Hồi đáp ý kiến bạn đọc

Bình luận của Tiến sĩ Mai Huy Tân về bài 5  – Kỷ niệm 110 năm cuộc “Cách mạng Văn hóa” ĐÔNG KINH NGHĨA THỤC (1907 – 2017)

 

Đã đọc bài Kỷ niệm 110 năm cuộc “cách mạng văn hóa” Đông Kinh Nghĩa Thục (1907 -2017) và nhận xét bài viết có tính phê phán mạnh mẽ về hiện trạng văn hóa hiện nay ở VN với những dẫn chứng và lập luận mạnh mẽ và sắc sảo. Văn viết ở đây lại giống như văn nói vo nên có ảnh hưởng đến tính logic và tính hệ thống và tính chặt chẽ.

Giá như không có chữ “Cách mạng văn hóa” để cạnh cụm từ “Đông Kinh Nghĩa Thục” thì chuẩn xác hơn vì nói đến cách mạng văn hóa là người ta nhớ đến cuộc “tắm máu” nhân danh cách mang văn hóa ở Trung Quốc trong hơn 10 năm (1965-1976) khiến vài chục triệu người đổ máu. Nó chẳng có một cái gì để so sánh với phong trào nhân văn yêu nước Đông Kinh Nghĩa Thục ở VN cách đây 110 năm.

Tác giả bài này lại đính thêm một bài đã đăng trên “Đăng cổ tùng báo” của cụ Nguyễn Văn Vĩnh. Đọc bài này thực là hứng thú vì giọng văn trào lộng, phê phán thói xấu háo danh, mua danh bán chức ở VN cách đây đã hơn 100 năm. Ấy thế mà vẫn hiện rõ tính thời sự của bài báo này, cho thấy tầm nhìn sâu sắc xuyên thế kỷ của cụ Vĩnh. Thật là đáng ngưỡng mộ và khâm phục bậc danh nhân văn hóa này.

Không biết cháu nội cụ Vĩnh đánh máy nhầm hay thời đó cụ Vĩnh cố ý viết theo lối phát âm của người Hà Nội thời xưa, (nay vẫn vậy) nên cũng có vài chỗ có lỗi chính tả, vd:

  • Tránh lên (trong bài là “chánh lên”)
  • Giận tôi (trong bài là “dận tôi”)
  • Bỏ rượu (trong bài là “bỏ riệu”)
  • Kẻ chuyên (trong bài là “kẻ truyên”)
  • Hèn lắm ru (trong bài là “hèn lắm du”)

Nhưng thực sự lối viết như vậy khi cụ Vĩnh thời đó đăng bài trên báo Đăng cổ tùng văn thì ngày nay đọc vẫn thấy rất thú vị vì cụ viết đúng lối phát âm của dân Hà Nội thời đó và bây giờ, nên nó cũng cho thấy một văn phong bình dân dễ hiểu của Cụ Vĩnh.

Mai Huy Tân

 

Tiến sĩ Mai Huy Tân

Tiến sĩ Mai Huy Tân – Nguồn Báo Pháp Luật VN

 

Hà Nội, ngày 12/3/2017.

Phúc đáp ý kiến của ông Mai Huy Tân *  về bài số 5 (TÊN ĐỂ LÀM GÌ?).

 

Kính thưa ông Mai Huy Tân!

Hưởng ứng lời kêu gọi kỷ niệm 110 năm Phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục (ĐKNT) 1907 – 2017, trang tin Tannamtu.com (TNT.com) giới thiệu 5 bài viết của nhà báo Nguyễn Văn Vĩnh (NVV) đã đăng trên tờ báo tiếng Việt đầu tiên ở miền Bắc VN là Đăng Cổ Tùng Báo 1907. Tờ báo do NVV là Chủ bút, đồng thời là người đứng đơn thay mặt các sỹ phu xin Nhà Cầm quyền mở trường ĐKNT tại số 10 phố Hàng Đào HN.

Ngày 21/2/2107, trong lời mở đầu chuyên mục trước khi đăng bài số 1 (CỜ BẠC), chúng tôi đã trình bày rất thận trọng lý do vì sao có mệnh đề “Cách mạng Văn hóa – ĐKNT”. Theo quan điểm của chúng tôi, cách mạng đơn thuần chỉ là sự kêu gọi, vận động người dân thay cái hiện có bằng một cái mới có lợi hơn (cho dù cái lợi đó phải qua năm tháng mới được khẳng định) cho sự tồn tại và phát triển xã hội.

Việc trong tiềm thức của chúng ta có nhận thức xấu về cuộc CMVH ở Trung Quốc thập kỷ 60 – 70 thế kỷ trước, là do chính những người chủ trương cuộc cách mạng đó đã lạm dụng tinh thần khao khát sự thay đổi, lạm dụng hoàn cảnh nghèo khổ của người dân, lạm dụng tinh thần cách mạng của một xã hội phi dân chủ, đẩy phong trào đến chỗ cực đoan, để lại quá nhiều nỗi đau cho một dân tộc.

ĐKNT thực sự là một cuộc cách mạng, mà phải rất nhiều thời gian trôi đi, những người thừa kế thành quả của nó mới chịu gọi đó là cuộc Cách mạng. Trước ĐKNT, dân tộc VN chưa có bất kỳ phong trào quần chúng nào được động viên rầm rộ về mặt tinh thần như vậy. Trước ĐKNT, dân tộc VN chưa có thứ chữ văn tự chính thức là Quốc ngữ. Vậy, rõ ràng đây là mốc son lịch sử về văn hóa đối với một dân tộc, một quốc gia vẫn được mệnh danh là ngàn năm lịch sử….!

Trong lời mở đầu chuyên mục, chúng tôi đã lưu ý và trình bày với độc giả về nguyên tắc chép sao lại các bài báo cổ:

“Như những lần giới thiệu một số bài viết của nhà báo NVV trong quá khứ, Chúng tôi chép sao nguyên bản với một ý thức tuyệt đối cẩn trọng. Mục đích chính, là để cho người đọc tự nhận xét, tự so sánh về chữ viết tiếng Việt đầu thế kỷ XX so với 20 năm sau đó, nó thay đổi thế nào? Văn phạm, cú pháp, ngữ pháp của chữ Việt ra sao? Tư tưởng, lối tư duy của người viết cùng những sinh hoạt đời thường trong cuộc sống của người Việt ở phía Bắc VN đã thể hiện điều gì?”.

Điều băn khoăn lớn nhất của chúng tôi, là do hiểu biết lịch sử về vốn từ ngữ tiếng Việt đầu thế kỷ XX bị giới hạn, nên chúng tôi đã không lập được phần chú thích một số ngôn từ, cũng như khái niệm về một vài ngữ cảnh của tác giả thể hiện trong bài. Để làm tốt việc này, cần có sự trợ giúp không phải chỉ có người hiểu sâu về ngôn ngữ, mà cần cả sự hiểu biết về bối cảnh xã hội thời người viết tồn tại. Để hạn chế việc giải thích không thấu đáo, dẫn đến tranh cãi, chúng tôi đành để nguyên dạng chữ của bài gốc. Đây là vấn đề lớn, vì nếu giải thích cụ thể, người dẫn giải phải nắm được cả hệ thống phẩm hàm của hệ thống hành chính phong kiến đã đành, và cả cách xưng danh có tính tập quán ở nông thôn VN thời xưa.

Như chúng tôi đã cam kết rằng: “Chúng tôi chép sao nguyên bản với một ý thức tuyệt đối cẩn trọng…”.

Ngoài ra, để giúp những người có nguyện vọng nghiên cứu sâu về văn hóa ngôn ngữ tiếng Việt thời sơ khai, chúng tôi cũng đã mạnh dạn chia sẻ:

“Chúng tôi xin sẵn sàng gửi tặng các quý vị nào có nguyện vọng muốn có bản chụp nguyên gốc những bài báo này”.

Xin được thay mặt BBT. TNT.com, nhân danh cá nhân, xin trân trọng cảm ơn sự quan tâm và tấm lòng quý trọng đề tài học giả NVV của ông Mai Huy Tân và rất nhiều các quý vị độc giả khác đã chia sẻ, hưởng ứng, mong hiểu rõ hơn về thân thế và sự nghiệp của Tân Nam Tử trong quá trình hình thành nền văn hóa Việt nam nói chung và nền văn học chữ Quốc ngữ nói riêng!

Kính chúc ông Mai Huy Tân cùng các quý vị độc giả và các bạn luôn khỏe mạnh và may mắn!

Kính trọng!

BBT TNT.com

NGUYỄN LÂN BÌNH.

 

* Ông Mai Huy Tân, tiến sỹ Toán Kinh tế, tốt nghiệp tại CHLB Đức. Nguyên là người sáng lập và là Chủ tịch Tập đoàn Xúc xích Đức – Việt.

Comments

  1. Nghiêm Xuân Mừng

    Ông Mai Huy Tân rất ngưỡng mộ cụ Vĩnh, nhưng riêng về phần chữ viết có lẽ ông chưa hiểu. Chữ Quốc ngữ của ta hồi đầu thế kỷ XX còn ở dạng phôi thai, chưa có quy tắc, chính tả, ngữ pháp chuẩn như sau này, cho nên việc có những chữ cụ Vĩnh dùng như vậy vào thời đó là bình thường. Con cháu cụ sau này đánh máy và sao chép lại vẫn sao y nguyên bản là đúng, như vậy mới thấy được lịch sử của chữ Quốc ngữ. Và chính cụ Vĩnh sau này cũng là người tiên phong cải tiến, hoàn thiện chữ Quốc ngữ mà có lẽ phải đọc thêm nhiều bài báo cụ viết đề xuất cải cách, thống nhất cách viết chữ Quốc ngữ chúng ta mới hiểu rõ giá trị, công lao mà cụ Vĩnh làm. Gần đây GS.TS Hoàng Vinh cho tôi biết, Nguyễn Văn Vĩnh còn có công lao hiện đại hóa chữ Quốc ngữ, để nó đủ sức dịch thuật được văn học nước ngoài, sáng tác văn học mới, viết báo chí, sách, dùng để chuyển tải khoa học, giảng dạy được ở các trường học ( từ tiểu học đến đại học), cái mà ngày xưa chữ Hán, chữ Nôm của ông cha ta không làm được. Ngay như người Trung Quốc, đối với chữ Hán cổ, họ cũng phải “Bạch thoại hóa”, nghĩa là thay đổi ngữ pháp, phá bỏ lối diễn đạt cổ thì nó mới đủ sức giảng dạy được ở các trường đại học.
    Trân trọng!

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *