cũng không được gẫy-gọn ra cho lắm. Cái nghiệp sách dịch có đâu bằng nguyên-bản. Ông Nhật, ông Tầu còn phải đi sao của người ta, bây giờ mình lại đi sao cái bản-sao giờ đang của họ, thì dẫu nhiệt thành đến đâu, nó cũng lúng-túng lắm. Vả lại bụng thì có, nhưng tiền ít, ai lo cho mà ăn, ai nuôi vợ con cho mà đi lo việc dạy người. Nhiệt thành lắm đến bán cửa-nhà ruộng-nương đi, tôi cũng đã lấy làm phục lắm rồi, nhưng mà bán mãi cũng phải hết chớ?

1 ảnh thi hương 1897

Có mấy ông cự-thương cũng hết sức dúp vào, nhưng nghề bây giờ đã buôn bán to thì bận cả ngày, có dúp vào thì cũng dúp ít bạc mà thôi.

Còn đến anh em ta.

Tôi xét ra không còn ai dúp được đồng-bào dễ hơn mình nữa, mà không nhân lấy cái dịp này, để làm cho cháu chắt về sau được ngửng mặt lên, cũng hèn.

Lương tiếng không mấy, cũng còn đủ ăn, có được ít của riêng thêm ra, thì lại càng vững chân nữa.

Việc làm thì giờ đã có, như làm Nhà-nước, thì một ngày có năm giờ rưỡi. Buổi chưa, buổi tối được nhàn-nhã thảnh-thơi lắm.

Chữ Đại-pháp biết, việc Đại-pháp nhờ được làm việc cũng thông hiểu nhiều hơn người ta. Nhật-báo, sách vở của người, mình có thể xem được.

Như thế mà giá anh em mình ai ai cũng đem tâm vào một việc học-hành cho rồi, để mà dúp anh em trong nước cũng được noi cách mới học-hành rối lên để bằng người ta thì dễ biết là bao nhiêu!

Cái giờ ngủ ban chưa nên bỏ bớt đi; cái buổi đi dạo lúc chiều bớt đi; canh tài-bản trầu hát bớt đi. Giá thử anh em ta để cái giờ ấy mà đọc lấy sách Đại-pháp cho nhiều, người hơn đưa người kém, người kém chịu khó một ít, cho thực rỗi, xem cho suốt cả, cái gì hay thì dịch ra tiếng An-nam, cho người nước nhà xem với. Ông nào thực rồi, bỏ quách cái kiêu ngạo xằng đi, mà dùm dúp đồng-bào, mở tràng dạy bảo anh em. Còn cái khoản giăng-hoa thì thiếu niên tất cũng phải có, nhưng ta phiên- phiến đi, mà nên lấy chữ tình điểm mùa xuân, chớ đừng ham chi cái cách nay cô này mai cô khác.

Nói đến điều này tôi lại chỉ ước gì tôi hóa ra vài ngàn cô con gái xinh đẹp. Giá các cô cứ nhìn óc người, trước khi nhìn cái nếp áo, cái sắc giầy, thì nước Nam được nhờ các ông Phán chúng tôi biết là bao nhiêu ?

Đấy, bấy nhiêu nhẽ tôi đã bày ra đó. Anh em ta nên tính phen này. Làm thế nào cho sự học nước Nam được hay, thì chắc đời sau có còn ông Phan-huy-Thịnh khác làm thơ, cũng không ai nghe nữa.

Nếu các quan vân cứ nao nức cho; các ngài cứ cho dân nhờ cái quyền do các ngài; các ông nhà nho cứ giữ cái nhiệt-thành cho; các ông cự thương cứ dúp ít nhiều tiền cho; mà mấy anh em mình quyền không có, tiền không có, cứ đem cái tài nhỏ mọn vào, cũng như viên gạch vào bức tường, thì gì mà chẳng xong?

Tha-hồ làm thơ các ông ạ, chúng ta đừng họa nữa. Cứ cố lên thôi!

TÂN – NAM – TỬ

 

Lời bàn cho bài PHÁN KÝ.

Suốt một quá trình dài tìm kiếm và thu thập các bài viết của Nguyễn Văn Vĩnh (NVV) trong 30 năm lao động không ngừng nghỉ, kể từ khi ông nhen nhóm ý nguyện làm cho chữ viết tiếng Việt, thứ chữ được La tinh hóa thực sự là của người Việt, lấy đó dùng làm vũ khí tinh thần, là bản sắc riêng của người An Nam… thì cho đến lúc này, bài PHÁN KÝ là bài đã đem đến cho tôi sự rung động dữ dội nhất.

Nguyên Ngọc, Dương Tường

Hai nhà văn danh tiếng ở Việt Nam trong thế kỷ XX chụp tại buổi lễ tưởng niệm 80 năm ngày giỗ học giả Nguyễn Văn Vĩnh và nhận chứng nhận Danh nhân Văn hóa VN, tổ chức ngày 27/4/2016 tại Hà Nội.

Tôi có quá nhiều nỗi ngạc nhiên, thán phục khi đọc bài viết này của tiền nhân, cùng với những phát hiện quan trọng liên quan đến tâm tư, tình cảm của NVV với người thân, với người đời. Tôi chỉ đơn giản xin trình bày những nhận thức, mà theo quan điểm của tôi, đó là những dấu ấn lịch sử, là cốt cách tinh thần, chứng minh với bất kỳ ai, với bất kỳ chế độ chính trị xã hội nào của quá khứ, hiện tại và cả tương lai, cái nguồn gốc lý tưởng cực kỳ trong sáng vì danh nghĩa thằng người, của những đồng bào của ông, mà NVV đã theo đuổi từ khi còn là một thiếu niên, cho đến lúc xuôi tay, nhắm mắt.

Thứ nhất:

Sinh thời, Nguyễn Văn Vĩnh đã hoàn toàn tự tin vào con đường, sự nghiệp mình đã chọn: làm thông ngôn (phiên dịch), thời buổi mà hoàn cảnh xã hội Việt Nam cực kỳ tăm tối, đặc biệt nói về cuộc sống văn hóa, tinh thần. Việc NVV có được vốn ngoại ngữ vững chắc, theo ông, đó là chiếc chìa khóa dùng để mở cánh cửa của tri thức, nuôi dưỡng trí tuệ, làm cơ sở giúp người dân có lý trí để bước vào con đường thay đổi tư duy, cải cách đất nước, thâu thái những tiến bộ kỹ thuật, phát triển khoa học, cải tạo giống nòi và sống có tâm hồn. NVV tin rằng, khi con người sống có tri thức, có tâm hồn, sẽ là người sống có sức sáng tạo, có lương tri, đạo đức, căn cốt để xây dựng một đất nước phát triển.

Thứ hai:

NVV đã tiên đóan trước hậu sự đối với tâm lý của các thế hệ là hậu duệ của mình, rằng việc ông theo đuổi nghề “thông ngôn” một cách tâm huyết, một cách trung thực, vì giá trị thiêng liêng của một nền văn hóa mới dành cho đồng bào của mình, mai hậu, nhất định con cháu sẽ không phải hối tiếc, không phải tủi hổ khi nói đến cái nghiệp của tiền nhân, cái dâng hiến của cha ông. Vì lẽ đó ông viết:

“Cụ kị mày xưa làm thông ngôn”, chúng nó không phải đến nỗi xấu hổ mà thôi”.

Vậy mà, đây lại là điều cay đắng nhất trong cuộc sống của hậu thế, của những thế hệ là hậu duệ của NVV khi một thời gian dài, “lịch sử” đã chà đạp và xuyên tạc trắng trợn trước xã hội rằng, NVV là một kẻ bồi bút! (sách giáo khoa văn, sử ở miền Bắc VN do Nhà Xuất bản Giáo dục in những năm 60 ở thế kỷ trước).

Sự thóa mạ này, đã làm tan nát niềm tin, lòng tự hào chính đáng, đáng ra phải có được đối với một bộ phận là hậu duệ của NVV, thay vào đó, nó đã đẩy toàn bộ cả một gia tộc lớn rơi vào cảnh lo âu, sợ sệt khi nói về nguồn gốc, gia đình. Thậm chí có những cá nhân đã tìm cách chối bỏ cả sự xuất thân, sự liên đới vì là con cháu, là họ hàng…. dẫn đến bi kịch của sự ly tán về lòng người, đắm chìm trong tâm lý ngờ vực lẫn nhau, né tránh nhau… quay lưng lại với nhau vì không muốn “bị” liên lụy.

Vật chất mất đi sẽ lấy lại được khi con người cần mẫn lao động và sáng tạo, nhưng ý thức về cội nguồn mất đi sẽ sinh ra một xã hội bệnh hoạn. Khi người ta không có lòng tự trọng, làm sao để có được niềm kiêu hãnh chân chính, có lòng tin sâu sắc, để có được sức mạnh tinh thần, cơ sở cho việc xây dựng một xã hội lành mạnh. Không có một xã hội lành mạnh, thì mọi sự phồn vinh vật chất nhỡn tiền chỉ là giả tạo. Xã hội sống giả tạo, đừng mong có phúc, có đức, những điều mà làm kiếp người, kẻ nào cũng ao ước, ngưỡng vọng.

Chua chát hơn nữa, một bộ phận hậu duệ của NVV cũng đã tìm cách “hòa nhập” vào cái dòng chảy đầy màu xám của một xã hội háo danh, coi đồng tiền là trên hết, coi danh vọng là trên hết…. Họ thờ ơ trước những bất công và sự trí trá, ngoảnh mặt với dòng máu khảng khái, trung thực của cha ông, hòng đạt được những điểm mốc của sự hãnh tiến. Vào những bối cảnh nhất định, những người đó còn đắc chí cho rằng, mình khôn ngoan, vì đã lách được ra khỏi cái nguồn gốc “tai tiếng”…

Thật tệ hại! Thực tế này đã đưa họ đến chỗ mang tội với tiền nhân, thậm chí gọi đúng tên, phải nói là sự khốn nạn (cả hai nghĩa khốn khổ khốn nạnkhốn nạn mất dạy)!

Đại gia đìnhCác cháu chắt chút trong gia tộc học giả Nguyễn Văn Vĩnh cùng các con của những nhân vật cùng thời với học giả NVV, tại buổi lễ tưởng niệm 80 năm ngày giỗ học giả NVV tổ chức tại Hà Nội 2016.

Thứ ba:

NVV luôn khẳng định, sự nghèo khổ, sự lạc hậu và sự bế tắc của người dân An Nam trong cuộc sống, thực sự đều có nguồn gốc từ sự dốt! Trong tiếng Việt, từ ngu thường đi liền với từ dốt, tuy nhiên, đọc những gì NVV viết ra, rõ ràng NVV không có ý định gán cho đồng bào của ông ngu. NVV tin rằng vì người ta dốt nên phải giúp, còn nếu là ngu, chỉ có Trời mới dạy nổi.

NVV sốt ruột, phiền muộn trước cái thực cảnh cuộc sống xã hội ảm đạm đến mức cùng cực, mà theo ông, nguyên nhân là vì người dân không có kiến thức, không được học hành, và cái đó đều được gọi chung là sự dốt. Chính vì nhận thức này, nên NVV đã thống kê những sự thật xấu xí của cái xã hội “dốt” mà ông tồn tại:

“… dốt tệ lắm, mà cũng vì cái dốt, cho nên người ta khinh bỉ, cũng vì cái dốt cho nên phải làm như trâu như bò, được đồng nào sắm đồ-tầu hết. Cũng vì cái dốt, cho nên trong nước cái nghĩa đoàn-thể không có; cũng vì cái dốt, cho nên nghệ hay không muốn làm, cứ ai chuyên về nghề ăn không; cũng vì cái dốt, cho nên người đói meo ra không lo, lo quan âm đói, tà ma đói; nói dút lại thì bao nhiêu cái khổ nhục nhằn nước Nam ta cũng vì một cái dốt mà ra cả”.

Thứ tư:

Hơn một trăm năm sau, tính từ thời các bài báo của NVV ra đời, những yếu kém của người dân nước ta, những vấn nạn xã hội, thường được các gương mặt cầm quyền đổ vấy cho người dân, rằng vì nền dân trí thấp, vì hiểu biết của dân chúng kém… Mãi đến hơn chục năm vừa qua, đột ngột như một phát kiến, có vị ĐBQH mới lên tiếng rằng: Quan chí cũng cần phải được chăm lo, chứ không phải chỉ đòi dân trí cao! Trong khi NVV, từ ngày nảo ngày nào, đã từng mỉa mai tế nhị, rằng

“…Mấy ông quan thì nao nức cũng có, nhưng xưa nay chỉ có một việc…. trị dân, còn việc dạy dân thì chưa quen…”.

Vậy thì vì sao, một thằng người nghĩ được như thế, lo lắng như thế cho cộng đồng từ cái thủa hồng hoang của cả một dân tộc, lại bị gán cho cái tội “theo giặc”?! Liệu có phải cái cay cú của lớp quan lại từ hơn một thế kỷ trước, do bị NVV “phê bình” đã di truyền lại cho một bộ phận những thế hệ quan chức của các hệ thống chính trị đi sau của lịch sử ?! Có đúng, với cường quyền, kẻ nào không cùng ta, khác ta là muốn chống đối ta? Để loại bỏ nó, để kêu gọi được đông người cùng xóa sổ nó, cứ gọi nó là giặc!

Thứ năm:

Với các Nho sỹ có tấm lòng với quốc dân đồng bào thì đã rõ, nhưng còn các Nho sỹ được hình thành từ nền giáo dục Phong kiến, những người đã phải cạy cục để được bổ nhiệm vào các vị trí của hệ thống cai trị, chỉ sống với tâm lý, tao phải là bố thiên hạ, thì làm gì mà chẳng: “…bất quá chỉ đùng-đùng ông nọ mở tràng, ông kia mở tràng, nhưng học gì, học thế nào….”.

Hậu quả của thực tế đó, là sau hơn 100 năm, xã hội hiện vẫn luẩn quẩn trong cái gọi là cải cách giáo dục, để từ đó lập ra không biết bao nhiêu ban bệ, cử không biết bao nhiêu những “danh sỹ”, tiêu không biết bao nhiêu tiền ngân sách, mà vẫn mãi không đạt được những điều xã hội mong đợi, nhân dân trông chờ. Thật hổ thẹn, vì từ ngày xưa ấy, NVV đã kết án thẳng thắng: “ … cho khai dân trí thì ít, cho mắt quan trên trông vào thì nhiều”.

Từ những cái thấp kém đó, NVV đã quyết tâm chống lại một xã hội chỉ biết chạy theo danh, lợi. Phàm một xã hội chỉ ham mê danh và lợi, ắt sẽ sinh ra việc mua quan, bán tước, đặc biệt với bộ máy của một hệ thống chính trị Quân chủ – Thực dân, thì làm sao không rơi vào cái quan niệm: “…Sau nữa lại còn cái nhẽ dân không, khó làm-quan!”, vậy phải là dân gì, nếu để đừng là “dân không”?

Chính xã hội nơi con người tồn tại, đã tạo ra cái tâm lý: không nhất thiết để làm một người tốt, nhưng nhất thiết phải là người có “bảng nhãn”! NVV rất khinh thường cái lối sống đó.

Hôm nay, nhìn lại, mới càng thấy NVV thật là cực kỳ “liều lĩnh”!

Thứ sáu:

Đã có không ít kẻ, bất chấp việc phải tìm đọc lại quá khứ, cho dù công việc của họ là “phải ra được các kết luận lịch sử”, hoặc cũng có những kẻ vì sự tự ái cá nhân, mặc cảm với điều gì đó, người nào đó, nên từ thiên kiến đã chạy nhanh đến định kiến không áy náy, không quan tâm đến những sự thật khách quan, biến mình thành kẻ áp đặt. Diễn biến tâm lý này trong xã hội, cứ kéo dài từ bối cảnh chính trị này, đến bối cảnh chính trị khác, để lại cho hậu thế những nhận thức méo mó, sai lệch về quá khứ, về nhiều nhân sỹ (không thể là i ngắn) đáng kính của ngày xưa.

Lập luận như vậy trong trường hợp về NVV, để ai đó hiểu, vì sao từng có kẻ đã áp đặt suy nghĩ cá nhân mình, rằng NVV “theo Tây”, đồng lõa với chính sách xâm lược của Thực dân, “đồng lõa” với tư tưởng “giúp” Pháp biến dân ta thành nô lệ, và muốn đưa nước ta thành thành viên của khối Liên hiệp Pháp!!!

Gay gắt để nói như trên vì những kẻ đó đã không biết, không đọc, và không cả khả năng tưởng tượng được rằng, hơn cả trăm năm trước, NVV đã bộc bạch một cách mộc mạc thế nào với đồng bào mình, với đồng nghiệp của mình:

“…Tôi xét ra không còn ai dúp được đồng-bào dễ hơn mình nữa, mà không nhân lấy cái dịp này, để làm cho cháu chắt về sau được ngửng mặt lên, cũng hèn.”.

NVV nghĩ suy giản dị, rõ ràng, tự nguyện như thế, lao động miệt mài hiệu quả như thế, liệu có phải vì lý tưởng của những kẻ ngoại bang không?

Có lẽ không cần phải khẳng định, bài viết PHÁN KÝ của NVV là một lời hiệu triệu của một cuộc cách mạng, đồng thời cũng chính là bản tuyên bố về tinh thần của cuộc Cách mạng Văn hóa – Đông Kinh Nghĩa Thục, mà tự nội dung của nó đã diễn đạt đầy đủ cái tinh thần của một cuộc cách mạng cách đây đúng 110 năm.

Cầu mong cho tinh thần của Đông Kinh Nghĩa Thục linh thiêng vạn đại!

Mong cho Quảng trường ĐKNT ở Hà Nội có tấm biển như bao nhiêu các địa danh khác, chứng minh xã hội hiện tại là xã hội có văn hóa, là thực lòng với điều răn dạy đạo lý của cổ nhân là: Uống nước nhớ nguồn!

Trân trọng!

BBT Tannamtu.com

NGUYỄN LÂN BÌNH

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *