CÂY CÀNG THẲNG, CÀNG DỄ BỊ CHẶT! – Kỳ 3

 

 

Kỳ 2

(Tiếp theo Kỳ 2)

III. NHỮNG HỆ LỤY CHÍNH TRỊ QUA CÁC THỜI KỲ.

Nguyễn Văn Vĩnh là người Việt Nam sớm có tư tưởng dân chủ. Ông phải chứng kiến và bị giày vò trước sự lạc hậu cùng cực của một dân tộc nô lệ, ông đã quyết định làm mọi khả năng theo cách tư duy trí tuệ mình có, để giải thoát sự khủng hoảng xã hội. Theo Nguyễn Văn Vĩnh, xã hội bế tắc, lối sống lạc hậu, cuộc sống lầm than của người dân là hệ quả của tư duy và lối sống của xã hội phong kiến. Xã hội đã đẩy người dân đến chỗ thiếu hiểu biết, không có tri thức, và đó là nguyên nhân chính của sự khổ cực.

Nguyễn Văn Vĩnh tham gia mạnh mẽ vào các phong trào xã hội, chống lại những hủ tục cổ, bài trừ các tệ nạn của chế độ Phong kiến, theo phương thức viết bài và tổ chức diễn thuyết trước công chúng, nhằm phơi bày những căn cốt xấu xa của xã hội đương thời, vì điều này, ông đã tự biến mình thành kẻ “đáng ghét” trong con mắt của những thành phần được hưởng lợi từ bộ máy cai trị. Nguyễn Văn Vĩnh mặc nhiên là đối tượng bị phản bác gay gắt trong từng giai đoạn, và từng bộ phận các quan lại của xã hội cùng thời.

Song song với việc đó, ông từng là viên chức trong bộ máy các cơ quan đại diện của người Pháp, nói thạo và giỏi tiếng Pháp, thường xuyên giao dịch với những nhân vật quyền thế của hệ thống cai trị, tác phong sinh hoạt phóng khoáng, ảnh hưởng phương Tây, Nguyễn Văn Vĩnh đã bị nhìn bằng con mắt ác cảm, thậm chí đến mức trở thành định kiến của một bộ phận quan lại trong bộ máy chính quyền đương thời.

  1. Triều đình Nhà Nguyễn.

Năm 1907, Nguyễn Văn Vĩnh là ngưòi làm công việc giảng dạy Quốc ngữ và tiếng Pháp, diễn giả của các buổi diễn thuyết và hội giảng trong Đông kinh Nghĩa thục. Việc ca ngợi sự tiện lợi và tiến bộ của chữ Quốc ngữ, đã làm mếch lòng một số các nho sỹ, sản phẩm của nền giáo dục khoa cử Hán học. Quan điểm của Nhà nước Phong kiến Việt Nam: Chữ Quốc ngữ là sản phẩm của ngoại bang, của bọn Tây, bọn xâm lược! Mặc nhiên, việc Nguyễn Văn Vĩnh ca ngợi chữ Quốc ngữ, ủng hộ nền văn minh phương Tây, là theo Tây!

cac-quan-trong-pham-phuc-1915

Chân dung các quan lại Việt Nam trong phẩm phục năm 1915.

Ở các buổi diễn thuyết, Nguyễn Văn Vĩnh từng lên án thậm tệ các tệ nạn và các tập tục lạc hậu của xã hội, ông chứng minh, điều đó không phải chỉ là gánh nặng đối với người dân, mà còn là cơ hội để những kẻ có chức quyền bòn rút, bóc lột dân thường. Phát biểu trong Đông Kinh Nghĩa Thục, ông từng nói:

“Kẻ thù của chúng tôi khá đông đảo. Các hội giảng của chúng tôi về việc ăn của đút, về các hủ tục trong làng xã cũng khiến nhiều quan lại, thông ngôn và kỳ hào chống lại chúng tôi” (22).

Mặc nhiên, Nguyễn Văn Vĩnh trở thành kẻ thù của bộ máy vua quan. Rõ ràng, ông đã chặn đường vơ vét của họ, đồng thời tố cáo sự xấu xa của hệ thống quan lại phong kiến.

Những năm 1910, Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh là những chí sỹ thành danh, có uy tín với cộng đồng xã hội, đồng thời đều là những đối tượng nguy hiểm dưới con mắt của Chính quyền Thực dân. Song, vào thời điểm đó, hai con người này đi theo hai khuynh hướng chính trị khác nhau trong đường lối đấu tranh giải phóng dân tộc.

Phan Bội Châu chủ trương bạo động và cầu viện ngoại bang để giành tự do cho dân tộc. Phan Châu Trinh chủ trưong cải cách xã hội theo con đường dân trí để xây dựng một quốc gia thịnh vượng, và Nguyễn Văn Vĩnh tán thành khuynh hướng của Phan Châu Trinh (23).

Sự khác biệt này, cộng với tính cách bộc trực của ông, đã trở thành lý do để một bộ phận các nhân sỹ nho học kết án Nguyễn Văn Vĩnh, là kẻ chống lại Phan Bội Châu! Với tính cách và tư chất riêng của mình, qua một số bài viết trên tờ báo do chính Nguyễn Văn Vĩnh chịu trách nhiệm (24), ông đã thẳng thắn đến mức trần trụi trong việc bài bác phương thức động viên cách mạng gây đổ máu của Phan Bội Châu, cùng một số vụ bạo động trong dân chúng.

Ở một mặt nhất định, Nguyễn Văn Vĩnh nhìn nhận rằng, vai trò người Pháp ở Việt Nam là hy vọng lớn nhất để phá huỷ hệ thống truyền thống này (phong kiến), chứ không phải là phương tiện để duy trì hệ thống đó!

Năm 1913, thực hiện tiến trình trong chủ trương khai dân trí, Nguyễn Văn Vĩnh tận dụng những cơ sở vật chất và ý đồ của nhà cầm quyền trong chính sách cai trị, ông đã cùng F.H.Schneider, một nhân vật có quyền và có lực, thành lập tờ “Đông dương Tạp chí”. Nguyễn Văn Vĩnh vốn vẫn lo lắng, thậm chí bất bình trước những diễn biến mang tính bạo động của xã hội, chẳng những sẽ không đạt được thắng lợi cần thiết trong việc thay đổi đất nước, mà có thể tạo nên sự hỗn loạn, cản trở con đường và lý tưởng cải cách mà Nguyễn Văn Vĩnh theo đuổi, vốn đòi hỏi sự kiên nhẫn và ổn định.

Nguyễn Văn Vĩnh đã có những bài viết phê phán các cuộc bạo động nhỏ lẻ, là hệ quả của cách suy nghĩ thiển cận và nóng vội, không thể hy vọng giành được thắng lợi bền vững. Thật đáng tiếc, vì ông đã không kịp giúp dư luận và các lực lượng yêu nước khác nhau trong xã hội hiểu đúng tư tưởng của mình, nhất là khi Phan Châu Trinh, người đã xác định:

“Vô bạo động, bạo động tắc tử, vô vọng ngoại, vọng ngoại tắc ngu”).

Cách ứng phó đơn thuần này của Nguyễn Văn Vĩnh, đã dẫn đến những phản ứng bất lợi cho ông, và là lý do để dư luận nhận thức về lý tưởng cách mạng của Nguyễn Văn Vĩnh một cách méo mó. Họ cáo buộc ông thân Pháp, tạo ra thực trạng tình ngay, lý gian. Trong khi, thực chất, các vụ bạo động lúc đó đều đã thất bại, sự trả giá đắt là xương và máu của người dân do sự bất cân đối về lực lưọng, trong khi lịch sử dân tộc đã từng mất quá nhiều máu xương rồi.

anh-lan-dao-hn-la-nguoi-phap-1926Ngài Toàn quyền và quan địa phương Bắc kỳ thăm xưởng làm gốm của ông Nguyễn Văn Tân

Hải Phòng, ngày 16 tháng 3 năm 1926

Tờ Đông Dương Tạp Chí 1913 do Nguyễn Văn Vĩnh là Chủ bút, bao hàm rất nhiều lĩnh vực mà đối với xã hội Việt Nam lúc đó đã được khẳng định, là những sự mới mẻ và tiến bộ. Nội dung căn bản của tờ báo là phổ biến việc phổ cập chữ viết của người Việt được La tinh hóa, hướng đến việc xây dựng một xã hội có nền chính trị dân sự, nền hành chính dân chủ và các khái niệm mới về quyền làm chủ cuộc sống của mỗi một cá thể sống trong xã hội.

Vào giai đoạn cuối những năm 10 ở thế kỷ XX, chế độ phong kiến Việt Nam luôn thể hiện sự đối lập với tư tưởng dân chủ. Triều đình Huế là đại diện cuối cùng của Chủ nghĩa Phong kiến Việt Nam, lúc này, Nhà Nguyễn nhìn nhận Nguyễn Văn Vĩnh như một đối tượng phản diện, vì rõ ràng: Phong kiến là bảo thủ và Nguyễn Văn Vĩnh là tân học. Việc các quan trong triều dâng sớ trình Vua Khải Định đòi chém Nguyễn Văn Vĩnh (1918) vì mắc tội khi quân do dám bắt tay Vua, để những người bảo thủ lấy đó là cái cớ loại bỏ Nguyễn Văn Vĩnh một cách hợp pháp ra khỏi đời sống chính trị, cũng là việc làm dễ hiểu (25).

Hệ thống chính trị mang nặng định kiến và mặc cảm về một người Tân học, Nguyễn Văn Vĩnh, kẻ luôn đòi cải cách, đòi loại bỏ những cái cũ lạc hậu trong xã hội, thường xuyên chứng minh tính bù nhìn của bộ máy vua quan, thậm chí sau sự kiện trên, mâu thuẫn đôi bên ngày càng sâu sắc. Từ đó, ông đã từ chối cả việc nhận Kim khánh do Vua ban, một điều xa lạ với xã hội đương thời, với lý do: “Xin giữ cho cái ngực được ‘trinh’ suốt đời”(26).

Năm 1930, sau hàng loạt những năm tháng hoạt động tích cực trong lĩnh vực báo chí và xuất bản, cộng với sự trau dồi những kiến thức tiến bộ về dân chủ và tự do theo xu hướng đối lập với chính sách thuộc địa già cỗi của chính quyền thực dân, vô hình chung, Nguyễn Văn Vĩnh đã  thực sự trở thành vật cản trong chính sách cai trị của Vương triều. Hàng loạt các cuộc mặc cả giữa chính quyền với Nguyễn Văn Vĩnh, yêu cầu ông phải chấm dứt việc truyền bá những tư tưởng tiến bộ và dân chủ, thông qua các sản phẩm văn hoá của mình. Đặc biệt, họ kiên quyết đòi Nguyễn Văn Vĩnh không được viết các bài đả phá bộ máy quan lại của Triều đình Huế! (27). Chính quyền đương thời đã phải dùng cả chiêu bài bổ nhiệm Nguyễn Văn Vĩnh làm Thượng thư (Bộ Trưởng) trong Triều đình, nhằm kéo ông xa rời sự nghiệp cầm bút. Nguyễn Văn Vĩnh đã từ chối tất cả!

Một số các sỹ phu, sản phẩm của nền giáo dục Nho học Phong kiến, đã từng đả phá Nguyễn Văn Vĩnh gay gắt, và họ cũng đã thất bại vì không ngăn cản được sự nghiệp Tân học của Nguyễn Văn Vĩnh, đi tới chỗ oán giận và kết án Nguyễn Văn Vĩnh là kẻ phản bội lại truyền thống dân tộc, cắt đút mạch văn hoá Hán Nôm, mà họ tuyệt nhiên không nhận thức rằng, việc động viên cuộc cải cách văn hoá đầu thế kỷ XX ở Việt Nam là một đòi hỏi tất yếu, mang tính quy luật của sự phát triển đối với lịch sử dân tộc (28).

Kết luận: Triều đình Nhà Nguyễn không chấp nhận Nguyễn Văn Vĩnh!

  1. Người Pháp thực dân và Chính phủ Thuộc địa.

Việc xuất hiện Nguyễn Văn Vĩnh trong xã hội Việt Nam giai đoạn cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX là điều hoàn toàn không có tính dự báo, bởi lẽ, xuất thân của Nguyễn Văn Vĩnh thật sự là hiện tượng trái với thông lệ, “tập quán” xã hội. Gia đình sinh ra Nguyễn Văn Vĩnh hoàn toàn là những người dân thường, không có ai trong dòng họ từng đỗ đạt, hoặc có chân trong hệ thống quan trường của xã hội đương thời.

Trong con mắt cai trị của các chế độ xã hội ở bất kỳ giai đoạn lịch sử nào, quan niệm:“con vua thì lại làm vua, con sãi ở chùa thì quét lá đa”, đã trở thành “quy luật” trong quan niệm dân gian. Việc Nguyễn Văn Vĩnh trở thành con người xuất sắc trong học hành, là sự ngẫu nhiên vượt ra khỏi sự tưởng tượng của xã hội đương thời. Nguyễn Văn Vĩnh đã không mảy may được quan tâm, hậu thuẫn bởi bất kỳ một lực lượng xã hội nào đó, mang tính “chăm sóc”, hoặc “nuôi dưỡng” đào tạo, để phục vụ những mục đích cụ thể cho thể chế.

khai-dinh-sang-phapChuyến công du sang Pháp của vua Khải Định năm 1922.

Chính quyền Thực dân cũng đã vô cùng ngạc nhiên khi sử dụng Nguyễn Văn Vĩnh(29). F.H.Schnaider có mặt ở Việt Nam từ 1882, đã từng tiếp cận và hợp tác thử nhiệm với cả Trương Vĩnh Ký (1837-1898) và Huỳnh Tịnh Của (1834-1907) của Đàng Trong, với mục tiêu phát triển nghành báo chí và xuất bản, song ông ta đã thất bại, vì không xây dựng được văn hoá chữ Việt được La tinh hóa trở thành phổ thông. Cho đến 20 năm sau (1902), F.H.Schnaider mới “giật mình” phát hiện ra Nguyễn Văn Vĩnh. Từ 1904 đến 1906 là giai đoạn căng thẳng trong đời tư của cậu thanh niên mới qua tuổi hai mươi, khi phải đối mặt với sự lựa chọn một con đường sự nghiệp mang tính sinh tử của mình, do cậu “được” F.H.Schneider tiếp cận và thuyết phục.

Nguyễn Văn Vĩnh chỉ có quyết định dứt khoát việc lựa chọn con đường làm báo, sau khi dự Hội chợ đấu xảo Mác Xây (1906). Ông đã tự nguyện từ bỏ cuộc đời là công chức trong bộ máy hành chính lúc 24 tuổi (Toà Đốc lý Hà Nội), để bắt đầu sự nghiệp làm báo, chính xác là: Làm báo tự do! Chỉ có làm báo tự do, ông mới không bị quá lệ thuộc vào sự sai khiến của hệ thống chính trị. Việc phải hợp tác với Schneider, người có đầy đủ những nền tảng như: nghiệp vụ, cơ sở vật chất, nhà in, nguồn tài chính… và ông ta là người Pháp, trong khi Nguyễn Văn Vĩnh là ai?! Một viên chức thôi việc, không tài sản, không văn bằng chứng chỉ, không con ông cháu cha….

Cái duy nhất Nguyễn Văn Vĩnh sở hữu: đó là trí tuệ, sự thông minh kiệt xuất và lòng huý tâm văn hoá, cùng với tình yêu bất diệt đất nước An Nam của mình. Vì thế, ông đã thai nghén một mục đích quá lớn, là xây dựng một bản sắc văn hoá riêng cho đồng bào của ông, cho người dân An Nam. Cuộc “kết hôn văn hoá” này, như 2 nửa cần nhau, dựa vào nhau để… sử dụng, tận dụng và lợi dụng lẫn nhau. Một bên là lý tưởng chói sáng của Nguyễn Văn Vĩnh, một bên là sứ mạng của bản hợp đồng mà Schneider đã ký và đã nhận tiền.

Sau sự kiện đàn áp phong trào Đông kinh Nghĩa thục (1907), Nguyễn Văn Vĩnh đã bị nhà cầm quyền đe dọa rằng:“Đảo Côn Lôn còn rộng chỗ lắm đấy …!”. Việc kết án và bắt Nguyễn Văn Vĩnh lúc đó là không thể, vì ông là hội viên Hội Nhân quyền Pháp! Bắt Nguyễn Văn Vĩnh sẽ động chạm đến rất nhiều các nhân sỹ, các tổ chức tiến bộ của Pháp. Hơn nữa, dù sao mâu thuẫn giữa Nguyễn Văn Vĩnh và Bộ máy cai trị chưa đến mức phải huỷ hoại mối quan hệ đôi bên, và cuộc chơi “lợi dụng” lẫn nhau mới chỉ là bắt đầu…

Đó là chưa nói đến khả năng tự bảo vệ, cũng như các mối quan hệ cá nhân mà Nguyễn Văn Vĩnh đã dành được thiện cảm với một số gương mặt người Pháp có uy tín trong quá trình làm công chức ở các toà sứ, vào những giai đoạn khác nhau trước đó.

Trước những căng thẳng diễn ra trong biến cố Đông kinh Nghĩa thục, Nguyễn Văn Vĩnh luôn sẵn sàng đối mặt với bộ máy cai trị, bởi lẽ Nguyễn Văn Vĩnh vẫn tin một cách giản dị (cũng như Phan Châu Trinh), rằng: Đông Kinh Nghĩa Thục là để nâng cao dân trí, mở mang văn hoá, và đó cũng chính là cam kết của Chính phủ Bảo hộ!!! Không dễ dàng để Nguyễn Văn Vĩnh dám kết án việc đàn áp Phong trào Đông Kinh Nghĩa thục của Chính quyền với ngài Hause – Đốc lý Hà Nội rằng:

“Tôi xin phép được nói, là biện pháp vừa thi hành (của Nhà Cầm quyền) là vô chính trị!” (30)

Phải nhiều năm sau, những người quan sát mới được thấy sự dối trá trong đường lối chính trị thực dân. Rất có thể, ngày ấy, vào giai đoạn đó, cả Phan Châu Trinh và Nguyễn Văn Vĩnh cũng chưa có “cơ hội” để hiểu rõ bản chất của Chủ nghĩa Thực dân.

Bất chấp những sự cố chính trị đó, F.H.Shcneider vẫn kiên nhẫn duy trì mối quan hệ với Nguyễn Văn Vĩnh. Hai tờ báo tiếng Pháp ra đời năm 1908 và 1910 là minh chứng cụ thể. Cho dù, cả hai tờ báo này đều không đạt được thành công như mong muốn của cả đôi bên. Nguyễn Văn Vĩnh có phần thất vọng, cụ thể là chấp nhận vào Sài Gòn tham gia vào Ban biên tập tờ “Lục tỉnh Tân văn”. Nhưng nhiệt huyết của Nguyễn Văn Vĩnh vẫn luôn luôn ở cao độ (Shcneider nắm bắt được điều này), và khi có thời cơ, Shcneider đã hướng tới việc tổ chức tờ “Đông Dương Tạp chí” 1913.

bao-an

Tờ báo định mệnh “Nước Nam mới”, ra đời năm 1931,

bằng chứng cho sự đối đầu giữa Nguyễn Văn Vĩnh và Nhà Cầm quyền Thực dân.

Trang nhất báo L’Annam Nouveau số 1 ra ngày 21.1.1931

Báo  L’ANNAM NOUVEAU tôn trọng chính quyền đã được lập nên, trọng con người của tất cả những đại diện của nó, nhưng không sợ ai và không nịnh ai.

(L’ANNAM NOUVEAU Respecte l’autorite Étabelie danns la personne ces tous ses representants mais ne craint personne et neflatte personne).

Những gì Nguyễn Văn Vĩnh đã thể hiện trong 6 năm trước đó, đã hấp dẫn được đa số các chí sỹ cùng thời. Đông Dương Tạp chí là bước ngoặt lớn của lịch sử báo chí bản địa, chứa đựng đầy đủ ý đồ của cả đôi bên, thể hiện cuộc sống trí thức của xã hội, và là “nhu cầu” của cả hai phía. Đó là lý do mà Ban trị sự của tờ báo đã quy tụ được toàn bộ các nhân sỹ hàng đầu của Bắc và Trung kỳ tham gia. Giá trị của Đông dương Tạp chí còn được Chính quyền thuộc địa duy trì cả đến sau khi Nguyễn Văn Vĩnh qua đời, và họ đã dùng làm con bài xoa dịu nỗi đau sau cái tang Nguyễn Văn Vĩnh 1936, bằng việc đặt người con trai thứ hai của ông là Nguyễn Giang (1904- 1965) làm chủ bút tờ tạp chí này.

Sau năm 1915, xuất hiện sự phân hoá trong bộ máy Ban biên tập “Đông dương Tạp chí”, Nguyễn Văn Vĩnh càng thể hiện bản lĩnh của một người làm báo đích thực. Ngoài việc tiếp tục cho ra những tờ báo mang đậm bản sắc riêng của người Việt như:“Trung Bắc Tân văn”, “Học báo”, “Trung Bắc Chủ Nhật”. Nguyễn Văn Vĩnh đã dám bộc lộ tính độc lập, không chịu sự chi phối gắt gao của chính thể. Kết quả này đã dẫn Nguyễn Văn Vĩnh đi xa hơn, say mê hơn trong sự nghiệp làm báo và xuất bản.

Năm 1922, một lần nữa, Nguyễn Văn Vĩnh lại có cơ hội đến Pháp, cũng để dự Hội chợ Thuộc địa. Đạt được những kết quả liên tiếp trong lĩnh vực văn hoá, đặc biệt là ngôn ngữ và xuất bản, Nguyễn Văn Vĩnh đã không có thái độ thoả mãn, trái lại, ông càng tự tin hơn. Ông quyết định cách mạng công nghệ, thiết bị in ấn và phát hành. Trong chuyến đi lần thứ hai này, Nguyễn Văn Vĩnh đã tìm đến nước Đức để hiểu, để học, thậm chí dám đặt hàng mua dây chuyền kỹ thuật công nghệ in ấn thế hệ mới, nhằm thay thế dây chuyền kỹ thuật cũ, do Schneider đã sử dụng qua hàng chục năm.

Cũng năm 1922 này, F.H.Schneider đã chính thức từ giã Việt Nam, sau gần 40 năm tồn tại.

Những diễn biến vừa nêu, đã trở thành sự cộng hưởng trong lý tưởng của Nguyễn Văn Vĩnh, vì sau một quãng đường dài trong sự nghiệp của mình, Nguyễn Văn Vĩnh đã yên tâm rằng, lý tưởng khai dân trí của mình đang được thực hiện có kết quả. Ông luôn nhắm tới nhận thức giống như Phan Châu Trinh rằng: chúng ta nghèo khổ và mất tự do, không phải vì số phận, mà vì dân ta thiếu tri thức. Hãy giúp mọi người có được tri thức, có tri thức, họ sẽ tìm được con đường hạnh phúc cho chính mình. Tư tưởng của Nguyễn Văn Vĩnh ngày càng trở nên phấn khích, vì các kết quả đạt được trong đời sống văn hoá xã hội, cụ thể như:

– Chữ Quốc ngữ đã được sử dụng chính thức trong cả nước. Văn học chữ Quốc ngữ đã hình thành, thông qua việc hàng loạt các tờ báo in tiếng Việt của các tổ chức khác nhau xuất hiện trong cả nước (31).

– Những tác phẩm văn học, lý luận, triết học, phê bình… của nền văn hóa Pháp và thế giới được dịch ra tiếng Việt, đã chứng minh được sức sống của ngôn ngữ mẹ đẻ. Rõ ràng, chữ Quốc ngữ đủ sức thay thế chữ Hán và chữ Nôm, kể cả văn xuôi, văn vần và các tác phẩm nghệ thuật sân khấu đỉnh cao. Tất cả đã trở thành chất kích thích, sinh sôi nảy nở ra hàng loạt các loại hình văn hóa nghệ thuật như: Thơ mới, kịch nói, điện ảnh, sách, báo…. Quan trọng hơn cả, những cái mới này, đã trở thành cao trào, cơ sở cho sự phát triển của nghành công nghiệp in ấn và xuất bản.

– Những thành quả này, đã thúc đẩy Nguyễn Văn Vĩnh táo bạo nghĩ đến việc cho ra đời, nghành công nghiệp tri thức ở một đất nước nông nghiệp truyền thống. Nguyễn Văn Vĩnh quyết định thành lập Trung tâm Âu Tây tư tưởngLa pensée de l’Occident (32).

Suốt cả cuộc đời, sự nghiệp, Nguyễn Văn Vĩnh luôn coi mục tiêu tối thưọng, là hãy giúp mọi người hiểu và nhận thức được thế nào là:“Tư duy lô zích Châu Âu” (33). Ông lấy Trung tâm  làm cái nôi để phát triển trí tuệ cho người dân bản xứ, thông qua việc trau dồi tri thức. Việc dồn mọi nỗ lực vào quyết tâm xây dựng Trung tâm, là quyết định táo bạo và tai hại nhất trong sự nghiệp của Nguyễn Văn Vĩnh, vì ông đã không quan tâm tới:

– Bản chất của Chủ nghĩa Thực dân với việc ngu dân hóa, đó là một chiến lược.

– Mục đích ban đầu trong chính sách cai trị của Thực dân Pháp, họ muốn chữ Quốc ngữ thay thế Hán Nôm, vì họ đã thất bại trong việc phổ cập Pháp văn đối với người bản xứ. Thực tế, chữ Quốc ngữ dễ học và điều này giúp việc cai trị người dân bản xứ thuận lợi hơn.

– Chính quyền thực dân cần kìm hãm sự phát triển trí tuệ của dân tộc An Nam, mà Nguyễn Văn Vĩnh đã ngồi được lên chiếc ghế của một kẻ cầm đầu, vượt xa những toan tính ban đầu của chính họ.

– Chính quyền Thực dân đã nhìn thấu tâm can của Nguyễn Văn Vĩnh, kẻ đã sống mái trong quyết định thành lập một trung tâm nuôi dưỡng và phát triển tri thức, cây cầu nối với văn minh nhân loại, để rồi từ đó, kẻ bị trị sẽ có khả năng nhìn thấu tâm đen của kẻ cai trị, điều này sẽ đe dọa, làm lung lay vị thế của kẻ cai trị. Với bản chất quỷ quyệt, Nhà Cầm quyền, thay vì ngăn cản Nguyễn Văn Vĩnh như một kẻ “thân Pháp”, họ đã đồng ý để Nguyễn Văn Vĩnh vay một khoản tiền khổng lồ từ hệ thống tài chính của hệ thống cai trị.

– Bộ máy cai trị phát hiện chính xác, sự liều lĩnh của Nguyễn Văn Vĩnh, khi dồn toàn bộ cơ sở vật chất và tài chính do F.H.Schneider giao lại, đem thế chấp với Ngân hàng Đông Dương (34), đầu tư cho việc đổi mới về căn bản toàn bộ dây chuyền công nghệ in ấn, xuất bản, mục đích để có những sản phẩm mới chất lượng hơn, số lượng lớn hơn, phục vụ cho mục tiêu truyền bá kiến thức của Trung tâm. Nhà cầm quyền đương nhiên đã giành vị thế của kẻ nắm đằng chuôi về tài chính trong quan hệ với Nguyễn Văn Vĩnh.

– Nguyễn Văn Vĩnh chưa bao giờ thể hiện là người muốn làm chính trị, và biết làm chính trị, “Nguyễn Văn Vĩnh, nhà báo có tài nhưng lại là nhà chính trị vụng về” (Albert Sarraut).  Nguyễn Văn Vĩnh chỉ thuần túy lao theo lý tưởng của mình, tuyệt nhiên không hề tính đến những ý đồ chính trị nham hiểm của Nhà Cầm quyền. Thời nay, ngưòi ta có thể kết luận, đó là sự ngây thơ của Nguyễn Văn Vĩnh.

Suốt giai đoạn cuối những năm 20, Nguyễn Văn Vĩnh dồn toàn tâm, toàn ý vào việc xây dựng Trung tâm. Ông ra sức dịch, xuất bản và viết bài, làm nguyên liệu cho chủ trương khai hóa của mình. Ông càng viết, càng chứng minh vốn tri thức uyên thâm, tư duy ngay thẳng, ông càng va đập mạnh với đường lối và chủ trương cai trị của Chính phủ Thuộc địa và Triều đình Nhà Nguyễn.

Năm 1930, trước hàng loạt những hệ quả trong đời sống văn hoá và tư tưởng mà Nguyễn Văn Vĩnh tạo nên trong xã hội, thông qua việc xuất bản, truyền bá các tư tưởng triết học tiến bộ phương Tây, mà ông tiếp thu được từ chính nền văn minh và kho tàng tri thức của nước Pháp, Chính quyền Thục dân hết bình tĩnh, đã quyết định dùng mọi biện pháp ngăn chặn, bẻ gẫy ngòi bút của Nguyễn Văn Vĩnh.

Năm 1931, trước sự dồn ép, thương lượng, thậm chí đe dọa từ phía Nhà Cầm quyền, Nguyễn Văn Vĩnh đành chọn việc viết bằng tiếng Pháp. Ông cho ra đời tờ báo định mệnh “L’Annam Nouveau – Nước Nam mới” (In bằng tiếng Pháp không phải xin phép) (36). Nguyễn Văn Vĩnh, thông qua tờ báo tiếng Pháp này làm mặt trận sống còn, để bày tỏ chính kiến, quan điểm chính trị của mình với công chúng và chính thể. Ông hoàn toàn tự tin vào những lập luận chính trị của mình, khi viết hàng loạt bài phê phán xã hội, phê phán đường lối của Chính phủ, đến mức không hề bận tâm tới sự “cay cú” của Nhà Cầm quyền.

Với tờ báo này, cuộc đấu tranh nghị trường giữa Nguyễn Văn Vĩnh với Nhà Cầm quyền đạt đến mức báo động. Vì in tiếng Pháp, ở mức độ nào đó, tờ báo đã bộc lộ sự hạn chế trong việc chia sẻ chính kiến với độc giả là người Việt, nhưng là sự đối mặt trực diện với Chính phủ Thuộc địa cũng như Triều đình Huế. Nó đã trở thành diễn đàn tố cáo trước dư luận và chính trường nước Pháp, những chính sách cằn cỗi và bần cùng hoá dân tộc Annam. Vậy nên, mẫu thuẫn giữa ông và Nhà Cầm quyền về chính trị đã đạt đến tột đỉnh.

Năm 1935, Chính quyền đương thời coi đó là giọt nước tràn ly, đã ra tối hậu thư đòi Nguyễn Văn Vĩnh phải đi tù với lý do nợ quá hạn! Chính quyền Thực dân đã sử dụng vai trò nắm đằng chuôi trong vấn đề tài chính, điều mà họ đã dự kiến từ khi đồng ý để Nguyễn Văn Vĩnh ký khế ước vay nợ ngân hàng Đông đương năm 1926. Việc xiết nợ là vũ khí lợi hại của giới tài phiệt thực dân, mặc dù khế ước có thời hạn 20 năm.

Chính phủ Thuộc địa còn sảo quyệt đến mức tạo ra việc xuất hiện một nhân vật có tên là Amédée Climente, người Pháp có gốc ở đảo Coóc, lấy vợ ngưòi Việt ở tỉnh Hưng Yên, và cũng đang trong cơn nợ nần bê bối, tìm đến Nguyễn Văn Vĩnh “rủ nhau sang tìm vàng ở Sê Pôn – Lào” theo gợi ý của Chính quyền! (37).

Sự việc Nguyễn Văn Vĩnh đi “tìm vàng để trả nợ”, tạm thời chấm dứt các hoạt động xã hội, mà hệ trọng nhất là việc dừng viết, diễn ra đầu năm 1936. Trong lúc Nguyễn Văn Vĩnh đang “tưng bừng” với 11 bài phóng sự “Một tháng với những người tìm vàng”(38), nguời vợ ba là Suzanne Vĩnh, đã gửi một bức thư vào tận Sê Pôn, đề nghị ông quay về Hà Nội khẩn cấp, nhanh chóng rời bỏ công việc tìm vàng, vì: đã “thoả thuận” xong với những nhân vật tai mắt trong bộ máy cầm quyền, sẽ thoát được việc xiết nợ, thậm chí cũng sẽ không phải ngồi tù!

Chính vào thời khắc này, người ta đã thấy sụ vắng mặt “vô tình” của Climente (bạn đường với Nguyễn Văn Vĩnh) ở Sêpôn. Ngày 1.5.1936, người ta đã tìm thấy sau một đêm mưa gió thân xác Nguyễn Văn Vĩnh, trên chiếc thuyền độc mộc, một thân một mình, cơ thể tím đen, đến mức, khi người nhà đến nơi, còn không nhận ra được?!

Người ta loan báo rằng, Nguyễn Văn Vĩnh đã chết vì sốt rét và kiết lỵ!(39). Chính phủ Thuộc địa đã đồng ý để Hội Tam điểm (Franc – Maconnerie) đứng ra tổ chức đưa thi hài Nguyễn Văn Vĩnh về Hà Nội để làm tang. Cùng thời gian đó, Chính phủ đã nhanh chóng hoàn tất việc bán hoá giá toàn bộ tài sản cùng những cơ sở vật chất của Trung tâm Âu Tây tư tưởng, toà soạn báo L’Annam Nouveau, đẩy toàn bộ gia đình Nguyễn Văn Vĩnh vào chỗ khổ đau, tan nát. Họ đã kết thúc sự nghiệp của Tân Nam tử khi ông mới 54 tuổi!

Như vậy, Chính phủ Bảo hộ đã thực sự thất vọng với Tân Nam tử Nguyễn Văn Vĩnh, vì sau một chặng đường dài, sự “hợp tác” đã không “thuần dưỡng” được Nguyễn Văn Vĩnh, để trở thành công cụ đắc lực cho chính sách cai trị lâu dài, đặc biệt trong lĩnh vực văn hoá tư tưởng. Ngược lại, đã “giúp” Nguyễn Văn Vĩnh thành công trong việc xây dựng nền văn hoá chữ Quốc ngữ cho người dân An Nam, tạo tiền đề để phát huy tính trí tuệ, mở ra xu hướng đòi độc lập cho dân tộc mình, làm tăng khả năng nhận thức về giá trị của xã hội khoa học, của triết học, và biện chứng học, tác động mạnh đến tư duy đòi bình đẳng, nhân quyền, đe doạ sự tồn vong của Chủ nghĩa Thực dân Pháp tại Việt Nam.

Chính quyền thực dân đã thực sự lo lắng về Nguyễn Văn Vĩnh từ 1926, khi Nguyễn Văn Vĩnh đã vô tư bộc lộ nguyện vọng chính trị của mình với điều tra viên của Chính phủ Thuộc địa – ngài  Bertrand – trong buổi câu lưu của nhà cầm quyền, vào hồi 8h30, ngày 15/5/1926. Ông đã nói như sau:

 “Trong chuyến thăm Huế tháng Một vừa rồi (1926), tôi đã gặp cụ Phan Bội Châu và nhiều nhân vật chính trị An Nam. Chúng tôi đã thoả thuận thành lập ở Đông Dương một Đảng Cộng hoà tiến bộ. Chúng tôi đã soạn thảo Điều lệ và đã trình lên quan Toàn quyền để ngài chuyển tới quan Thống sứ Bắc kỳ và quan Khâm sứ Trung kỳ để xem xét…”(40).

Kết luận: Việc Chính quyền Thực dân phải loại bỏ Nguyễn Văn Vĩnh, là chuyện dễ hiểu!

                                              ====================

Chú thích:

  1. Trích thư Nguyễn Văn Vĩnh gửi Hauser, Đốc lý Hà Nội ngày 11/12/1907 trình bày sự tan vỡ của Đông Kinh Nghĩa Thục. Nguồn TT Lưu trữ Hải ngoại Quốc gia Pháp (CAOM)
  1. Xem chú thích 5

 24. Đông Dương tạp chí số 5, ngày 12/7/1913.

  1. Theo lời kể của Phạm Huy Lục (con trai nhà Nho Phạm Huy Hổ). Luật pháp nghiêm cấm việc động chạm đến thân thể nhà vua, và quy định đó là tội khi quân.

Nguyên nhân sự việc rất đơn giản: thay vì “vái” theo luật lệ của Triều đình, Nguyễn Văn Vĩnh đã dám bắt tay Vua Khải Định, khi nhà vua tới Hà Nội yết kiến Toàn quyền Đông dương Anber Sarraut (1872-1962), thay vì “vái” theo luật lệ của Triều đình. (Phản ứng của vua Khải Định khi nhận bản tấu của các quan trong triều về việc phải chém kẻ mắc tội khi quân, nhà vua nói:“Chuyện có thế mà các ông đòi chém người ta, thật kỳ quá!”).

– Kỷ niệm sự kiện này, Nguyễn Văn Vĩnh đã đặt tên người con trai thứ sáu của mình là Nguyễn Kỳ.

  1. Xem chú thích 25.

 27. Trong cuốn “40 năm nói láo”, trang 81:“… (Ông) dịch miệng “Telemac phiêu lưu ký” cho Đông Lĩnh Dương Phượng Dực ngồi ám tả, trong khi chính ông quay sang nói chuyện với ông Tụng về chuyện Thống sứ Pháp có ý muốn giúp ông tiền bất cứ lúc nào, bao nhiêu cũng được, miễn là ông (Vĩnh) tạm gác ý kiến đả kích Pháp và ngừng chống nhà Vua”.

28. Nhân ngày Nhà Giáo Việt Nam 20/11/2007, TT Văn Miếu Quốc tử giám và TT Minh Triết Việt, đã tổ chức Lễ tưởng niệm 100 năm các nhà giáo Đông Kinh Nghĩa Thục. Trong diễn văn khai mạc có viết:”Họ là những sĩ phu yêu nước thắp sáng tư tưởng Chấn hưng – Duy tân – Dân tộc, là những bậc thầy góp sức đặt nền móng xây dựng một triết lý giáo dục tự lập, tự nguyện, học tinh hoa dân tộc và thế giới để dạy nên những con người Việt Nam hiện đại.”

 29. Vayrac – viên chức cao cấp phụ trách báo chí Phủ toàn quyền Đông Dương đánh giá về Nguyễn Văn Vĩnh trong một một báo cáo gửi toàn quyền Đông Dương năm 1937 có viết:”Sự thiếu hiểu biết của người Pháp đối với người Annam chắc chắn là ghê gớm, còn sự thiếu hiểu biết của người Annam đối với chúng ta thì thật kỳ dị, hoang đường, không thể tưởng tượng được … tôi đã có may mắn kết bạn với một số người Annam xuất chúng, nhất là đối với Nguyễn Văn Vĩnh, nhà văn Annam lớn nhất trong thời đại chúng ta. Chính ông đã khiến cho tôi dần ước lượng được cái vực thẳm ngăn cách chúng ta với nhân dân Annam và chúng ta tự hỏi bằng cách nào để đi tới chỗ xóa được sự không thông cảm toàn diện này” (người dịch Đào Hùng – 2007).

  1. Xem chú thích 22

        – Tạp chí Nam phong 1917

       – Đại Việt tạp chí 1918

       – Ngọ báo và Thực nghiệp Dân báo 1920

       – Tạp chí Hữu Thanh 1921

       – Trung lập báo 1923

       – Annam tạp chí 1926

       – Báo Tiếng dân 1927

       – Báo Đông Pháp 1930.

       – Nhóm Tự lực Văn đoàn.

  1. Tòa nhà Hồng Vân – Long Vân, số 1- 3 phố Hàng Gai, quận Hoàn Kiếm, nhìn ra quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục – Hồ Hoàn Kiếm, Hà Nội.
  2. Mệnh đề này được nhắc lại nhiều lần trên báo “Trung bắc Tân văn”, 1917-1919

 34. Ngân hàng Đông Dương Thành lập năm 1875. Lãi suất năm 1928 là 56 triệu Franc (Tạp chí Xưa và Nay số 71 tháng 1/2000).

 35. Albert Sarraut – Toàn quyền Đông Dương lần thứ II, 1917-1919.

 36. Quan điểm này được in trên trang nhất của tờ “L’ANNAM NOUVEAU” (số 1 ra ngày 21/1/1931):

      “Người ANNAM sẽ xuất bản một cơ quan ngôn luận viết bằng tiếng Pháp:

  1. Để tự mình làm cho dân chúng Pháp biết mình rõ hơn.
  2. Để nói lên những điều mình suy nghĩ và những điều mình được quyền mong muốn.
  3. Để đảm bảo những quyền lợi của mình.
  4. Để tạo ra mối quan hệ bạn bè và đoàn kết giữa tất cả những người nói và viết tiếng Pháp.
  5. Để đem lại sự giúp đỡ thẳng thắn, nhưng xứng đáng với công lao của nước Pháp, đồng thời làm việc để giành lại Độc lập cho nhân dân An Nam.
  6. Để đấu tranh chống những lạm quyền bất cứ từ đâu đến.
  7. Để làm sáng tỏ cho dư luận Pháp biết về những thực tế ở đất nước An Nam, mà vì chính trị và quyền lợi của một số người, lúc nào cũng bị làm sai lệch đi.

Báo L’ANNAM NOUVEAU tôn trọng chính quyền đã được lập nên, trọng con người và tất cả những đại diện của nó, nhưng không sợ ai và không nịnh ai”.

 37. Bài “Cuộc gặp gỡ tình cờ” trên “L’Annam Nouveau” số 528, 529 ngày 08/3/1936.

  1. Báo “L’Annam Nouveau” từ số 530 ngày 15/3/1936 đến số 538 ngày 12/4/1936

39. Báo “L’Annam Nouveau” ngày 05/5/1936.

 40. TT Lưu trữ Hải ngoại Quốc gia Pháp (CAOM) mã số – SPCE 374, người dịch Nhà giáo Đỗ Ca Sơn – 2011 (chiến sỹ Đồi A 1- Điện Biên Phủ)

 

                                         ————————————

 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *