MỘT GÓC SỰ THẬT – Kỳ 4

 

(Tiếp theo Kỳ 3)

1. Đảng Cộng sản Đông Dương.

Đảng Cộng sản Đông dương ra đời năm 1930, hợp với bối cảnh khi Chính phủ Thuộc địa và Triều đình Nhà Nguyễn lâm vào giai đoạn khủng hoảng nghiêm trọng về chính sách cai trị, cộng với tình hình thế giới và nước Pháp lâm vào suy thoái kinh tế nặng nề. Hàng loạt các biến động xã hội, có tính phong trào, đòi tự do, dân chủ và giải phóng khỏi chế độ cai trị của Thực dân, là thể hiện sự khát khao của một dân tộc bị đè nén, áp bức kéo dài.

Các phong trào phản kháng do những gương mặt ái quốc khác nhau lãnh đạo, đều theo các phương thức riêng lẻ. Để quy tụ được các lực lượng đòi cách mạng xã hội, việc một cá nhân hay một tổ chức tìm cách giành lấy vị thế độc tôn, trở nên một yêu cầu sống còn. Trong hoàn cảnh của một đất nước đang thoát thai khỏi chế độ Phong kiến cực kỳ lạc hậu, lại chịu sự cai trị của chế độ Thực dân kiểu cũ hà khắc, đặc biệt khi nền văn hoá bản xứ đang hình thành theo mô hình mới đầy lực hấp dẫn, đã tạo nên những giằng xé dữ dội trong cuộc sống chính trị hàng ngày. Cuộc giằng xé này, đã tạo ra những nhận thức và những đánh giá vội vàng, phiến diện của một số trào lưu có tính tổ chức, đối với nhiều gương mặt có danh của những khuynh hướng chính trị khác. Đặc biệt đối với những nhân sỹ có những xuất xứ khác với hệ tư tưởng của những ngưòi theo chủ thuyết Vô sản, lực lượng đang thai nghén một cuộc cách mạng nổi dậy.

Cần nhận thấy, trong quá khứ, kể cả những phong trào khác nhau, có cùng mục đích đấu tranh nhắm đến yêu cầu giải phóng đất nước khỏi vòng nô lệ, mong muốn xây dựng một cuộc sống tự do, một xã hội dân chủ, đều đã không được những ngưòi theo chủ thuyết Vô sản thừa nhận.

toan-canh-tren-cao-dinh-yen-phu-2016

Toàn cảnh ngôi đình Yên Phụ số 66 phố Phó Đức Chính, quận Ba Đình, Hà Nội. Đây từng là Trường Hậu bổ (Thông ngôn) những năm cuối thế kỷ XIX, và Nguyễn Văn Vĩnh là “Thằng nhỏ kéo quạt” từ năm 1890 đến 1892

Tóm lại, khái niệm: mỗi người có một cách yêu nước riêng, là một khái niệm xa lạ! Chính vì tồn tại quan điểm như vậy, nên tất cả những gương mặt hoạt động xã hội theo những chủ thuyết khác, không cùng với quan điểm của những người theo tư tưởng và học thuyết Vô sản, đều đã bị coi là theo Chủ nghĩa Cải lương (Văn kiện Đảng CS Đông dương) (41).

Những đánh giá vội vàng này, đã tạo một nhận thức tiêu cực đối với các tầng lớp quần chúng ít có điều kiện nhìn nhận xã hội ở một bình diện rộng và sâu, nhất là các chí sĩ cùng thời như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Văn Vĩnh… Vì vậy, thực tế này, một mặt phủ nhận những dâng hiến của những con người điển hình trong hoạt động cách mạng nói chung đối với lịch sử dân tộc. Mặt khác, tạo sự ngờ vực trong nhận thức của người dân về lòng yêu nước của họ.

Trong văn kiện Đảng 1930 – 1945(42), Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng lại đã xác định một lần nữa, tính đối lập của nhóm các nhà yêu nước này. Những đánh giá đáng tiếc đó, đã trở thành định kiến trong một bộ phận những người làm công tác tư tưởng của Đảng cầm quyền. Điều này, đã tồn tại dai dẳng trong quá trình vận động của lịch sử, tạo ra một cách nhìn sai lệch về quá khứ sự thật. Sự hiểu biết sai lệch do không nhìn toàn cục những diễn biến lịch sử, không phải chỉ gây tổn hại về danh dự của những danh sỹ đó ở từng giai đoạn, mà còn ảnh hưởng đến cả sự nhận thức về quá trình hình thành lịch sử đấu tranh văn hoá của một đất nước (Văn học Việt Nam giai đoạn giao thời 1900-1930) (43).

Thậm chí cho đến năm 1999, trên tờ “Nhân dân cuối tuần”, số 35 (552), ngày 29.8.1999, trong mục trao đổi ý kiến của tác giả Nguyễn Thành, khi nêu những nhận định về Nguyễn Văn Vĩnh, có đoạn viết: “… Nguyễn Văn Vĩnh đả kích đích danh Phan Bội Châu, Kỳ Đồng… lại cũng là người yêu nước sao?”. Rồi tác giả tự kết luận:“Vẫn một luận điệu trước sau như một: bảo vệ thực dân, chống người yêu nước!”.

Cách tư duy thiếu tính biện chứng, mang nặng tính chụp mũ như vậy của tác giả bài viết, thật là sự trớ trêu và đáng buồn cho sự hiểu biết của các thế hệ đi sau, vì nó mâu thuẫn với bản chất của mối quan hệ Nguyễn Văn Vĩnh – Phan Bội Châu

.25-ng-gia-thieu

Ngôi nhà 25 phố Nguyễn Gia Thiều, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội của gia tộc Nguyễn Văn Vĩnh. Tại đây, năm 1955, người con trai thứ năm của Nguyễn Văn Vĩnh là Nguyễn Phổ (1913-1997) bị bắt và ở tù 17 năm. Năm 1982, Nhà nước Việt Nam đã truy tặng các quyền lợi chính trị cho ông, vì Nguyễn Phổ là Nhà tình báo ngoại tuyến của QĐND VN

Gần đây, những ai từng quan tâm đến mối quan hệ đặc thù Nguyễn Văn Vĩnh – Phan Bội Châu (hai người cách nhau 15 tuổi), đều biết đến bài điếu khóc của Phan Bội Châu, gửi từ Huế ra đám tang Nguyễn Văn Vĩnh ngày 8.5.1936 tại Hà Nội, bằng cả chữ Hán và bằng cả chữ Quốc ngữ, đã bắt đầu bằng câu:

“Tôi đau cảm quá…”.

Tác giả bài báo và những người có cùng suy nghĩ như ông ta, làm sao biết được, Nguyễn Văn Vĩnh đã bị điều tra viên Bertrand, một chuyên gia khét tiếng về an ninh của Phủ Toàn quyền Đông Dương, đã nghi ngờ và xét hỏi Nguyễn Văn Vĩnh về mối quan hệ với Phan Bội Châu ra sao không? Nguyên văn như sau:

Bertrand:

“Vì sao ông xem Phan Bội Châu như một người đứng trên các quan lại?”

Nguyễn Văn Vĩnh:

“Ngày xưa các quan lại là “phụ mẫu” của dân, nhưng ngày nay họ là viên chức, nghĩa là người làm công ăn lương của người đóng thuế, nhưng họ không phục vụ dân, không phục vụ nhà nước Bảo hộ, ngược lại họ là những kẻ lừa dân. Bằng những việc xấu xa đó, họ đã làm dân chúng căm phẫn Chính quyền. Tôi không thể tôn trọng họ chút nào. Tôi nghĩ rằng, những bậc khoa bảng nói chung, và cụ Phan Bội Châu nói riêng, là những người đứng trên những kẻ đó.

Cụ Phan Bội Châu là một vị anh hùng, bởi lẽ cụ bao giờ cũng chỉ đi theo lý tưởng của mình và không bao giờ chịu khuất phục cường quyền” (44).

(TT Lưu trữ Hải ngoại Quốc gia Pháp CAOM – Mã số SPCE 374)

Một trong những nghi ngại lịch sử mà những người theo lý tưởng Vô sản đã từng đặt vấn đề về tư tưởng chính trị của Nguyễn Văn Vĩnh, đó là thuyết: Trực trị. Song song với Phạm Quỳnh là thuyết: Quân chủ lập hiến.

Thực chất, Nguyễn Văn Vĩnh đã theo đuổi học thuyết Trực trị vào một bối cảnh mà người đời sau rất khó để chia sẻ, vì nó hoàn toàn là sản phẩm tư duy của bối cảnh xã hội chính trị lúc đó. Sau này, khi xã hội nằm trong những biến chuyển khác hẳn với thời đại mà Nguyễn Văn Vĩnh và Phạm Quỳnh tồn tại, người ta đã đứng ở hoàn cảnh xã hội khác hẳn đó, để phán quyết. Đó là một sự khập khễnh.

Suốt hàng thập kỷ qua, nhiều nhà chuyên môn đã luận bàn về học thuyết này của Nguyễn Văn Vĩnh, song chưa có nhà khoa học nào đưa ra nhận định một cách cụ thể. Gần đây, trong một sự kiện mang tính cục bộ, diễn ra tại quê hương của Nguyễn Văn Vĩnh, vào ngày 05/12/2010 (45), nhà nghiên cứu và phê bình văn học Lại Nguyên Ân, đã lý giải trước diễn đàn như sau:

“Cụ Vĩnh đề xuất thuyết Trực trị. Nghe nói, nhiều người hiểu rằng, cụ lệ thuộc vào nước Pháp! Theo tôi, cụ Vĩnh đã biết dựa vào chế độ chính trị thực tế ở Việt Nam lúc đó, tức là: Đặt trực tiếp sự cai trị, không thông qua trung gian là bộ máy quan chức của chế độ quân chủ, vì nó vừa cồng kềnh, vừa ít hiệu quả, và quá nhiều sự nhũng lạm. Nam kỳ là Trực trị, guồng máy hoạt động được, chứ Bắc kỳ không hoạt động được. Đặt chế độ Trực trị thời điểm đó, sẽ được nhiều sự tự do hơn, dân chủ hơn, ảnh hưởng tiến bộ của nước Pháp được rộng rãi hơn. Cụ Vĩnh là người có tính thực tế và tiến bộ sâu sắc… Cụ đã có được một tư tưởng sáng suốt và cấp tiến hơn nhiều các chính khách khác cùng thời!”.

Nhìn lại quá trình tồn tại lịch sử, Đảng Cộng sản Đông Dương, cũng như tiếp theo là Đảng Lao động Việt Nam, đều có quan điểm nhìn nhận sự nghiệp văn hoá, cuộc sống chính trị của Nguyễn Văn Vĩnh theo nguyên tắc của một góc chiếu, và đó không phải là sự đối đầu!

Việc có những cách nhìn tiêu cực về Nguyễn Văn Vĩnh, đã chỉ diễn ra trong những bối cảnh nhất định, do những cá nhân giữ trách nhiệm từng lĩnh vực, của từng thời kỳ trong đời sống văn hoá xã hội, các vị đó, đã không có điều kiện để bao quát các diễn biến lịch sử, nên đã có những đánh giá thiếu công bằng, kèm theo cả những định kiến chủ quan. Thực tế này đã không chỉ sảy ra với một mình Nguyễn Văn Vĩnh.

Thời gian đã tạo điều kiện để Đảng Cộng sản Việt Nam (Đảng kế nhiệm Đảng Cộng sản Đông Dương và Đảng Lao động Việt Nam), thực hiện việc điều chỉnh những nhận định chưa thấu đáo của mình, về các danh sỹ trong đời sống chính trị và xã hội của quá khứ. Đây là điều không chỉ diễn ra đối với lịch sử Việt Nam, mà cả trong lịch sử Thế giới.

Mặt khác, hoàn cảnh xã hội Việt Nam trong suốt thời kỳ từ khi Nguyễn Văn Vĩnh qua đời, đến khi chấm dứt chiến tranh 1975, hoàn toàn là giai đoạn khắc nghiệt với hai cuộc chiến tranh tàn khốc, mà ưu tiên của Đảng cầm quyền là động viên toàn xã hội, dành mọi quan tâm đến việc giành được thắng lợi khi kết thúc chiến tranh, vì vậy, việc xem xét và điều chỉnh những đánh giá lịch sử chưa công bằng trong quá khứ đã không thực sự được chú trọng!

Kết luận: Đảng Cộng sản Đông Dương với Nguyễn Văn Vĩnh, thực chất không phải là sự đối đầu, nhưng là sự khác biệt về tư duy trong phương thức động viên cách mạng của lịch sử.

2. DƯ LUẬN, PHẢN ỨNG XÃ HỘI Ở VIỆT NAM và QUỐC TẾ về ĐỀ TÀI NGUYỄN VĂN VĨNH TỪ NĂM 2000 ĐẾN NAY.

Với độ lùi của thời gian, với những tình cảm sâu nặng của thế hệ cùng thời Nguyễn Văn Vĩnh, với sự biết ơn của những nhóm trí thức của thế hệ kế tiếp, và với những thiện cảm hình thành thông qua những di sản hiện hữu do Nguyễn Văn Vĩnh để lại, năm 2001, Đại sứ quán nước Cộng hoà Pháp tại Việt Nam đã quyết định:

Chương trình Hỗ trợ xuất bản (PAP) được triển khai từ năm 1990, với mục tiêu trợ giúp các nhà xuất bản Việt Nam, thực hiện chính sách dài hạn trong việc xuất bản các ấn phẩm văn học bằng tiếng Pháp, tiếng Việt hoặc song ngữ… từ nay mang tên NGUYỄN VĂN VĨNH. Lý do Đại sứ quán Cộng hoà Pháp quyết định việc Quỹ mang tên Nguyễn Văn Vĩnh có đoạn viết:

“Thông qua các bài báo và các công trình dịch thuật của mình, Nguyễn Văn Vĩnh đã góp phần vào cuộc cách mạng chữ viết tại Việt Nam vào đầu thế kỷ XX, và biến chữ Quốc ngữ thành chữ viết Quốc gia. Nhờ Nguyễn Văn Vĩnh, nhiều thế hệ trẻ Việt Nam đã có thể tiếp xúc với tư tưởng và văn hoá Pháp… dựa trên sự hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau”.

Tháng 6 năm 2002, lần đầu tiên, Hội Khoa học lịch sử Việt Nam đã kết hợp với gia tộc của nhà báo Nguyễn Văn Vĩnh, tổ chức buổi tọa đàm về: “Nhân vật lịch sử – Nhà báo Nguyễn Văn Vĩnh” tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam. Buổi tọa đàm đã trở thành một dấu mốc quan trọng trong dư luận, đặc biệt với những nhà nghiên cứu lịch sử, văn hoá.

ban-tho-cac-nhan-sy-dknt-tai-van-mieu

Bàn thờ các nhân sĩ Đông Kinh Nghĩa Thục tại Văn Miếu

Nhân dịp 85 năm bãi bỏ chữ Nho (1919), và 80 năm (1924) quyết định đưa chữ Quốc ngữ vào dạy tại cấp tiểu học ở Việt Nam, báo Quân đội Nhân dân số 15657, ra ngày Chủ Nhật 28/11/2004, trên trang Văn hoá, đã trang trọng đăng bài “Nhà báo Nguyễn Văn Vĩnh và sự ra đời của chữ Quốc ngữ” của tiến sỹ khoa học Nguyễn Đình Đăng, có đoạn viết:

“… Hàng ngàn người dân Hà Nội đứng chờ trong sự yên lặng vô cùng trang nghiêm trước quảng trường nhà ga để đưa tiễn ông – con người bằng tài năng và sức lao động không biết mệt mỏi của mình đã góp phần làm cho chữ Quốc ngữ trở thành chữ viết của toàn dân Việt”.

Cũng trong năm 2004, Nhà xuất bản Thế giới đã cho ra mắt “Từ điển Văn học – Bộ mới”. Bình luận về nội dung cuốn từ điển này, ngày 18/5/2005, Đài phát thanh BBC đã nhận định: “Việc ra đời cuốn từ điển Văn học bộ mới cho thấy, sự thay đổi của Việt Nam trong việc nhìn nhận lại những nhân vật lịch sử, mà cụ thể là trường hợp Nguyễn Văn Vĩnh được nêu trong từ điển”. 

Báo An ninh Thế giới cuối tháng, số 44 ra tháng Ba năm 2005 với bài “Học giả Nguyễn Văn Vĩnh – Ta tắm ao ta” của tác giả Hoàng Nguyên, cũng nhìn nhận sâu sắc về vai trò nổi bật của Nguyễn Văn Vĩnh trong lịch sử văn hoá nước nhà.

Tạp chí Văn Hiến số 4(48), ra ngày 20/5/2005, trong trang Di sản, đăng bài phân tích khá sâu sắc với nhan đề: “Nguyễn Văn Vĩnh – Từ ‘Bản năng chữ’ đến ý thức về một công cụ văn hoá” của cố giảng viên Học viện Báo chí tuyên truyền Trần Hoà Bình. Trong bài viết, đã phân tích một cách khoa học tư duy bản năng của Nguyễn Văn Vĩnh khi nhận thức được giá trị của chữ viết đối với sự phát triển nền văn hoá của một dân tộc. Tác giả nhận định:

“…Tất cả những tờ báo tiếng Việt (của Nguyễn Văn Vĩnh), đã chứng minh cho một nỗ lực thường xuyên của Nguyễn Văn Vĩnh về phương diện truyền bá chữ Quốc ngữ – điều mà trước đó, trong lời tựa của cuốn sách Tam quốc chí diễn nghĩa (1909) do ông cùng với Phan Kế Bính dịch từ Hán văn ra Việt văn, ông đã viết: ‘Nước Nam ta mai sau này, hay dở cũng ở chữ Quốc ngữ!’. Nói ra điều ấy trong bối cảnh một đất nước có đến 90% dân số mù chữ, đủ thấy tầm nhìn văn hoá của Nguyễn Văn Vĩnh”.

Lần đầu tiên, dư luận ở Việt Nam đã đặt câu hỏi lịch sử đối với trách nhiệm của cả hai Chính phủ Việt Nam và Pháp, về cái chết bất bình thường của Nguyễn Văn Vĩnh ngày 1/5/1936, qua bài viết của nhà báo Xưân Ba, đăng trên Văn nghệ Trẻ – Tết  Đinh Hợi (2007), xin trích đoạn:

“… Cụ đã vỡ nợ rồi gục ngã theo nghĩa đen với cái chết ở bên Lào, bởi sự phối hợp cấu kết nhịp nhàng của thực dân với giới tài phiệt thuộc địa. Có lẽ mai hậu, cái chết của nhà văn hoá, học giả Nguyễn Văn Vĩnh ngày 1/5/1936, vẫn còn là một nghi án?! … Khéo khen thay cho sự giàn xếp của Toàn quyền Pháp lẫn hệ thống cai trị ở Đông dương khi ấy!”.

Năm 2007, với nỗ lực cùng sự đau cảm bất tận, hậu duệ trong gia tộc nhà báo Nguyễn Văn Vĩnh, đã lao tâm khổ tứ, bằng kinh phí tự túc, đã hoàn thành việc xây dựng bộ phim tài liệu dài 4 tập mang tên “Mạn đàm về Người Man di hiện đại”, tổng thời lượng 215 phút, nói về cuộc đời và sự nghiệp của nhà báo Nguyễn Văn Vĩnh. Bộ phim ra đời, đã lập tức dành được sự quan tâm rộng lớn của nhiều tầng lớp nhân dân, đặc biệt là những người quan tâm và yêu mến lịch sử, văn hoá nước nhà, không phải chỉ ở trong nước mà cả trong dư luận  quốc tế. Nhiều tổ chức xã hội đã tiếp cận với bộ phim theo những điều kiện riêng của mình. Bộ phim đã được mời trân trọng, chiếu tại Tỉnh uỷ Tỉnh Quảng Nam, tháng 12/2007 (quê hương Phan Châu Trinh), với tình cảm vô cùng quý hóa của người xem.

gs-dxlam-hue-chi-c-thau-le-nvv

Giáo sư Chương Thâu, Giáo sư Nguyễn Huệ Chi và Giáo sư Đinh Xuân Lâm thắp hương tại bàn thờ cụ Vĩnh (Từ trái sang phải )

Bộ phim cũng được trình bày tại Viện Nghiên cứu Văn học, Viện Nghiên cứu Văn hóa, khoa Báo chí trường Đại học Quốc gia, khoa Việt Nam học, khoa Ngữ văn trường Đại học Sư phạm Hà Nội, khoa Sáng tác trường Đại học Văn hoá… với cả ngàn lượt sinh viên tham dự. Qua các buổi chiếu, bao giờ những người làm phim cũng nhận được sự chia sẻ chân thành, xúc động, và đầy tự hào, khi các sinh viên được biết, trong quá khứ, Việt Nam ta có người tài xuất chúng như Nguyễn Văn Vĩnh.

Tháng Ba năm 2008 , bộ phim đã được Ban Tổ chức kỷ niệm ngày Quốc tế Pháp ngữ (Francophonie), mời trình bày tại Các Viện Đại học, thuộc thành phố Montpellier – Cộng hoà Pháp, với sự có mặt của đại diện Đại sứ quán Việt Nam tại Pháp.

Long trọng hơn nữa, tại buổi chiếu phim, Ban Tổ chức đã công bố bức thư của ngài Tổng Thư ký Hiệp hội các quốc gia nói tiếng Pháp ABDOU DIOUF, gửi tới Hội nghị, ca ngợi Nguyễn Văn Vĩnh. Trong thư có đoạn:

“…Và thật may mắn, khi để kết giao tinh thần của hai thứ ngôn ngữ, Nguyễn Văn Vĩnh, người chiến sỹ trên mặt trận trao đổi kiến thức, đã chọn những tác phẩm mà qua nhiều thế kỷ vẫn giữ nguyên vẹn tính đại chúng .”

Ngày 15 Tháng Tư năm 2009, được sự nhất trí của các bên liên quan, Đại sứ quán nước Cộng hòa Pháp tại Hà Nội, đã quyết định trình chiếu bộ phim tài liệu “Mạn đàm về Người Man di hiện đại” tại Trung tâm Văn hoá Pháp L’Espace. Buổi chiếu diễn ra trong bầu không khí đặc biệt trang trọng, và thiêng liêng. Hầu hết các báo giấy ở khắp cả ba miền, và các trang tin điện tử ở trong nước, đều đưa tin, hoặc bình luận về sự kiện văn hoá này.

Bộ phim tài liệu về con người và sự nghiệp của nhà báo Nguyễn Văn Vĩnh, đạt được sự thành công, hoàn toàn là nhờ vào sự nhiệt tình, sự kính trọng, và lòng ngưỡng mộ của những nhà khoa học, các học giả, những người trân trọng giá trị thực của sự nghiệp văn hóa của Nguyễn Văn Vĩnh, như các vị: Giáo sư Sử học Phan Huy Lê, giáo sư Sử học Đinh Xuân Lâm, giáo sư Sử học Chương Thâu, giáo sư Nguyễn Đình Đầu, giáo sư Âm nhạc Trần Văn Khê, cựu Đại sứ Việt Nam ở Italia – bà Phan Thị Minh (tức Lê Thị Kinh), giáo sư sử học Trịnh Văn Thảo – Đại học Aix Provence, và nhiều nhân sỹ có uy tín khác ở Việt Nam cũng như ở Pháp.

Những phản ứng tích cực của xã hội, thể hiện sự suy nghĩ trân trọng của tầng lớp trí thức Việt Nam trước nhân vật lịch sử đặc sắc của văn hoá nước nhà. Đồng thời, đã tác động một mặt nào đó đến công tác giáo dục, đào tạo của đất nước. Trong ba năm liên tiếp, đã có ba nghiên cứu sinh làm luận văn bảo vệ Thạc sỹ về đề tài Nhà báo Nguyễn Văn Vĩnh:

  1. “Nguyễn Văn Vĩnh trong sự hình thành và phát triển báo chí Việt Nam” của nhà báo Nguyễn Văn Yên (Yên Ba), báo Quân đội Nhân dân. Luận văn được bảo vệ tháng 12.2007 tại Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – ĐH QG Hà Nội.
  1. “Sự nghiệp văn học của Nguyễn Văn Vĩnh và vấn đề tiếp nhận các tác phẩm của ông” của giảng viên Tạ Anh Thư, trường Đại học Sư phạm Bình Dương. Luận văn được bảo vệ tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn ĐH QG TP HCM năm 2009.
  1. Đặc biệt, tháng 10. 2010, tại Học Viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, nghiên cứu sinh, nhà báo Mai Thành Chung, đã đạt 9,7/10 điểm khi bảo vệ đề tài “Nguyễn Văn Vĩnh trong bối cảnh văn hoá Việt Nam đầu thế kỷ XX”.

Cũng trong dòng chảy này, báo Nhân dân ngày 21/4/2009, đã nhìn nhận, bộ Truyện Kiều do Nguyễn Văn Vĩnh dịch sang tiếng Pháp do nhà xuất bản Alexander de Rhodes ấn hành năm 1942, là hiện vật quý của Quốc gia.

Đó là chưa nói đến trên trường quốc tế, Tiến sỹ Christophe Goscha, một giáo sư người Mỹ, giảng viên Đại học Montreal – Canada, với bài viết năm 2001, gồm 26 trang, nhìn nhận tổng quát vai trò lịch sử trong văn hóa Việt Nam của Nguyễn Văn Vĩnh. Chủ đề mang đậm quan điểm lịch sử khoa học có tên: Nguyễn Văn Vĩnh và tính phức tạp của công cuộc hiện đại hóa thuộc địa ở Việt Nam”. Năm 2006, cô Emanuella Effidi, một người Pháp, đã bảo vệ thành công luận văn tiến sỹ tại đại học Paris VII, với đề tài: “Nghiên cứu Đông dương tạp chí 1913”.

Cũng cần phải nói đến tấm lòng của người dân thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng ND TP năm 1999, đã ghi danh Nguyễn Văn Vĩnh khi quyết định đặt lại tên một con đường ở quận Tân Bình, mang tên ông.

Điểm lại các bản báo, trong 10 năm qua đã có gần 50 bài viết, hầu hết đều ca ngợi vai trò của Nguyễn Văn Vĩnh gắn liền với lịch sử báo chí và văn hoá Việt Nam ở thế kỷ XX.

Sự tóm tắt trên đây về thái độ của xã hội trước chủ đề Nguyễn Văn Vĩnh, thật khó có thể nói khác nếu không kết luận, rằng: Xã hội đã tôn vinh Nguyễn Văn Vĩnh theo bản năng của mình. Sự thật này, đã thể hiện đúng bản chất cao quý của loài người, rằng dù sống trong hoàn cảnh xã hội nào, thì cũng không thể thiếu lòng biết ơn của hậu thế đối với những dâng hiến của các bậc tiền nhân, trong sự nghiệp xây dựng đất nước thành một Quốc gia độc lập, tiến bộ!

Đành rằng, trong đời sống hàng ngày, có nhiều sự việc chớ trêu đến mức vô tình, cản trở hoặc làm méo mó nhận thức của xã hội và dân chúng trước một sự thật, hoặc một con người cụ thể của lịch sử, và đó chính là trường hợp nhà báo Nguyễn Văn Vĩnh!

Bất chấp những thăng trầm của lịch sử dân tộc, những xô đẩy của thời gian, kể cả những tính toán có chủ ý trong các bối cảnh chính trị qua từng giai đoạn nghiệt ngã của đất nước Việt Nam, vai trò của nhà báo Nguyễn Văn Vĩnh, những cống hiến hiện hữu trong lĩnh vực văn hoá xã hội mà Nguyễn Văn Vĩnh để lại, vẫn in đậm trong tình cảm, ý thức của các tầng lớp dân chúng ở mọi giai đoạn lịch sử, suốt thế kỷ XX đầy máu và nước mắt ở đất nước Việt Nam.

Nguyễn Văn Vĩnh là nguyên khí của quốc gia!

——————————–

Chú thích:

41.“Văn kiện Đảng Cộng Sản Đông Dương, từ 27/10/1929 đến 07/4/1935” – NXB Sự thật 1964, trang 290.

42.“Văn kiện Đảng 1930 – 1945”, Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng. NXB Hà Nội 1977, trang 52.

43.“Văn học Việt Nam giai đoạn giao thời 1900 – 1930”, NXB Đại học và Trung học Chuyên nghiệp – 1988, trang 41.

44. Xem chú thích số 40.

45. Phát biểu trong buổi lễ gặp gỡ giữa các Nhà Nghiên cứu Văn hóa với Chính quyền Địa phương và Đại biểu các tầng lớp nhân dân xã Phượng Dực – Phú Xuyên, Hà Nội ngày 05/12/2010.

 

                                             ===============

 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *