VÌ SAO, MỘT NGƯỜI HÀ NỘI RA ĐI KHỎI HÀ NỘI SÁNG 19.12.1946.

Cuối tháng 11 vừa qua, trong một ngày, tôi đã nhận đến ba cuộc điện thoại của một người xưng danh là cộng sự của chương trình VTV 1 Đài THVN, chuyên đề chính trị. Cuộc điện thoại thứ nhất, người đó hỏi tôi có phải tên là….., có người bố tên là….và ông là con trai của học giả Nguyễn Văn Vĩnh, đúng không? Ông cụ anh chuyên về phát thanh mà….

Tôi thưa lại một cách dứt khoát rằng vâng… đúng!

Người cộng sự gọi điện hỏi tiếp:

“Trước đây, anh có bao giờ nghe người bố của mình nói chuyện về Đài Tiếng nói Việt Nam hồi năm 1946 ở chùa Trầm không?”

Tôi khẳng định:

“Dạ có, ông kể cho tôi nhiều lần. Sau này, khi học trường PT cấp ba, Hà Nội B sơ tán phía Quảng Bị (thuộc Chúc Sơn, Hà Tây), đối diện phía chùa Trầm, bên trái đường số Sáu nếu đi từ Hà Nội lên Hòa Bình, ông hay nhắc lại nhiều lần những dịp đưa tôi lên nơi sơ tán, với thái độ thổn thức. Ngày đó, tôi nghe cha mình kể vậy, nhưng hoàn toàn không có ý thức gì về việc vì sao ông thổn thức mỗi khi kể lại về cái địa danh chùa Trầm….”.

Người cộng sự nghe với thái độ mừng rỡ, hình như tôi đúng là điểm đến của ông trong nội dung công việc mà ông đang theo đuổi. Ông lại nói như để khẳng định mối quan tâm thực sự nghiêm túc và rất quan trọng của mình:

“Chúng tôi đang làm hai tập phim tài liệu cho chương trình kỷ niệm 70 năm ngày Toàn Quốc Kháng Chiến, 19.12.1946 – 19.12.2016. Chúng tôi rất quan tâm đến ông cụ nhà anh, người đã dâng hiến rất nhiều cho cách mạng, và cũng thiệt thòi rất nhiều…. Tôi nghe về ông cụ nhiều lắm, mà người nói nhiều về bố anh là ông Khiêm đấy!”.

Tôi thấy ngờ ngợ, rằng nếu là ông Phạm Gia Khiêm nguyên là Phó Thủ tướng, Bộ Trưởng Ngoại giao… thì ông ấy về hưu rồi… giá trị bao nhiêu nữa? Tôi lâu nay rất mặc cảm với nhiều vị về hưu rồi, mới thấy có nhiều động thái “chân thành”, hay “nhiệt tình” để tâm đến thế thái nhân tình, đến thế nào là lòng trắc ẩn. Nghĩ vậy, nên tôi gặng hỏi lại người cộng sự nọ:

“Xin lỗi, anh nói ông Khiêm là ông Khiêm nào? Sao ông ta biết cha tôi? Mà các anh nói với nhau từ hồi nào?”.

Người đó trả lời:

“Lâu lắm rồi, từ hơn chục năm trước, ông Khiêm Phó Thủ tướng ấy, Phạm Gia Khiêm ấy! Cũng nói để anh biết, hai tập phim tài liệu này là những sản phẩm có tính chính luận, sẽ phát vào giờ vàng của VTV 1 đấy. Chương trình phải phát vào tối 15.12 tập Một, tập Hai là ngày tiếp theo. Chúng tôi muốn tập Một sẽ nói nhiều về cha mẹ anh, vì mẹ anh là người may cái lá cờ to nhất treo trước Nhà Hát lớn trong cuộc mít tinh ngày 17.8.1945 đúng không? Cuộc mít tinh mà lúc đầu là do Tổng Hội Viên chức Hà Nội tổ chức để mừng Liên Xô đánh thắng Phát Xít ấy…”

Tôi như được an ủi, bụng bảo dạ: À, vậy ra cuộc đời vẫn có những tính bản thiện, nằm ở đâu đó… Chứ không phải bị lảng tránh, quay lưng như lối nghĩ bi quan vẫn hay dằn vặt tôi và những người thân của mình mỗi khi nhìn lại sự thật trong quá khứ. Ok, vậy thì người đang tìm mình là đối tượng hợp tác được (tôi cũng giống như chán vạn những người sống thuần túy, khi thấy có người “nâng niu” một chút, là dâng tràn sự hy vọng, cùng với lòng tin tít tắp), mình nhất trí sẽ chia sẻ với cái đề nghị của họ, liên quan đến những việc làm của cha mình cách đây đúng 70 năm. Tôi thưa lại với một giọng dè dặt:

“Vâng, vậy các anh định thế nào? Thôi, theo tôi, xin anh địa chỉ thư điện tử, tôi muốn gửi các anh đọc trước những tư liệu đã từng được công bố về cha tôi trên các phương tiện thông tin Nhà nước. Đồng thời, anh chịu khó xem trên trang tin Tannamtu.com trích đoạn bộ phim tài liệu về cha tôi liên quan đến việc ra đời của Đài Tiếng nói Việt Nam phát trên VTV 3 năm 1997 do đạo diễn Trần Đức thực hiện, như thế sẽ giúp các anh chủ động hơn nếu chúng ta gặp nhau”.

Trả lời:

“Chúng tôi cần gặp anh trực tiếp. Chúng tôi muốn phỏng vấn anh về những hiểu biết của anh về công việc của người bố của mình, đặc biệt là giai đoạn cuối năm 1946. Nếu anh biết gì về việc ra đời của Đài Tiếng nói Việt Nam, về cái Đài ở chùa Trầm ấy, thì tuyệt vời. Chúng tôi sẽ báo lại cụ thể ngày giờ nào đến anh. Bận quá anh ạ, thời gian đến ngày phát sóng còn rất ít. Anh nhớ chuẩn bị trước những tư liệu nếu có, liên quan đến ông cụ nhé!”.

Vào lúc đó, tôi không có thái độ dứt khoát trong câu trả lời trên điện thoại, về việc có nhận lời trả lời phỏng vấn hay không?!

Mấy ngày sau, khi cuộc phỏng vấn diễn ra vào chiều ngày thứ Bẩy 26.11 tại nhà riêng, tôi đã không dấu giếm nói thẳng với người phóng viên đến phỏng vấn tôi trước khi bấm máy ghi hình, rằng tôi không tin nội dung liên quan đến cha mẹ tôi sẽ được duyệt để phát sóng. Tôi đã có nhiều bài học đối với các nhà báo, các phóng viên, nhất là ở Trung ương khi bàn đến những tình tiết lịch sử có thật, liên quan đến gia đình tôi. Riêng tôi, tôi rất hiểu vì sao…. mọi sự lại… khó thế!

Người phóng viên nói với tôi ngắn gọn sau khi nghe tôi bộc bạch:

“Anh yên tâm đi, mọi việc sẽ bình thường… Rồi anh sẽ xem… Em khác…”.

Tôi đã giật mình khi nhóm phóng viên VTV vào nhà, và giới thiệu tên từng người trong buổi phỏng vấn đó. Nghe tên người phóng viên sẽ đối thoại với tôi, lập tức trong đầu tôi hiện lên ký ức về đôi ba đề tài có tính “nhạy cảm” đã được phát trên truyền hình, khi nói đến tên tác giả là người phóng viên phỏng vấn tôi hôm nay. Tôi nhớ, cái tên người này đã từng gieo vào đầu tôi sự ấn tượng!

Hơn nữa, tôi thấy người phóng viên đã đứng tuổi, tôi có lòng tin hơn, bởi lẽ các phóng viên trẻ mà được cử đi làm các đề tài lịch sử, họ không thể có đủ hiểu biết, nhãn quan để đưa ra những câu hỏi linh động, mang tính cụ thể về những khía cạnh sâu sa trong quá khứ. Như vậy, theo tôi các phóng viên trẻ sẽ chỉ nêu các câu hỏi khuôn mẫu, được các “xếp” đặt sẵn. Kiểu phỏng vấn như vậy, tôi nghĩ không bao giờ sản phẩm làm ra có được cái hồn của nó, và như thế tôi rất ghét. Đó là chưa nói đến việc, nêu lên rồi sẽ là gì? Hay chỉ là sự ve vuốt, an ủi những kẻ liên quan.

Cuộc sống, không nhất thiết phải nhớ tất cả những diễn biến hàng ngày đối với một con người, nhưng điều gì là dấu ấn, thì nên giữ lại để khi cần, mình ứng xử cho đúng mức, không thất thố.

Người phóng viên phỏng vấn tôi lưu ý:

“Anh sinh ra sau những diễn biến bố anh đã tham dự, nhưng anh là con lớn của ông, anh được ông chuyện trò nhiều, anh lại giữ cả tư liệu của gia đình, anh có thể trả lời phỏng vấn những gì anh biết liên quan đến công việc của cụ cách đây 70 năm, và đương nhiên, anh phải chịu trách nhiệm về tính trung thực trước những gì mình nói ra. Anh nhất trí như thế nhé?!”.

Tôi cười tán thưởng và nói theo người phóng viên đó:

“Tất nhiên rồi, cũng như tất cả những gì tôi đã từng dẫn giải trong những đề tài khác nhau liên quan đến gia đình lớn của tôi, tôi phải chịu trách nhiệm chứ!”.

Mọi việc được tiến hành rất gọn gàng, người phóng viên đó không trực tiếp đặt nhiều câu hỏi với tôi, hình như anh biết rõ tôi có thể nói suốt ngày về đề tài liên quan đến cha tôi, đến gia tộc của tôi. Tôi tự nhủ, tôi sẽ chỉ nói đến những diễn biến xã hội quan trọng mà cha tôi đã can dự, phù hợp với nội dung của phóng sự 70 năm ngày Toàn Quốc Kháng Chiến. Có thể, người phóng viên đó đã tin vào sự nhạy cảm của tôi, tin rằng tôi là kẻ biết dùng lý chí để điều chỉnh hành vi, nên chẳng cần phải đưa ra những câu hỏi mang tính dẫn dắt chi tiết, hoặc sợ người trả lời rơi vào trạng thái thao thao…. và lạc đề.

Tôi học được từ lâu cách nói chuyện với người đối diện, đó là cần phải quan sát thái độ người nghe, chú ý những phản ứng của người nghe thông qua nét mặt của họ, từ đó mà điều chỉnh nội dung, hoặc thời lượng hợp lý. Nhận thức như thế, nên tôi đã khá thận trọng khi phát biểu.

Thường tôi thấy được cổ vũ, khi người nghe gật đầu (gật đầu do phản xạ bản năng, khác với kiểu gật đầu của những kẻ xu nịnh) cười mỉm, ồ….à…. thể hiện sự ngạc nhiên và thích thú trước những ý kiến, tình tiết mình nêu.

Kết thúc buổi làm việc đã hơn 6 giờ chiều. Tôi thành thật muốn mời các anh trong nhóm phỏng vấn hoặc chén rượu ngon, hoặc cốc bia, nhưng mọi người chỉ cảm ơn và từ chối. Anh bạn quay phim, vừa thu dọn máy móc, vừa nói vẻ thật lòng rằng: buổi trưa đã uống chút rồi, hơn nữa đi suốt ngày, bây giờ muộn quá, về Đài thu xếp, dọn dẹp, mà hôm nay lại là thứ Bẩy. Thôi, xin cảm ơn anh, hẹn lúc nào đấy….

Người phỏng vấn tôi đề nghị tôi cho xin vài ba bức ảnh của cha tôi thời kháng chiến. Anh còn lưu ý tôi rằng, ảnh càng cũ càng tốt. Trước khi chia tay, người phỏng vấn tôi còn nhắc lại số điện thoại và lưu ý tôi gửi cho xin thêm tư liệu nhé….

Tôi viết những dòng này sau khi giờ vàng của chương trình VTV 1, Đài THVN đã qua đi trong buổi tối ngày hôm nay, thứ Năm 15.12 này….

Một lần nữa, dự cảm của tôi lại đúng! Tôi không trách được người cộng sự nọ đã gọi điện thoại cho tôi, tôi cũng không trách được người phóng viên đứng tuổi đã đến phỏng vấn tôi, tôi không trách người nào đó liên quan đến việc dựng lại những sự kiện tháng 12 năm 1946, dựng lại những tháng ngày đầy hào hùng của một dân tộc chân thành, khao khát độc lập, chấp nhận mọi sự trả giá để không phải làm nô lệ ở 70 năm trước.

Nhưng tôi tiếc nếu cái ý tưởng, cái nội dung của người phóng viên đứng tuổi đó đã nhiều công lăn lộn làm cái chương trình của VTV 1 nhân 70 năm ngày Toàn Quốc Kháng Chiến dự kiến phát vào tối nay đã không xuất hiện. Tôi không dám chắc, có thể ngày mai, ngày kia, cái nội dung đó sẽ phát.

Nếu chương trình vừa nói sẽ không phát, dứt khoát không có, Ban chỉ đạo của chương trình có nghĩ rằng, những thời khắc lịch sử như lúc này đối với dân tộc, đặc biệt đối với những người cao tuổi, nhưng còn khỏe mạnh, tỉnh táo, những người đã từng can dự vào cái khoảnh khắc thiêng liêng đầy tự nguyện của cả một thế hệ cách đây 70 năm, những người đã tạo dựng cái hôm nay của chính các vị, họ đã tuột mất cơ hội để biết rõ hơn về một người đồng ngũ với mình, người mà họ đã chỉ nghe danh, và không rõ lắm, người đó đã làm những gì hệ trọng cho những ngày tháng lịch sử căng thẳng đó, khi tất cả còn là những người trẻ tuổi nhiệt huyết.

Chương trình không phát, những người ngày xưa đó cũng bị mất đi cơ hội hồi tưởng lại cái quãng đường mà họ đã hòa mình dâng hiến, và họ luôn coi sự hòa mình đó là niềm kiêu hãnh của cuộc đời, là dinh dưỡng tinh thần nuôi sống chính họ và cũng là cái cơ sở để họ dạy cho các thế hệ đi sau về cái đức hy sinh cần có của mỗi thằng người trong cái thời khắc mỏng manh khi tổ quốc nguy biến.

Tôi xin được giới thiệu đoạn văn dưới đây, như một món quà tinh thần, trước tiên xin dành cho những quý ông, quý bà ở tuổi 80 trở lên, đặc biệt đã sống ở Hà Nội, mà ơn Trời, hôm nay vẫn còn khỏe mạnh, minh mẫn, nặng tình yêu với mảnh đất này, đọc những dòng ghi chép của một người quá cố, tường thuật lại cái không khí sôi động ở Hà Nội những ngày này 70 năm trước. Sau nữa, món quà này cũng xin dành cho các quý vị nào đã từng làm việc cho Đài Phát thanh Tiếng nói Việt Nam, đặc biệt là người cộng sự đã gọi điện thoại cho tôi và hỏi rằng:

“Trước đây, anh có bao giờ nghe người bố của mình nói chuyện về Đài Tiếng nói Việt Nam hồi năm 1946 ở chùa Trầm không?”

Trân trọng!

Hà Nội, đêm ngày 15.12.2016

NGUYỄN LÂN BÌNH.

scan20004

Ông Nguyễn Dực cùng hai người con đầu chụp trong kháng chiến tại vùng tự do Thanh Hóa.

 

(Trích hồi ký của ông Nguyễn Dực – Dực radio)

PHẦN XVI, trang 46.

Sau khi phái đoàn do ông Phạm Văn Đồng, Trưởng Phái đoàn dẫn đầu sang Pháp, chúng tôi nhận được một chiếc máy chiếu phim, cùng bộ phim về những hoạt động của phái đoàn tại Hội nghị Fontainebleau gửi từ Pháp về. Nhờ trước đây, lúc còn ít tuổi, tôi đã từng được sử dụng loại máy chiếu phim khổ 8 mm, nên tôi đã thử cho chạy chiếc máy mới nhận được, cùng bộ phim nói về Hội nghị Fontainebleau cho các anh em làm việc trong Nha Thông tin tuyên truyền cùng xem.

Với kết quả của buổi chiếu thử nhiệm đầu tiên, hai anh Xuân và Thu đã nhận nhiệm vụ lên chiếu khá nhiều lần tại tòa nhà Bắc Bộ Phủ, phục vụ các vị trong Chính phủ xem. Đồng thời, chúng tôi được giao nhiệm vụ chuẩn bị đi chiếu ở các tỉnh xa. Nghiễm nhiên, để thực hiện công việc, chúng tôi đã hình thành hẳn một đoàn chiếu phim mà anh Trần Kim Xuyến là Trưởng đoàn và đi thẳng vào tận Huế. Từ Huế vào Đà Nẵng. Khi đi tiếp vào Quảng Ngãi, quân Pháp đã đánh ra tới An Khê. Tôi bị có điện gọi gấp về lại Hà Nội với lý do việc khẩn!

Tôi về tới Hà Nội, mới được biết ông Nguyễn Lương Bằng (9) ra chỉ thị việc chuẩn bị tổ chức lễ kỷ niệm một năm ngày thành lập nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Có quá nhiều việc phải lo, nhưng với tôi, việc chính là chịu trách nhiệm tổ chức một cuộc triển lãm, địa điểm là Ấu Trĩ Viên (ngày nay là Cung Thiếu niên Hà Nội).

Lúc đầu, ông Nguyễn Lương Bằng dự kiến chi cho 50.000 đ. Sau khi cân nhắc, tính toán các khoản, tôi đề nghị xin thêm 50.000 đ nữa mới đủ. Trong trường hợp không được chấp nhận, tôi đưa ra ý kiến sẽ thu tiền vào cửa của người đến xem với mức thu một hào một vé (Một đồng là 10 hào). Trước mắt, tôi xin được ứng trước, sau đó thu lại sau. Khi xin ý kiến ông “Cả”, ông đồng ý sẽ chi thêm, nhưng việc bán vé, chỉ được bán ở mức 5 xu một vé (một hào bằng 10 xu).

Lúc này, do yêu cầu của cơ sở phát thanh cần cho chuyển lên tầng hai của ngôi nhà, đồng thời, phải có phòng riêng ngăn kính đàng hoàng, để đảm bảo không bị nhiễu tiếng ồn khi đọc tin tức phát thanh. Chính vì nghĩ như vậy, nên tôi có ý định, nhân việc dựng triển lãm, sau khi kết thúc, mình sẽ dùng các vật liệu được dỡ ra từ triển lãm để cải tạo cho phòng phát thanh mới.

Triển lãm được dựng thành 50 gian, chia thành hai phía của bể bơi. Khu bể bơi sẽ được dựng thành sân khấu nổi, dùng cho việc biểu diễn văn nghệ, dãy pergola trước bể bơi, tôi định dựng một phòng bá âm tạm thời để truyền tín hiệu dẫn thẳng về nơi phát thanh đặt sau Nhà Hát lớn. Như thế, sẽ vừa phát được trực tiếp các buổi biểu diễn văn nghệ, phục vụ cho các buổi phát thanh trong chương trình kỷ niệm một năm ngày Cách mạng tháng 8, tạo không khí để ngày lễ thêm tưng bừng.

Mọi công việc thiết kế, trang trí, xây dựng cuộc triển lãm, đều thống nhất giao cho kiến trúc sư Tạ Mỹ Duật (10). Người chủ thầu là anh ruột ông Tạ Mỹ Duật, tức ông Tạ Mỹ Nhạ. Ngoài ra, chúng tôi quy hoạch luôn khu vực gửi xe đạp phía ngoài vỉa hè và quyết định không thu tiền giữ xe, vì người trông nom việc này, chính là người quản lý giữ xe chuyên nghiệp ở phố Tràng Tiền.

Việc thực hiện được tiến hành khẩn trương, nhanh chóng. Đúng buổi sáng ngày 17.8.1946, triển lãm được khai trương. Lễ khánh thành diễn ra long trọng, quyền Chủ tịch nước là cụ Huỳnh Thúc Kháng (11) đứng ra cắt băng khánh thành, đồng thời được truyền về Đài Phát, phát trực tiếp qua Đài Tiếng nói Việt Nam.

Tuy là lần đầu tiên tổ chức một hoạt động có tính cổ động, nhưng nhờ có nhiệt tình của tất cả các anh chị em làm việc trong Nha Thông tin tuyên truyền, cùng bộ máy quản lý Ấu Trĩ Viên, một cuộc triển lãm lớn đã thành công ngay từ ngày đầu tiên. Số lượng người đến xem triển lãm rất đông, mặc dù vé chỉ có 5 xu, nhưng ngày nào cũng thu được cả ngàn đồng. Khổ nhất là toàn tiền lẻ, cứ đến tối, vợ tôi lại bải hoải vì đếm và xếp tiền ngay ngắn, sáng hôm sau đem nộp vào quỹ của kho bạc.

Nhờ có xe ô tô riêng, việc đi lại của tôi đỡ nhiều. Trước tôi có cái xe Renault mui trần, tháng Tư năm ấy, tôi phải đổi cho ông Nguyễn Tấn Gi Trọng lấy cái xe Ford hỏng của ông ấy. Việc phải đổi, vì một lần, ông Trọng đi đón phái đoàn Chính phủ bên sân bay Gia Lâm, lên đến cầu Long Biên thì chiếc xe chết máy, ông Trọng đành phải đứng phía bên này cầu mà nhìn phái đoàn đi về từ phía bên kia cầu.

Việc thu được tiền ở Triển lãm năm ấy, cũng để lại những chuyện buồn, đó là sự va chạm với với ông Nghinh, cán bộ phụ trách Văn phòng của Nha Thông tin tuyên truyền. Chứng kiến việc thu tiền hàng ngày ở triển lãm, ông Nghinh đề nghị được vay một khoản từ số tiền thu được hàng ngày bằng giấy ông viết tay. Tôi không thể đồng ý và yêu cầu ông ta phải xin ý kiến của ông Trần Kim Xuyến. Ông Nghinh trình bày với ông Xuyến, và ông Xuyến cũng phản đối với lý do: lệnh của ông “Cả”!

Số tiền thu hàng ngày từ triển lãm, ngày nào cũng đem nộp Kho bạc, tất cả đều ghi theo sổ sách, nhưng đến hôm nay thì chẳng còn nhớ được nữa. Tôi chỉ nhớ, sau khi cuộc triển lãm kết thúc, tất cả các loại gỗ ván, vải, vật liệu được dỡ ra từ đó, đã đem về khu phát sóng của Đài, nằm phía sau Nhà Hát lớn, mục đích là để dành cho việc cải tạo và dựng mới các phòng làm việc của Đài phát.

Nhưng, cũng chỉ được vài ngày, tôi lại nhận được lệnh chuẩn bị cho lễ đón Hồ Chủ tịch từ Pháp về bằng đường biển. Yêu cầu của cấp trên đối với tôi trong buổi lễ đó là: Tất cả các câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh, kể từ khi bước xuống cầu thang từ tầu thủy ở bến cảng Hải Phòng, đều phải làm cho đồng bào cả nước đều nghe được!

Để làm được yêu cầu này, còn một điều khó khăn nữa, là tôi phải lắp được hệ thống máy thu phát sóng ngay trên toa tầu hỏa đặc biệt của Hồ Chủ tịch, trong đoàn tầu chạy từ Hải Phòng về Hà Nội. Điều này, có nghĩa là phải có một máy phát sóng vô tuyến điện, truyền thẳng tín hiệu về Trung tâm phát tín Bạch Mai, qua đó chuyển sang cho Đài Tiếng nói Việt Nam phát ra hàng ngày.

Suốt dọc đường Trần Hưng Đạo về đến Bắc Bộ Phủ (vườn hoa Con cóc), đồng bào tập trung đứng hai bên đường đón Hồ Chủ tịch, nhưng lấy đâu ra đủ loa để mắc suốt cả con đường. Tôi kiến nghị Ủy ban Hành Chính HN, cho làm sẵn các kệ đặt dưới các cột đèn theo khoảng cách tương đối, với điều kiện phải có ổ cắm điện. Bên cạnh đó, vận động tất cả nhân dân, nhà ai có đài radio, đề nghị đem đến những vị trí có kệ kê sẵn tại các cột điện, cắm điện và cho đài chạy, bắt sóng Đài Tiếng nói Việt Nam để mọi người đều nghe thấy nội dung tường thuật buổi đón Hồ Chủ tịch một cách trực tiếp. Vậy mà, thật hay, vì cũng có đến 52 người đồng ý đem đài radio của mình đến những vị trí đã định, phục vụ mọi người.

Riêng tại quảng trường trước nhà ga Hàng Cỏ, tôi quyết định sẽ cho lắp đặt hệ thống thiết bị máy móc mà tôi vẫn sử dụng tại Đông dương Học xá khi có mít tinh. Riêng micrô, tôi sẽ chuyển thẳng từ toa tầu của Hồ Chủ tịch ngồi, đến bao lơn, nơi sẽ dùng làm lễ đài trước cửa nhà ga Hàng Cỏ.

Thực ghê gớm, vì khối lượng công việc phức tạp như thế, vậy nhưng tôi đã thực hiện được đầy đủ. Tôi nghĩ lại, thứ nhất là mình có được kế hoạch chi tiết, rõ ràng, nhưng quan trọng nữa, là nhờ lòng nhiệt tình của tất cả mọi người, vì ai cũng náo nức muốn được đón Hồ Chủ tịch một cách thật chu đáo và trang trọng.

PHẦN XVII, trang 46.

Ngay buổi tối khi chúng tôi đến Hải Phòng, ở trường Ngô Quyền, Hồ Chủ tịch đã giao nhiệm vụ cho ông Trần Kim Xuyến, rằng sáng hôm sau, báo cáo việc cân nhắc, bàn bạc, xem xét cho di chuyển các máy móc, thiết bị phát thanh khỏi Trung tâm Phát tín Bạch Mai, càng sớm càng tốt, cần nghĩ đến việc đặt ở nhiều địa điểm khác nhau để đảm bảo sự tiện lợi và an toàn.

Vào ngày đó, tại Đài Phát sóng Bạch Mai có bốn máy phát lớn, địa điểm dự kiến di dời, yêu cầu xin ý kiến trực tiếp của Hồ Chủ tịch. Ngoài ra, còn một máy mới được lắp đặt để chạy thử ngay tại Nha Thông tin tuyên truyền ở 71 Trần Hưng Đạo, cũng cần có ý kiến của Hồ Chủ tịch.

Bốn máy phát chính đặt ở Đài Phát Bạch Mai, sẽ do anh em nhân viên của Sở Vô Tuyến điện nhận thực hiện. Chiếc máy sẽ đặt nơi gần nhất Hà Nội là chùa Trầm (Chúc Sơn-Hòa Bình), cách Hà Nội 20 km, là trường hợp phải được thực hiện ngay. Theo chỉ đạo, chỉ cho phép 20 ngày phải hoàn tất việc di chuyển, cùng với việc lập một bộ phận nhân viên kỹ thuật, có đầy đủ cả nhóm phát thanh, biên tập theo ý kiến của Hồ Chủ tịch.

Ba chiếc máy còn lại, phải chuyển lên Việt Bắc, đặt ở ba địa điểm khác nhau, đảm bảo an toàn, giữ được bí mật. Tuy nhiên, ở Hà Nội, Đài vẫn hoạt động bình thường, nhưng đã gọn nhẹ đi nhiều.

Do tình hình công việc như thế, tôi thường xuyên vắng nhà, vì vậy, tôi đã đưa vợ con về ở nhờ bên quê ngoại vùng Đốc Tín, gần chùa Hương. Ngày 15.12.1946, tôi tranh thủ về thăm vợ con nơi tản cư, lúc này cháu gái đầu lòng của chúng tôi đã được 14 tháng tuổi.

Sáng ngày 17.12.46, tôi lại đạp xe đạp về Hà Nội. Đi đến thị xã Hà Đông, tôi thấy rất nhiều người đang hối hả chạy ra khỏi Hà Nội. Tôi hỏi thăm thì được nói là, quân Pháp đã nổ súng ở phố Hàng Bún. Tôi bị tắc đường, không mò về được phố Đặng Dung. Tôi chạy đến cơ quan, cơ quan dọn chạy về ngôi nhà nằm ở góc phố Phan Bội Châu và Lý Thường Kiệt (sau này là ĐSQ Ai Cập). Tại đây, tôi không gặp được một ai, trong khi đồ đạc, giấy tờ vương vãi khắp nơi.

Tôi lại phóng về cửa hàng 43 Hàng Bài, gặp rất đông anh em ở bộ phận báo chí đến tìm tôi, đề nghị tôi chuẩn bị cho máy móc, loa đài ngay buổi tối hôm đó là ngày 17.12 tại Quán Nghệ sỹ, gần với rạp chiếu phim (nay là Nhà hát múa rối Thăng Long). Nội dung cuộc họp báo là để lên án phía Pháp về vụ gây hấn ở phố Hàng Bún. Tôi hỏi thăm về các anh em làm việc trong Nha Thông tin tuyên truyền, thì được biết mọi người đã đi tản cư hết.

scan10015

Nhóm bà con đại diện tổ dân phố Cầu Gỗ chụp năm 1954 trong buổi lễ mừng ngày Giải phóng Thủ đô, 

tại địa điểm sát gần Quán Nghệ sỹ (Đền Bà Kiệu) đối diện Đền Ngọc Sơn. (Ảnh do ông Nguyễn Tiến Đạt ở 12 phố Cầu Gỗ cung cấp)

Buổi tối ngày 17.12, tôi đã lắp đặt thiết bị theo như yêu cầu của bên báo chí. Tôi để loa quay ra ngoài đường để nhân dân đứng bên ngoài cũng nghe được. Riêng cái micrô, thứ thiết bị gọn nhất, hôm đó tôi dùng loại tròn gần giống quả bóng, loại tôi hay dùng trong các sự kiện lớn. Khi buổi họp kết thúc, tôi thu dọn mọi thứ và gửi lại tại Quán Nghệ sỹ, định bụng sáng hôm sau lên mang về cửa hàng. Nhưng, vào cái ngày bận rộn đó (18.12), không có ai đi được… Và sau mới biết, chiếc micrô lịch sử đó đã không còn. Ngày 19.12 đã sảy ra tác chiến, trở thành cuộc chiến kéo dài đến 9 năm.

Sáng ngày 18.12.1946, tôi hạ quyết tâm phải đi tìm gặp ông Trần Kim Xuyến, vì trong người tôi không có một thứ giấy tờ nào liên quan đến cơ quan nơi mình đang làm việc. Tôi chuẩn bị cả bánh mỳ để về cơ quan Nha Thông tin tuyên truyền với hy vọng kiểu gì cũng sẽ gặp được ai đó…. Khoảng gần 11h00 trưa, thật đúng như dự kiến, ông Xuyến tìm đến cơ quan. Nhìn thấy tôi, ông hỏi thất thanh, rằng vì sao tôi vẫn ở đây?! Tôi trình bày việc không có trong người loại giấy tờ nào, đồng thời chiếc máy phát thứ 5 sẽ được xử lý thế nào?

Anh Xuyến hỏi tôi với thái độ ngạc nhiên, rằng giấy tờ của tôi đã làm rồi, mà tại sao cậu Nghinh (người đề nghị vay tiền từ việc bán vé ở triển lãm) vẫn không đưa sao? Nói với tôi như vậy, nhưng lập tức, ông Xuyến lại lưu ý tôi rằng, yên tâm, sẽ giải quyết sau. Trước mắt, theo đề nghị của ông Hải Triều (12) ở Sở Thông tin tuyên truyền Trung Bộ, yêu cầu đưa máy phát sóng vào miền Trung gấp, càng sớm càng tốt, mà không phải đưa vào Huế, vì Sở đã tản cư ra Vinh rồi! Ông Xuyến nhấn mạnh với tôi như vậy.

Anh Xuyến làm ngay trước mặt tôi các thủ tục giấy tờ cần thiết và khẳng định tôi cứ lên đường, anh ấy sẽ đi sau. Trong đợt đi chiếu bộ phim tài liệu gửi từ Pháp về, anh Xuyến đã đưa tôi về thăm gia đình anh ở ngay đối diện chợ Vinh. Vợ và các con anh Xuyến đều ở trong Vinh.

Hoàn tất mọi việc chuẩn bị để vào Vinh, anh Xuyến trao giấy tờ cho tôi. Hai chúng tôi bắt tay nhau… Tôi không ngờ rằng, đó lần cuối cùng tôi bắt tay anh. Anh Trần Kim Xuyến đã hy sinh sau đó tại Mai Lĩnh – Chúc Sơn, đầu năm 1947.

Sau khi chia tay anh Xuyến, tôi chạy ra ga Hàng Cỏ. Tôi gặp được ông Hà Đăng Ấn (13). Tôi trình bày cho ông Ấn xem giấy tờ. Ông Ấn cho làm ngay thủ tục để tôi được lên tầu hỏa đi Vinh vào buổi sáng hôm sau. Ông Hà Đăng Ấn dặn tôi, rằng ngay đêm hôm đó, tôi phải đưa được đồ đạc, những gì cần chuyển đi, đến đợi sẵn ở ga. Đợi tầu từ Vinh ra và xếp tất cả mọi thứ lên một toa, vì ngay sau đó, đoàn tầu phải chạy xuống Thường Tín để sơ tán, và sáng hôm sau, tầu lại quay vào Hà Nội để đón khách, rồi mới khởi hành vào Vinh.

Thật may, khi tôi chạy về 43 Hàng Bài lại gặp được anh Thâu. Hai người chúng tôi chuẩn bị hành lý, đóng tất cả vào được 15 cái thùng gỗ có sẵn, lập tức được chuyển ra ga tầu. Xong xuôi mọi việc, cũng là lúc tầu từ Vinh tiến vào ga Hàng Cỏ. Chúng tôi đợi cho hành khách xuống hết, cả hai chúng tôi mới chuyển các thùng gỗ lên toa, vừa hết đúng ½ toa tàu. Tôi đi một mình với 15 thùng đồ đạc xuống ga Thường Tín, đúng như ông Ấn đã lưu ý.

Ngồi trên toa tầu chạy xuống Thường Tín, tôi giở ví ra nhìn lại số giấy tờ đem theo, và kiểm lại xem mình còn bao nhiêu tiền?! Tôi thấy chỉ còn có 170 đồng. Với số tiền này, nếu không phải chi tiêu phát sinh trên đường, thì cũng ổn. Hơn nữa, vào đến Vinh, gia đình của ông Kỳ Anh Xô (14) ở tất cả trong đó, có thế nào thì mình cũng không lo.

Tầu chuyển bánh xuống Thường Tín, mệt mỏi, tôi nằm ra chiếc ghế chạy dọc của toa tầu để nghỉ ngơi. Một lúc sau, thấy cả người ngứa ngáy, mới biết rằng trên ghế nhiều rệp quá. Tôi vùng dậy, xếp lại mấy cái thùng gỗ thành một mặt phẳng, và ngả lưng trên đó cho nó qua cái đêm 18.12 năm đó….

Khoảng 4h00 sáng ngày 19.12, đoàn tầu lại lăn bánh trở lại ga Hàng Cỏ để đón khách như thông báo. Đúng 7h00, đoàn tầu chính thức khởi hành đi Vinh. 11h00 trưa, tầu đến ga Nam Định, không khí khá nhộn nhạo. Các nhân viên của đội tự vệ cứ giục tầu chạy, vì quân Pháp đang muốn gây sự, có thể nguy hiểm. Tầu đến cầu Ninh Bình, phải dừng lại đển giảm tải, do cầu bị máy bay Mỹ phá hỏng từ trước.

Tầu vào ga Ninh Bình, tôi trình bày giấy tờ với Trưởng ga, xin được giúp đỡ việc chuyển 15 thùng gỗ bên kia cầu lên tầu. Mọi việc diễn ra xuôn sẻ. 19h00 tối, tầu mới lại chạy tiếp vào Vinh. Sáng sớm hôm sau, 20.12 tầu đến được ga Vinh.

Suốt đêm 19.12, mặc dù quân Pháp nổ súng ở Vinh, nhưng phía ta đã khống chế được và bắt lại hầu hết, kể cả 2 chiếc máy bay Bà già cũng bị bắt giữ.

Tôi cho gửi lại Nhà ga 15 thùng hàng, rồi tìm đến Ty Thông tin tuyên truyền Nghệ An. Tôi gặp được anh Bùi Hiển là Trưởng Ty, đề nghị anh cho người ra ga để chuyển giúp 15 thùng đồ về nơi quy định.

Tôi rửa ráy, thay quần áo , rồi cùng anh Bùi Hiển đến trình diện Liên Khu Ủy, đóng ở trong Thành. Đến nơi, tôi gặp được ngay ông Hoàng Quốc Việt (15) là Bí thư Khu Ủy. Ông Việt nhận ra tôi ngay vì cùng là dân học trường Kỹ Nghệ. Trong cuộc tiếp xúc với Khu Ủy Liên khu Bốn, có ý kiến nói, may quá, người có mặt lại là tôi. Như vậy, Khu Ủy sẽ không phải xin cấp trên cán bộ biệt phái nữa, đồng thời sẽ đề nghị Trung ương cho tôi chuyển hẳn vào trong này, cùng với hai điều kiện:

Một là: Vì cuộc kháng chiến sẽ còn lâu dài, nên đề nghị tôi đưa vợ con vào ở cùng.

Hai là: Hoạt động của nghành Vô tuyến điện trong Khu Bốn sẽ rất nhiều, nếu chỉ một mình tôi sẽ không sao gánh hết công việc, đề nghị tôi nghĩ đến chuyện nhận thêm nhân viên cùng làm.

                                                Hết chương XVII.

Chú thích:

  1. Nguyễn Lương Bằng, (1904-1979). Tổng giám đốc Ngân hàng quốc gia Việt Nam.
  2. Tạ Mỹ Duật, (1910-1989). Thuộc thế hệ những kiến trúc sư đầu tiên ở VN.
  3. Huỳnh Thúc Kháng, (1876-1947). Ông từng giữ chức Viện Trưởng Viện dân biểu Trung kỳ thời thuộc địa.
  4. Nguyễn Hải Triều, (1908-1954). Nhà báo, nhà lý luận Marxit.
  5. Hà Đăng Ấn, (1914-1982). Lão thành cách mạng. Từ 1960 đến 1977 giữ chức Tổng Cục trưởng Tổng Cục Đường sắt VN.
  6. Kỳ Anh Xô, là người thầy dạy Nguyễn Dực nghề VTĐ. Ông Xô là người Hoa kiều, gốc Chợ Lớn.
  7. Hoàng Quốc Việt, (1905-1992). Bí Thư Tổng bộ Việt Minh.

==============================

Giữ bản gốc tập hồi ký của ông Nguyễn Dực và biên tập:

Nguyễn Lân Bình, con trai thứ hai của tác giả. Chủ nhiệm trang tin điện tử chuyên đề về học giả Nguyễn Văn Vĩnh và gia tộc Tannamtu.com.

 

                                      ===============================

scan10014

Bút tích của Đinh Ngọc Liên ( 1912 – 1991)  nhạc sĩ chỉ huy dàn nhạc kèn của quân nhạc Việt Nam đầu tiên. Người chỉ huy dàn nhạc kèn cử hành bài Tiến Quân Ca của Văn Cao tại quảng trường Ba Đình ngày 2.9.1945.

Trang đầu của hồi ký “Những chặng đời tôi”, do NXB Âm nhạc và Đĩa hát ấn hành năm 1987 tại Hà Nội. Lời tựa của nhạc sỹ Lưu Hữu Phước.

 

ảnh đại diện là: Góc phố Hàng Đào ra Bờ Hồ trước ngày 19.12.1946 (nguồn ảnh kênh 14)

 

 

 

 

Comments

  1. nghiem trong hanh

    Ở cái tuổi 70 rồi mà chúng tôi ,những người con của Hà Nội bây giờ mới biết sự thật về ngày 19 tháng12 năm1946.Thật tiếc và giận .Không vượt qua sự đố kỵ ,nhỏ nhen tầm thường ,bao giờ chúng ta mới kha được.Cảm ơn bài viết đầy trăn trở của của tác giả .

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *