Kỷ niệm 110 năm cuộc “Cách mạng Văn hóa” ĐÔNG KINH NGHĨA THỤC (1907 – 2017) – Bài 5

Thưa các quý vị và các bạn!

Tôi xin thành thật thú nhận, về việc không muốn trang tin Tannamtu.com mang âm hưởng của sự thất vọng trước thực trạng của xã hội hiện nay, nhìn từ góc nhìn văn hóa. Đặc biệt nhìn từ bản chất của Tân Nam Tử – Nguyễn Văn Vĩnh (NVV), một con người suốt cuộc đời, chưa có ai phải chứng kiến sự bi quan, thất vọng của ông. NVV là con người sống lạc quan, tin vào sự chân thành, trung thực, kể cả ở vào những bối cảnh bi đát nhất.

Tôi cũng không muốn làm công việc thống kê những khủng hoảng của xã hội về mặt đạo lý và nhân cách con người, một lĩnh vực có thể làm méo đi cái giá trị văn hóa, và luôn làm rầu lòng những người có lương tri. Nhưng thật quá mỉa mai, vì mọi việc từ quá khứ đến hiện tại cứ diễn ra trước mắt, như ống kính hội tụ, càng ngày càng rõ và càng nét.

Ơn Trời, mắt tôi thị lực tốt, tai không thính bằng loài mèo, nhưng cũng thuộc loại cùng dạng, óc, tuy từng gặp khá nhiều tai nạn nghiêm trọng, nhưng chưa bị chấn thương sọ lần nào, nên khi đọc những dòng chữ của tiền nhân viết ra bằng giấy trắng mực đen về con người, về cuộc sống, về xã hội từ cái thủa xa xưa đến độ rất nhiều kẻ không muốn nhắc đến, lòng dạ vẫn cứ thổn thức, tâm can cứ ngổn ngang, và quả tim như muốn phát nổ.

Cay đắng nữa, là khi đem so sánh những điều NVV từng bộc bạch từ thủa đất nước còn tăm tối, với thực tế hiện tại, lại thấy cơ man nào là những điều chua chát. Đây, xin các quý vị đọc phần dẫn trước khi vào một bài viết của bản báo điện tử gần gũi nhất với người Việt, Vietnamnet, để thấm cái “cuống cuồng” của những người luôn bị cái liêm sỷ nó giày vò:

Không lấy gì làm lạ khi hội nhập diễn ra trước tiên là ở lĩnh vực kinh tế. Nhưng liền ngay sau đó, lĩnh vực văn hóa cũng bị cuốn vào. Ta dễ thấy ngay những phản ứng mang tính “tự vệ” của rất đông những người lo lắng cho số phận nền văn hóa dân tộc mình có thể bị thui chột. 

Những lời dẫn rất giản dị này, lại để đưa người đọc đến một đề tài tư tưởng thật nghiêm trọng và thật xấu hổ: “Hãy thôi say sưa tự ca ngợi mình”! (10/02/2016).

Vong hồn học giả NVV, chắc chắn sẽ rất đồng ý với cách suy nghĩ của một nhân sỹ danh tiếng thời nay, nhận thức như sau về Dân tộc:

Không ít người ngộ nhận, tưởng đang cùng thế giới chia sẻ những giá trị văn minh kỹ thuật hiện đại như nhau thì có nghĩa mọi dân tộc đã ngang hàng với nhau. Thực ra, cái tầm vóc NGƯỜI, đẳng cấp NGƯỜI tức cái hồn NGƯỜI bên trong vẫn có thể khác nhau nhiều lắm. Tầm vóc NGƯỜI là kết quả được tạo ra từ một quá trình lịch sử lâu dài và gắn chặt với một cộng đồng xác định gọi là Dân tộc”.

Tôi tin rằng, vì lo cho cái tầm vóc NGƯỜI đó, mà NVV đã dốc sức suốt cuộc đời, muốn làm cho cái giống nòi An Nam sẽ là một Dân tộc tiến bộ đích thực nhờ vào sự lao động tri thức và trí tuệ, chứ không phải nhờ cái danh là ông này, bà nọ…. Với quan điểm suy nghĩ như vậy, nên ông đã viết:

Đất không có người cầy, nghề không có người làm, xảo nghệ không tấn tới, mãn đại chỉ thích cắn rơm cắn cỏ, dốt như bò, cũng do ở sự muốn làm quan cả….”

NVV lo lắng, đúng! NVV nhìn trước từ hơn cả thế kỷ, sự tha hóa lối sống, không coi trí tuệ là căn cốt, dẫn đến một xã hội giả dối mọi mặt, trì trệ ở mọi nơi vì cả một guồng máy chạy theo danh lợi. Vâng mọi cố gắng của ông trong việc xây dựng tầm vóc NGƯỜI, là có chủ đích rõ ràng. Có lẽ ông đã biết trước, sẽ đến một ngày, Đài Truyền Hình VTC VN (VTC News) ngày thứ Năm, 29/10/2015, phải bật ra một tinh thần cảnh báo, đầy tính tiêu cực về chế độ xã hội đang tồn tại, bằng việc nêu một bài bình luận, không phải chỉ là lên án, mà phải gọi là kết án những bộ mặt nhân danh “lãnh đạo”, nhân danh vì nước, thông qua việc chứng kiến những phát biểu diễn ra tại cơ quan quan trọng hàng đầu của một quốc gia, là Quốc hội VN như sau:

“Có lãnh đạo ‘xa lánh trung thần, trọng dụng nịnh thần, gần gũi gian thần’.

Bài viết đã trích dẫn quan điểm khá rõ ràng của vị đại biểu QH Trương Trọng Nghĩa, về những nguyên nhân căn bản, đã đẩy xã hội rơi vào những bế tắc, những khủng hoảng trong quản lý đất nước:

“Rất nhiều việc, nhiều thiệt hại là do khuyết điểm, sai phạm, suy thoái đạo đức chủ quan của cán bộ, công chức, bộ máy của chúng ta, chẳng phải do âm mưu bên ngoài hay thế lực thù địch nào. Cây có lõi tốt thì không sợ mối mọt. Lịch sử nước ta đã chỉ rõ: vua có đường lối đúng, quan không tham, tướng không hèn, lòng dân yên thì đất nước hưng thịnh, và không sợ bất kỳ thế lực ngoại xâm nào”,

Liệu quan điểm của vị đại biểu QH nêu trên có phải là hệ quả mang tính “truyền thống” của lối sống của những quan lại VN mà NVV đã nhắm đến từ 110 năm về trước?! Xin được đối chứng giữa gốc và ngọn qua lời của NVV:

“Mà muốn làm quan là chỉ muốn ăn báo kho bạc, việc ít tiêu nhiều, tài nhỏ danh to, cũng có, nhưng muốn làm quan vì cái tên cũng nhiều.”

Xét theo quy luật, những diễn biến của một xã hội như vừa nêu ở trên, đã được phơi bày qua đầu đề một bài báo của báo Dân Trí, ra ngày 31/5/2016 như thế này:

“225.000 cử nhân, thạc sĩ thất nghiệp: Hệ quả của mở trường đại học ồ ạt”.

Thực chất, bài viết của báo Dân Trí cũng chỉ đi sau lời “quát tháo” của báo Pháp Luật ra ngày 2/11/2015 mà thôi:

“Học đại học để ra đánh giày, bán báo thì đào tạo làm gì!”.

Tôi xin được tạm dừng những tâm tư, suy nghĩ của mình về góc nhìn thực tế trước xã hội bằng một câu nói thật thấm thía của bà Helen Adams Keller (1880-1968), một nữ nhà văn Mỹ, người khiếm thính, khiếm thị đầu tiên nhận được bằng Cử nhân Nghệ thuật, người được vinh danh trong danh sách 100 nhân vật nổi tiếng nhất của thế kỷ XX:

“Điều duy nhất tệ hơn bị mù là có được thị giác mà không có được tầm nhìn.”

Xin được gặp lại các quý vị và các bạn trong bài kết thúc loạt bài báo của NVV nhân kỷ niệm 110 năm ĐKNT, có nhan đề: PHÁN KÝ.

Trân trọng!

NGUYỄN LÂN BÌNH.

 

TÊN ĐỂ LÀM GÌ ?

(Đăng Cổ Tùng Báo, số thứ Năm ngày 26 tháng Chín năm 1907)

Nước Nam ta có cái tục là: hễ đã động dính vào chức dịch gì, là mất tên. Người không phải là một người nữa, ra một phẩm, gọi là quan Thượng, quan Tham, quan Huyện, ông tổng, ông lý, thầy nho. Ai gọi đến tên tục thì chửi rủa không bằng.

Cái tục ấy, mới nghe thì thấy có lấy gì làm lạ, ấy thế mà tự xưa đến giờ hại nước Nam bao nhiêu cũng vì nó.

Tại sao trong cả nước, từ kẻ giầu cho chí người nghèo, người có chữ cho chí kẻ ù lỳ, ai ai cũng chỉ ao ước được mụn quan, không quan thực thì quan tiếng vậy, là cũng chỉ vì ai ai cũng sợ người ta gọi tên mình.

Anh đồ thì dáo-diết, đầu treo giường, đùi đâm đùi, cũng chỉ cố lấy một là quan Tham quan Thượng, hai nữa cũng ông cử ông tú, chớ không phải hiếu học mà học.

Các hương chức 1915

Các hương chức năm 1915

Bác thợ Cẫn, thợ Thêu, thợ Bạc, thợ Trạm kia, thì còn gì sướng bằng tài có trong tay, một tháng kiếm trăm kiếm ngàn, mình vừa giầu, nước cũng được giầu, ấy thế mà cứ động nho-nhoe thừa lưng vốn là đã cố kiếm lấy cái trật con con rồi, không Hàn thì cũng Bát Cửu, chớ không chịu cái tiếng là dân có tài. Được hàm một cái, là tài thây kệ tài ngay. Ai đến đặt đồ đã có đầy tớ, Quan đâu lại có quan Cẫn, quan Thêu, quan Trạm.

Ngẫm nghĩ trong sự ấy lắm nỗi buồn cười, là ai không có thể nào mà gọ (gọt – b/t) được chức quan thì cũng muốn soay thế nào cho không là bạch-đinh nữa mới nghe.

Như bọn thông ký ta cũng vậy. Xưa còn thầy ký sau ra thầy thông, sau ra thầy phán, bây giờ thì Quan Lớn Phán. Từ ngày được cái chức ấy đến giờ cũng đỡ được cái xin phẩm hàm đi một ít, vì ai bây giờ không phẩm hàm cũng là quan rồi, nhưng ác nghiệp quan đàng này chỉ kém quan đàng kia một nỗi, rằng còn được tại chức thì còn có người bẩm, đổi về Hà-nội hay là cáo về hôm trước thì hôm sau đã xuống thầy rồi. Vì thế cho nên trong cánh vai vế có mấy ông vừa xin được cái nghị định hễ cáo về thì đổi chức cho phẩm hàm quan An-nam. Cái ân ấy thực là to lắm. Nhà nước tăng lương, cũng không thỏa dạ bằng.

Nói truyện đến các Quan Phán lại nhớ đến lắm việc buồn cười. Nghiệp này, được cái dễ. Chẳng cứ tiến-sĩ-xuất-thân cũng được. Cho nên bao nhiêu những cậu con-cái nhà ở Hà-nội, bây giờ muốn chánh lên bác cả Mỗ, bác hai Mỗ, thì đổ vào mặt này nhiều. Có người chữ nghĩa thì ít, mà nghề thì cũng có, nhưng muốn kiếm chút danh phận, cho nên lo hàng 2, 3 trăm bạc, để vào làm việc ở một sở nào đấy, nhất là kẻ sổ không xong, làm được vài hôm xếp đuổi cũng đành, vì đuổi thì đuổi, từ dày cũng không ai dám gọi là bác Cả, bác Hai nữa. Vào mũi thầy rồi, có quyền mặc áo cổ là, đi giầy ủng 36 francs (quan tiền – b/t) rồi, có phải đuổi chóng quá, thì cũng nhiều cách tre mặt thế gian: Bây giờ thiếu gì chỗ, trại bách-thú, vườn hoa Paul-Bert (sau này là vườn hoa Chí Linh, giữa Bờ Hồ và Ngân hàng VN, b/t) cứ tám giờ ra đấy ngồi, 10 giờ ½ lại về, 2 giờ lại ra, 3 giờ lại về, độ một tháng thì dẫu chẳng thực thọ được với ai bằng thực thọ được với mấy bà láng giềng, có con gái. Nghề thế ! ở đời này bác Cả bác Hai vẫn khó lấy vợ.

Xin các ông Thông, – À quên ! các quan Phán ! – đừng có dận tôi, tôi nói là nói thực, trong đám mình cũng lắm người ra-phét, nhưng cũng nhiều khoản khó chịu lắm.

Ở nhà quê cũng vì sợ tên trắng mà lắm kẻ mất cửa mất nhà, bán ruộng bán nương.

Ngày xưa còn có mấy đám buôn giấy vàng bán quyền cấp thì cũng dễ, bây giờ ai quỉ quái thì đã có cái nghệ đi thám bậy, bắt duy-tân ! bỏ thuốc phiện, bỏ riệu, bỏ thuốc súng. Mà khù khờ thì cứ đợi đám lạc quyên nào may ra thì Hàn, chẳng may Bát-cửu cũng được. Cũng có người chịu hẳn mặt ấy, thì đã có mặt tổng-lý. Hai ba trăm, năm trăm, một nghìn, lại khao vọng, nhất là của mồ hôi nước mắt ba đời để lại cho cũng đem ra mà chạy hết cũng đành, quí hồ mất được cái tên bố-cu Mỗ, bố-đĩ Mỗ.

Đất không có người cầy, nghề không có người làm, xảo nghệ không tấn tới, mãn đại chỉ thích cắn rơm cắn cỏ, dốt như bò, cũng do ở sự muốn làm quan cả.

Mà muốn làm quan là chỉ muốn ăn báo kho bạc, việc ít tiêu nhiều, tài nhỏ danh to, cũng có, nhưng muốn làm quan vì cái tên cũng nhiều.

Vậy thì chúng tôi nghĩ có một kế để làm cho thiên-hạ bớt được một nửa người muốn làm quan đi, để ruộng đất được thêm tay cầy, buôn bán được thêm người bận, nghệ nghiệp lắm kẻ truyên, sảo kỹ nhiều tay rỗi ra, cách ấy là cách bỏ đứt cái thói lấy nghệ mà gọi tên đi.

Lúc ở công đường thì nha lại, trị hạ phải bẩm quan lớn, về nhà anh em quen thuộc, hàng sóm láng giềng, lại cứ tên chữ mà gọi. Sự đổi tục ấy như các quan thì khí khó, chúng ta là bọn quan kiểu mới này thì dễ. Cứ lệ với nhau đừng ai gọi là quan Phán, ông Phán, thầy Phán gì nữa, cứ gọi nhau là ông Đỗ, ông Nguyễn, ông Trần, hoặc ai có tên chữ thì gọi càng hay. Người khác mà lấy chức gọi ta, phải cho đã hình như là bỉ báng. Xem ngay như các quan Đại-pháp, có thấy họ gọi nhau là monsieur le Commis (quý ông Bán hàng – b/t), monsieur le Préposé des Duoanes (quý ông Công chức Hải quan – b/t) bao giờ không? Giả thử các ông Tây bây giờ mà gọi nhau là M. le Bachelier (quý ông Cử nhân – b/t), M. le Licencié (quý ông Công chức cấp phép – b/t) thì buồn cười quá, thế mà ta động đi thi được cái bằng con, là không có tên nữa. Gọi ngay là ông cử, ông tú. To lắm rồi, cho nên chỉ khôn được đến thế là mãn nguyện. Tú, cử cũng đã vào thượng-lưu xã hội rồi.

Cũng có kẻ nói nhà quê có nhiều người muốn được phẩm hàm, vì là được trừ đóng góp phu phen, chớ có thiết gì cái danh. Nếu thế thì lại tệ nữa. Vì cách trốn sưu dịch ấy là cách hèn hạ, dân đinh có vất vả quá, thì ta nên cùng với anh em đồng-bào mà chịu, muốn cho được sướng thì phải cầu cho dân cũng sướng với mình mới phải, chớ mình không có tài cán gì hơn ai, mà vào đám chức sắc để chạy lấy một mình, thì không đáng làm đàn anh dân.

Tôi như các bạch-đinh nhà quê, thì những bác ấy tôi không cho ngồi chiếu trên. Có khác gì mấy người An-nam vào làng Đại-pháp để được quan Đại-pháp dong dự mình hơn người khác. Người đại-lượng đi đâu phải có đàn. Vinh cung vinh, nhục cùng nhục. Thấy đàn cùng nhục mà bỏ đàn vào bọn khác lấy vinh, thì chẳng hóa ra hèn lắm du !

NGUYỄN VĂN VĨNH.

Comments

  1. Bùi Hữu Thịnh

    Thật khó tưởng tượng thói xính danh,khoe mẽ,ham chức quyền của dân Việt đã bị Cụ Nguyễn Văn Vĩnh vạch mặt chỉ tên ngay từ những năm đầu thế kỷ 20!Bài phê phán đậm chất hài hước này còn nguyên tính thời sự cho tới tận hôm nay.Kính phục Cụ.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *