Kỷ niệm 110 năm cuộc “Cách mạng Văn hóa” ĐÔNG KINH NGHĨA THỤC (1907 – 2017) – Bài 3

MA TO DỖ NHỚN

 (Đăng Cổ Tùng Báo, số thứ Năm ngày 18 tháng Tư  năm 1907)

 Phong tục An-nam mình, nhiều điều thật không có nghĩa lý gì.

Như có bố mẹ lên lão, hoặc mình đi thi đỗ, cưới vợ, làm nhà, được làm quan, thăng hàm, mà ăn mừng thì còn có nhẽ; nhưng bố mẹ chết, mà mổ trâu mổ bò, mời làng mời nước, biếu-sén hàng sóm láng giềng, thì còn có nghĩa gì nữa ?

Có kẻ nói rằng: làm thế để giả nghĩa cha mẹ. Cái điều cha mẹ chết đi, hồn phách có còn mà trông thấy những sự dương-gian hay không, thì đây tôi không dám bàn, nhưng giá thử các cụ có trông thấy, thì chắc hẳn lắm khi cũng tức cười. Kìa như: có người, lúc cha mẹ còn sống, coi như người ngoài, ra lườm vào nguýt, bon chen từng tí; thế mà lúc cha mẹ vừa mới nhắm mắt lại, đã bò bò, lợn lợn, cỗ cỗ, bàn bàn, bán mẫu ruộng làm ma to, cắm khu vườn lo dỗ nhớn.

Tôi nghĩ không giả nghĩa nào bằng: lúc cha mẹ còn sống, nhà thường thì cố làm ăn cho cha mẹ hiển vinh; nhà có thì giáng nên tài trí để cha mẹ được danh tiếng.

Tôi tưởng lúc ông-cụ bà-cụ nằm xuống mà nghĩ được rằng: “ta đã sinh ra được con có tài có đức, cho xã-hội được nhờ; thì ta từ ta từ trẻ đến già, không làm nên điều gì, song đã để lại được dọt máu tốt, để chuộc lấy cái đời vô ích của ta”, thì chắc hẳn các cụ thỏa lòng hơn rằng, chết rồi có tư-văn hàng-giáp đến tế-lễ linh-đình.

Cũng có kẻ nói là nợ miệng: ăn của người thì phải mời người đến ăn.

Tang lễ vua Khải ĐịnhTang lễ vua Khải Định

Trong một đời người thiếu gì dịp thết khách, lại phải nhân khi bố mẹ chết, ra tưởng đền ơn người cho ta ăn một bữa. Thành ra khi bố mẹ chết, tưởng đến bố mẹ ít, tưởng đến kẻ cho ăn nhiều.

Tôi tưởng làm người, thực có hiếu với cha mẹ, thì lúc cha mẹ thác đi, còn có trí nữa mà nghĩ đến những điều thiệp-lịch mấy đúng còn có bụng nào mà để vào những sự thết đãi anh em.

Và làm ra cỗ bàn lại hóa ra mất cả lòng thành hàng sóm láng giềng, bạn-bè thân-thích. Thành ra ai cũng mang tiếng, vị có bữa rượu mấy đi đưa bà con tới mồ, chớ không phải vì thương vì tiếc bà con mà chịu khó nhọc đến đưa đám.

Sau nữa lại còn một nỗi: vừa mất cha mất mẹ lại còn vừa hết cơ hết nghiệp, hết tang người rồi lại đến tang của. Có đâu lại có như thế!

Những nhẽ tôi nói đây thì ai cũng biết, nhưng tại làm sao xưa nay vẫn biết rằng vậy mà vẫn làm ? Ấy là vì một điều thiên hạ hay khoe của.

Lạ quá! Kỳ quá! ở đời bao nhiêu lúc cần hách dịch mà chẳng hách cho!

Kìa như: mình cũng là người, người ta cũng là người, mà có ket vật mình ra … thì không thấy biết trọng thân. Để giữa lúc bố chết hách mấy đời một phen, khánh bại sản cũng đành.

Cảnh chụp người dân VN.đầu TK XXCảnh chụp người dân VN đầu TK XX

Thôi! thế như mà, có ông quân-tử đã bảo rằng: giống người không chữa được. Hãy để phải hách.

Giả như bây giờ những người quân-tử đàn anh trong làng nước, nghĩ ra một cách đổi tục lại, phàm ai có cha mẹ mất đi có lệ phải nộp vào cho dân vài trăm quan tiền để làm tràng học, hoặc mở cơ cục gì hay, thì …hình giáp hay là tư-văn mấy đến tế-lễ, như thế cái hách của đứa giại không phải chừa, và tiền đứa giại vất đi, dùng được làm điều lợi cho người khôn.

Các ông Cử, ông Tú bây giờ, xin đừng lo việc giời cao bể giộng vội, xin hãy cứ bàn cái ấy thế nào cho thành, thì là nước được nhờ lắm.

Thực-trí.

 

 

Thưa các quý vị độc giả!

Trong một số những tư liệu lịch sử để lại, nói về vai trò của Nguyễn Văn Vĩnh (NVV) trong Đông Kinh Nghĩa Thục (ĐKNT) 1907, có rất nhiều đoạn văn bộc lộ  sự mâu thuẫn giữa NVV và một số sỹ phu Nho học, là khá gay gắt. Bản thân NVV luôn cho rằng, xã hội lạc hậu, đất nước tăm tối, người dân ngu đần… đều có một phần trách nhiệm quan trọng của các sỹ phu, nhân danh là những người được học hành, có chữ., có kiến thức hơn người.

Tuy nhiên, như chúng ta chứng kiến sự ảnh hưởng nặng nề của chế độ chính trị xã hội, cái chế độ mà không những không giúp cho những người có tri thức đó phát huy những vốn hiểu biết nhờ có chữ, thay vào đó, là lối sống ích kỷ. Học chỉ để kiếm chức, tước trong hệ thống cai trị, lo cho cuộc sống cá nhân, cho danh hơn người, điều này được xác định trong một thuật ngữ lịch sử: Nền giáo dục khoa cử!

Trước thực tế thô thiển của đất nước, NVV từ lúc còn là một cậu thanh niên, mới ngoài 20 tuổi, đã sốt ruột, lo lắng và “phẫn nộ” đến mức phải tìm cách nào đó, bằng cách nào đó, tác động lên tư duy của dân chúng, hòng thay đổi nhận thức xã hội, hướng đến một cuộc sống văn minh trí tuệ. Từ đó, xây dựng một dân tộc tiến bộ, giữ gìn bản sắc giống nòi, nâng cao vị thế của một kẻ bị trị, để mong có một ngày, bằng vai với kẻ cai trị mình, và đó chính là quyền làm người, quyền bình đẳng, trong một xã hội dân chủ, dẫn đất nước tìm đến sự độc lập dài lâu.

Trong số những người bạn gần gũi là Nho sỹ của NVV trong ĐKNT, phải kể đến Phan Kế Bính (1875-1921), con người khá uyên bác về kiến thức xã hội, về ngôn ngữ và văn chương, người đã cùng NVV tâm đắc, miệt mài dịch toàn bộ pho truyện lịch sử  đồ sộ của Trung Quốc “Tam Quốc Diễn Nghĩa” từ Hán văn ra Quốc ngữ.

Phan Kế Bính cũng là người say sưa với việc nghiên cứu phong tục, tập quán của người Việt. Ông hiểu hơn ai hết cái gánh nặng “phong tục”, đã ràng buộc người dân lành đến mức nào…. Xin dẫn một chi tiết trong cuốn sách nổi tiếng của ông, cuốn “Việt Nam Phong tục” in năm 1915:

Trong làng, nhà nào có người mất, phải kiếm trầu trình dịch lý, xin cắt đô tùy hoặc mười hai, hai mươi bốn, ba mươi người, nhiều ít tùy hiếu chủ; và có cơi trầu mời hàng xóm, mời bản tộc, mời làng, mời hội chư bà đi đưa đám.

Hiếu chủ phải gậy mũ ra đình lạy làng, rồi làng nhận lễ mới đem đô tùy (các nhân viên phục vụ tang lễ- b/t) vào cất đám. Cất đám phải có tiền lệ một vài đồng bạc để phân phát cho bọn đô tùy…”.

Chỉ xin dẫn một chi tiết được gọi là bình thường của hoàn cảnh lúc đó, để người đọc có cơ sở hiểu được, vì sao, ngày đó, một bộ phận quan lại và các chức dịch của hệ thống cai trị, rất “ghét” NVV?!

Điều này đã tồn tại dai dẳng đến nhiều chục năm sau, các tầng lớp hậu sinh, núp dưới bóng của các cuộc cách mạng, góp nhặt những chi tiết này để “kết án” NVV là yêu nước, hay không yêu nước, là vì dân, hay không vì dân?!

Xin được hẹn các quý vị quan tâm đến đề tài NVV gặp lại ở bài số 4, có nhan đề: “THIẾU GẠO ĂN, THỪA GIẤY ĐỐT?”.

Trân trọng!

NGUYỄN LÂN BÌNH

 

 

 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *