LỊCH SỬ KHÔNG NGHỈ HƯU – Kỳ 2

Kỳ 1

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

——————————-

                                                                   Hà Nội, ngày 28 tháng 9 năm 2011

Kính gửi:  Bà IRINA BOKOVA,

Tổng Giám đốc UNESCO

Về việc: Xem xét và đánh giá đúng vai trò lịch sử của nhà báo, dịch giả Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936) trong lịch sử giao lưu văn hóa Đông –Tây đầu thế kỷ XX ở Việt Nam.

Kính thưa Bà!

Tôi là Nguyễn Lân Bình, sinh năm 1951 là công dân nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và là cháu nội của nhà báo Nguyễn Văn Vĩnh. Tôi gửi thư này tới Bà và các cộng sự của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hiệp quốc với mong muốn làm sáng tỏ vai trò lịch sử có một không hai của nhà báo Nguyễn Văn Vĩnh trong sự nghiệp xây dựng và kết nối nền văn minh phương Tây với nền văn hóa Việt Nam đầu thế kỷ XX.

Nguyễn Văn Vĩnh là người Việt Nam đầu tiên làm chủ bút tờ báo tiếng Việt đầu tiên “Đăng cổ tùng báo” – 1907 ở khu vực phía Bắc Việt Nam (TONKIN). Nguyễn Văn Vĩnh là chủ bút của 6 tờ báo tiếp theo xuất bản cả bằng tiếng Việt và bằng tiếng Pháp cho đến khi kết thúc sự nghiệp. Đặc biệt tờ báo cuối cùng trong sự nghiệp là “L’Annam Nouveau” được trao giải thưởng báo chí Grand Prix tại Paris năm 1932.

Phục vụ cho việc truyền bá những tư tưởng tiến bộ của nhân loại cho người dân Việt Nam, Nguyễn Văn Vĩnh là người đầu tiên đã dịch hàng loạt các tác phẩm kinh điển của các nhà văn nổi tiếng thế giới ra tiếng Việt như: La Fontaine, V.Hugo, H.Balzac, A.Dumas, Gil Blas de Santillane, Moliere …… và các triết gia nổi tiếng của Châu Âu như: La Rochefoucault, Jean-Jacques Rousseau, Pascal, Rabelais, Gaston Paris ….

Nguyễn Văn Vĩnh là người dịch thành công nhất tác phẩm “Truyện Kiều” ra tiếng Pháp.

Thông qua các dịch phẩm của mình, Nguyễn Văn Vĩnh đã thành công thực sự trong việc hoàn thiện và phát triển chữ Quốc ngữ để Việt Nam có nền Văn học chữ Quốc ngữ vào những thập niên đầu tiên của thế kỷ XX.

Với vai trò là Tổ chức Quốc tế mang trong mình một nghĩa vụ cao cả đối với nhân loại, là giữ gìn và phát triển nền Văn hóa của các dân tộc, tôi hoàn toàn tin tưởng Bà và các cộng sự sẽ xem xét, nghiên cứu và đánh giá đúng giá trị thực qua sự nghiệp Văn hóa mà nhà báo, dịch giả Nguyễn Văn Vĩnh để lại. Đồng thời có tác động tích cực với các bên hữu quan, đặc biệt là Hiệp hội các quốc gia nói tiếng Pháp để ghi danh Nguyễn Văn Vĩnh là người Việt Nam đầu tiên xây dựng chiếc cầu nối Văn hóa Đông – Tây.

Tôi gửi cùng bức thư này 32 trang tài liệu khái quát về cuộc đời và sự nghiệp, những đóng góp của nhà báo Nguyễn Văn Vĩnh đối với sự nghiệp Văn hóa Pháp – Việt, đến hôm nay mọi giá trị vẫn còn nguyên.

Tôi thành thật cám ơn sự quan tâm của quý Bà và các cộng sự.

 

Kính chúc Bà sức khỏe!

Kính trọng!

Nguyễn Lân Bình

Nguyễn Lân Bình

Năm sinh : 1951

Cháu nội Học giả Nguyễn Văn Vĩnh

Nhà riêng : 55 Lương Sử C, phường Văn Chương, quận Đống Đa, Hà Nội.

Điện thoại NR : (84-4).37470126; Di động : 094.748.2805

E.mail : Binhln51@yahoo.com

sinh-ven-va-giao-vien-khoa-van-dhsp-hn-to-chuc-xem-phim-nguyen-van-vinh-ngay-8-5-2009Sinh viên khoa văn xem phim: ” Mạn đàm về Người Man di hiện đại”

 

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

——————————-

                                                                   Hà Nội, ngày 28 tháng 9 năm 2011

Kính gửi:  Ngài ABDOU DIOUF,

Chủ tịch Hiệp hội các quốc gia nói tiếng Pháp

Về việc: Xem xét và vinh danh nhà báo, dịch giả Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936) là người có công đầu trong lịch sử giao lưu văn hóa Đông –Tây đầu thế kỷ XX và là người đi đầu trong lịch sử của Phong trào FRANCOPHONIE.

Kính thưa ngài Chủ tịch !

Tôi là Nguyễn Lân Bình, sinh năm 1951 là công dân nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và là cháu nội của nhà báo Nguyễn Văn Vĩnh. Tôi gửi thư này tới Ngài và các cộng sự của Hiệp hội các quốc gia nói tiếng Pháp với mong muốn làm sáng tỏ vai trò lịch sử có một không hai của nhà báo Nguyễn Văn Vĩnh trong sự nghiệp xây dựng và kết nối nền văn minh phương Tây với nền văn hóa Việt Nam đầu thế kỷ XX.

Nguyễn Văn Vĩnh là người Việt Nam đầu tiên làm chủ bút tờ báo tiếng Việt đầu tiên “Đăng cổ tùng báo” – 1907 khu vực phía Bắc Việt Nam. Nguyễn Văn Vĩnh là chủ bút của 6 tờ báo tiếp theo xuất bản cả bằng tiếng Việt và bằng tiếng Pháp cho đến khi kết thúc sự nghiệp. Đặc biệt tờ báo cuối cùng trong sự nghiệp là “L’Annam Nouveau” đã được giải thưởng báo chí Grand Prix tại Paris năm 1932.

Phục vụ cho việc truyền bá những tư tưởng tiến bộ của nhân loại cho người dân Việt Nam, Nguyễn Văn Vĩnh là người đầu tiên đã dịch hàng loạt các tác phẩm kinh điển của các nhà văn nổi tiếng thế giới ra tiếng Việt như: La Fontaine, V.Hugo, H.Balzac, A.Dumas, Gil Blas de Santillane, Moliere …… và các triết gia nổi tiếng của Châu Âu như: La Rochefoucault, Jean-Jacques Rousseau, Pascal, Rabelais, Gaston Paris ….

Nguyễn Văn Vĩnh là người dịch thành công nhất tác phẩm “Truyện Kiều” ra tiếng Pháp.

Từ tiếng Pháp, thông qua các dịch phẩm của mình, Nguyễn Văn Vĩnh đã thành công thực sự trong việc hoàn thiện và phát triển chữ Quốc ngữ để Việt Nam có nền Văn học chữ Quốc ngữ vào những thập niên đầu tiên của thế kỷ XX.

Với vai trò là Tổ chức Quốc tế mang trong mình một nghĩa vụ cao cả đối với nhân loại, là giữ gìn và phát triển nền Văn hóa của các dân tộc, và nêu cao vai trò Pháp ngữ, tôi hoàn toàn tin tưởng, Ngài và các cộng sự sẽ xem xét, nghiên cứu và đánh giá đúng giá trị thực qua sự nghiệp Văn hóa mà nhà báo, dịch giả Nguyễn Văn Vĩnh để lại. Đồng thời có tác động tích cực với các bên hữu quan, đặc biệt là Hiệp hội các quốc gia nói tiếng Pháp để vinh danh Nguyễn Văn Vĩnh là người Việt Nam đầu tiên xây dựng chiếc cầu nối Văn hóa Đông – Tây.

Tôi gửi cùng bức thư này 32 trang tài liệu khái quát về cuộc đời và sự nghiệp, những đóng góp của nhà báo Nguyễn Văn Vĩnh đối với sự nghiệp Văn hóa Pháp – Việt, đến hôm nay mọi giá trị vẫn còn nguyên.

Tôi thành thật cám ơn sự quan tâm của quý Ngài và các cộng sự.

Kính chúc Ngài sức khỏe!

Kính trọng!

Nguyễn Lân Bình

Nguyễn Lân Bình

Năm sinh : 1951

Cháu nội Học giả Nguyễn Văn Vĩnh

Nhà riêng : 55 Lương Sử C, phường Văn Chương, quận Đống Đa, Hà Nội.

Điện thoại NR : (84-4).37470126; Di động : 094.748.2805

E.mail : Binhln51@yahoo.com

francophony-10001Áp phích ngày quốc tế Pháp ngữ tại Montpellier 20.3.2008

 

LỜI MỞ ĐẦU

Ngót 10 năm qua, kể từ buổi tọa đàm lịch sử tại bảo tàng Cách mạng Việt Nam nhân ngày Nhà báo Cách Mạng Việt Nam 20/6/2002, với nhan đề: “Tọa đàm về nhân vật lịch sử Nguyễn Văn Vĩnh 1882 – 1936” do Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam phối hợp cùng gia tộc học giả Nguyễn Văn Vĩnh tổ chức, tôi đã theo sát những diễn biến xã hội đối với đề tài cực kỳ đặc biệt này.

Nhân 75 năm ngày mất của học giả Nguyễn Văn Vĩnh, một nhân vật kiệt xuất theo cách đánh giá của nhiều nhà nghiên cứu, tôi xin trình bày bài viết này trên cơ sở những tư liệu và những hiểu biết được hệ thống về cuộc đời và sự nghiệp của nhà báo Nguyễn Văn Vĩnh. Song song với nó, là những phản ứng của xã hội Việt Nam và quốc tế trong giai đoạn vừa qua về con người và sự nghiệp của học giả Nguyễn Văn Vĩnh. Mục đích của tôi, là muốn mọi người trong xã hội, tất cả những ai quan tâm, sẽ nhìn nhận vai trò của học giả Nguyễn Văn Vĩnh trong lịch sử Văn hoá Việt Nam một cách công bằng, trung thực, vì những di sản văn hoá mà học giả Nguyễn Văn Vĩnh để lại, là thực sự hiện hữu, là một phần nền tảng của văn học chữ Quốc ngữ. Văn học chữ Quốc ngữ là nét đặc trưng tiêu biểu của văn hóa Việt Nam trong thế kỷ XX.

Phạm vi hoạt động của Nguyễn Văn Vĩnh có ở hầu hết các lĩnh vực xã hội, trong bối cảnh xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX là giai đoạn tiếp nhận và hình thành nhiều loại hình tư tưởng, nên việc nhìn nhận những diễn biến của nó, cần có độ lùi về thời gian để kiểm chứng và chiêm nhiệm. Bên cạnh đó, những di sản của Nguyễn Văn Vĩnh có đến 50% viết bằng tiếng Pháp, đó là rào cản tạo ra một số những nhận định mang tính phiến diện, do người đọc không có điều kiện nghiên cứu một cách đầy đủ, dẫn đến sự thiên lệch trong việc đánh giá  con người và sự nghiệp của ông.

Tôi tin bài viết này như một sự tổng hợp để người đọc hiểu Nguyễn Văn Vĩnh một cách đầy đủ hơn, qua đó sẽ có được sự phản hồi cần thiết, nhằm giúp những ai quan tâm và liên đới bớt trăn trở vì những sự bất công, khi bàn đến đề tài Nguyễn Văn Vĩnh ở những giai đoạn trước đây, từ đó có trách nhiệm hơn với sự thật, với lịch sử.

Lịch sử và văn hóa là những yếu tố căn bản tạo nên lòng yêu nước của bất cứ dân tộc nào. Để cụ thể hóa, tôi xin nêu những kiến nghị đối với Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa Pháp, cùng các tổ chức Quốc tế có chức năng đánh giá những giá trị về lịch sử, văn hóa của nhân loại, xem xét, kết luận những giá trị có tính ảnh hưởng đến xã hội do Nguyễn Văn Vĩnh để lại.

I. THÂN THẾ và SỰ NGHIỆP

1. Xuất thân.

Nguyễn Văn Vĩnh sinh ngày 15/6/1882 tại thôn Phượng Vũ, xã Phượng Dực, phủ Thường Tín, tỉnh Hà Đông (nay là huyện Phú Xuyên, Hà Nội). Ông là con cả trong một gia đình nông dân nghèo. Bố là Nguyễn Văn Trực. Đầu những năm 80 thế kỷ XIX, gia đình đã bỏ quê ra Hà Nội, sống nhờ ở nhà một người họ hàng bên vợ, tại 46 phố Hàng Giấy.

Năm 1890, khi Nguyễn Văn Vĩnh 8 tuổi, gia đình cho Nguyễn Văn Vĩnh đi chăn bò thuê ngoài bãi Long Biên (chân cầu Long Biên, cây cầu mãi đến năm 1902 mới hoàn thành, còn được gọi là cầu Paul Dumer). Do công việc chăn bò, cậu bé Vĩnh thường thả bò ngược lên phía Bắc bờ sông Hồng và được biết, tại đền Yên Phụ (Hiện vẫn còn nguyên vẹn trong khuôn viên trường PTCS.Mạc Đĩnh Chi, số 66 phố Phó Đức Chính, quận Ba Đình) có lớp học do người Pháp dạy, dành cho những ngưòi đã đỗ tú tài và cử nhân, học để trở thành thông ngôn (phiên dịch). Cậu Vĩnh ngỏ ý xin bố tìm cách để được vào làm công việc gì đó cho ngôi trường này.

Thông qua gia đình ở nhờ (Chủ nhà làm công việc dạy trẻ con trong địa bàn phố Hàng Giấy) tìm manh mối… và cậu Vĩnh đã may mắn xin được làm chân kéo quạt mát cho lớp học (thời đó chưa có điện). Vậy là, 8 tuổi, cậu Vĩnh chia tay với việc chăn bò thuê, trở thành Thằng nhỏ kéo quạt. Một khóa học 4 năm, khi Nguyễn Văn Vĩnh vào làm, lớp đã học gần hết năm thứ hai. Trong quá trình làm “thằng nhỏ” kéo quạt, cậu Vĩnh mặc nhiên được cùng nghe giảng với 40 học viên. Nhiều lần cậu đã bị phạt, thậm chí bị đòn vì nói leo theo thầy giáo Tây, gây mất trật tự, và hay nhắc bài các học sinh ngắc ngứ khi trả lời thầy giáo.

Năm 1892. lớp học của Thằng nhỏ kéo quạt mãn khoá, dù bị đòn nhiều lần, nhưng cũng nhờ đó mà Nguyễn Văn Vĩnh gây được ấn tượng đối với ông giáo. Ông giáo có tên là A. D’argence, đã thử sức “Thằng nhỏ kéo quạt” bằng việc cho phép cậu được thi tốt nghiệp cùng với cả lớp, cậu đỗ thứ 12 trên 40 học viên.

2-cuon-sach-nvv-0001

Ngôi trường là nơi đào tạo thông ngôn (phiên dịch) cho chế độ cai trị của người Pháp – Collège des Interprêtes – mà sau được gọi là trường Hậu bổ, nghĩa là sau khi tốt nghiệp, sẽ được bổ nhiệm đi làm, không phải đệ đơn đi xin việc. Tuy nhiên, việc Nguyễn Văn Vĩnh tốt nghiệp ở tuổi lên 10 là điều khác thường, và 10 tuổi không thể bổ nhiệm làm viên chức. Trước thực tế đó, nhà trường đã quyết định cho Nguyễn Văn Vĩnh học lại chính khoá từ đầu.

Thằng nhỏ kéo quạt” đã thưa chuyện với bố, và được người bố trả lời như sau: “Học hành cái gì, một là tiếp tục kéo quạt, hai là lại đi chăn bò, tiền đâu mà đi học?!”. Chỉ vài ngày sau, ông giáo Tây đã đến tận nhà để tìm hiểu, vì sao Nguyễn Văn Vĩnh không đến trường?! Khi biết rõ lý do, ông giáo đã khẳng định với gia đình, rằng học không mất tiền!

Nguyễn Văn Vĩnh lại được đến trường. Sau 4 năm mãn khoá, Nguyễn Văn Vĩnh đỗ thủ khoa năm 1896. Tuy nhiên, dù Nguyễn Văn Vĩnh đỗ thủ khoa, nhưng ở tuổi 14, không thể vào làm cho các cơ quan chính quyền thời đó. May thay, ông D’argence có người bạn thân làm việc ở Tòa sứ Lao Cai. Nhiều lần, do vô tình đến thăm nơi ông A. D’argence dạy học, người bạn này, đã tận mắt chứng kiến sự khác thưòng của “Thằng nhỏ kéo quạt”, bị ấn tượng mạnh, ông ta đã quyết định đứng ra xin nhà cầm quyền được dùng Nguyễn Văn Vĩnh. Nguyễn Văn Vĩnh trở thành thông ngôn cho Tòa sứ Lao Cai lúc 15 tuổi.

2. Đời Công chức

Những năm Nguyễn Văn Vĩnh làm việc cho Tòa sứ Lao Cai, là những năm đầu tiên chính quyền Thực dân khởi công xây dựng tuyến đường sắt Lao Cai – Vân Nam. Năm 1899, chính quyền thấy công việc đã khởi động tốt, họ điều Nguyễn Văn Vĩnh chuyển về làm tại Toà sứ Hải Phòng. Ở Toà sứ Hải Phòng, Nguyễn Văn Vĩnh lần đầu tiên đã tham gia viết bài cho tờ báo Tin tức Hải Phòng in bằng tiếng Pháp “Courrier de Hai Phong”. Tại đây, Nguyễn Văn Vĩnh đã học tiếng Hoa và tiếng Anh do công việc luôn phải va chạm với các thủy thủ là người nước ngoài. Cũng vào thời gian này, Nguyễn Văn Vĩnh đã tự học hết chương trình phổ thông theo sách giáo khoa tiếng Pháp, nhờ mua lại của một thuỷ thủ người Anh. Đây chính là giai đoạn Nguyễn Văn Vĩnh đã lọt vào tầm mắt của François-Henry Schneider (1).

Năm 1903, Nguyễn Văn Vĩnh được điều chuyển về Toà sứ Bắc Giang. Tòa sứ Bắc Giang nằm dưới quyền của Công sứ Hauser. Năm 1905, Công sứ Hauser được điều chuyển về làm Đốc lý Hà Nội. Chứng kiến năng lực và trình độ khác thường của Nguyễn Văn Vĩnh, Đốc lý Hauser quyết định kéo Nguyễn Văn Vĩnh cùng theo về Hà Nội.

OLYMPUS DIGITAL CAMERA

OLYMPUS DIGITAL CAMERA

Năm 1906, nước Pháp tổ chức Hội chợ thuộc địa (còn gọi là Đấu sảo) tại thành phố cảng Mác Xây, Pháp. Chính quyền giao việc này cho Tòa Đốc lý Hà Nội, Đốc lý Hauser đã giao toàn bộ công việc chuẩn bị tham gia hội chợ cho đích danh Nguyễn Văn Vĩnh. Nguyễn Văn Vĩnh đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ này, và sau đó xin lưu lại Pháp thêm 3 tháng.

Trong thời gian ở Pháp, Nguyễn Văn Vĩnh đã bị ngành công nghiệp báo chí và xuất bản hấp dẫn và cuốn hút, đồng thời ông kết thân với một số chí sỹ người Pháp như: Pierre Vierge, Lhermite… Cũng giai đoạn này, Nguyễn văn Vĩnh đã chính thức ra nhập vào Hội Nhân quyền Pháp (Ligue des Droits de L Homme). Những diễn biến này đã tác động mạnh vào tâm lý, tạo một động lực mạnh mẽ trong con người Nguyễn Văn Vĩnh, hướng đến sự nghiệp làm báo và xuất bản (2).

Để thực hiện ý tưởng và lý tưởng của mình về việc xây dựng nền báo chí bản địa, khi trở về nước, Nguyễn Văn Vĩnh quyết định từ bỏ con đường công chức để phục vụ mục đích: xây dựng nền văn hóa của chữ Quốc ngữ, trên cơ sở ban đầu là phổ biến, quảng bá chữ Quốc ngữ thông qua việc làm báo. Cho đến cuối đời, Nguyễn Văn Vĩnh không tham gia bất kỳ một cơ quan hành chính, hoặc nhận bất kỳ một chức vị nào của bộ máy chính quyền đương thời.

Nghiệp làm viên chức của Nguyễn Văn Vĩnh chỉ vẻn vẹn đúng 10 năm.

3. Sự nghiệp Báo chí

Thông qua những suy nghĩ của Nguyễn Văn Vĩnh trong bức thư viết năm 1906 từ Mác Xây, gửi cho người bạn thân là Phạm Duy Tốn (1881-1924), cùng với những diễn biến của cách mạng tư tưởng của các chí sỹ cùng thời, như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Văn Vĩnh xác định, việc nâng cao dân trí phải là mục tiêu hàng đầu (3). Theo ông, dân trí phụ thuộc căn bản ở nền văn hoá, mà văn hoá lệ thuộc vào ngôn ngữ, trong khi Việt Nam ngày đó, mọi giao dịch văn bản trong nền hành chính xã hội đều sử dụng chữ Hán và chữ Pháp. Sự vay mượn này đã đặt ngưòi Việt Nam đầu thế kỷ XX, ở tình trạng nói một cách và viết một cách khác!

Nhận thấy đây là trở ngại lớn trong việc học tập để nâng cao tri thức trong xã hội, các chí sỹ tiến bộ đã lo lắng trước mặt bằng dân trí giai đoạn này ở xã hội nước Nam quá thấp kém và mông muội, u tối, hậu quả của lối sống phong kiến kéo dài. Chế độ giáo dục khoa cử nghặt nghèo, việc dùng chữ Hán, Nôm, những loại ngôn ngữ mà chỉ có một số ít người dân có khả năng tiếp thu, đồng thời, tốn quá nhiều công sức trong việc học:

“Xưa kia đàn ông dùi mài bao nhiêu lâu, tốn bao nhiêu cơm cha mẹ, mới cầm được quyển sách, miệng ngâm đùi rung, mà vị tất trong lòng đã được cái lý thú gì là lý thú thực…” (4) .

Nguyễn Văn Vĩnh đặt mục tiêu đầu tiên, là phải tháo gỡ trở ngại này, bằng việc tìm cách quảng bá, khuyến khích người dân dùng chữ Quốc ngữ, vì chữ Quốc ngữ rất dễ tiếp thu. Ngoài ra, ông thúc đẩy nhà cầm quyền ủng hộ chủ trương này, nhằm rút ngắn quãng đường đến mục tiêu mình định hướng.

Phục vụ cho lý tưỏng này, Nguyễn Văn Vĩnh đã hợp tác với F. H. Schneider. Cuộc hội ngộ này là sự trùng hợp ngẫu nhiên, hệ quả của những đòi hỏi lịch sử, trong một giai đoạn nhất định giữa mưu đồý đồ. Bên cạnh lý tưởng của Nguyễn Văn Vĩnh, muốn xây dựng một nền tri thức độc lập, trên cơ sở tiếng nói mẹ đẻ với chữ viết được Latin hóa, nhưng phía đối diện là chính sách cai trị của Chính quyền Thực dân, cần phát triển chữ Quốc ngữ để phục vụ cho việc tuyên truyền cho chủ trương đô hộ lâu dài. Nguyễn Văn Vĩnh ngày đó mới hơn 20 tuổi, một người chỉ với 2 bàn tay trắng, khó để có sự lựa chọn nào khác, nếu không dựa vào sự hợp tác để thực hiện lý tưởng của mình.

quan-am-thi-kinh

Nguyễn Văn Vĩnh hiểu rõ, muốn cho người dân học chữ Quốc ngữ, nhất thiết phải có văn học chữ Quốc ngữ. Vậy văn học chữ Quốc ngữ lấy từ đâu? Sau nhiều lần thương thảo, giữa một bên có cơ sở vật chất và chuyên môn (Francois Henri Schneider), với một bên chỉ có trí tuệ và lý tưởng (Nguyễn Văn Vĩnh), để rồi trở thành sự gắn bó lâu dài đến tận năm 1918.

Xác định được hướng đi, đặt được quyết tâm sống còn của mình, cũng là lúc, Nguyễn Văn Vĩnh bắt gặp tư tưởng của Phan Châu Trinh (1872-1926)(5) . Đông Kinh Nghĩa Thục ra đời, một trào lưu tư tưởng hoàn toàn mới. Nguyễn Văn Vĩnh chính thức bước chân vào nghề làm báo từ diễn biến lịch sử này. Ông tin, đây là phương tiện văn hóa đầu tiên, tạo được tác động mạnh vào cuộc sống tinh thần của xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX.

Nguyễn Văn Vĩnh đã là Chủ bút các báo:

  • 1907 Đăng cổ Tùng báo – (Tiếng nói của Đông kinh Nghĩa thục) .
  • 1908 Notre Journal (tiếng Pháp).
  • 1910 Notre Revue (tiếng Pháp).
  • 1913 Đông dương Tạp chí. (Tờ báo đầu tiên ở Bắc kỳ quy tụ được hầu hết các chí sỹ cùng thời nổi danh nhất Bắc và Trung kỳ trong Ban Biên tập) (6).
  • 1917 Trung Bắc Tân văn. (Nhật báo đầu tiên của lịch sử báo chí Việt Nam).
  • 1919 Trung Bắc Chủ Nhật.
  • Học Báo.
  • 1931 L’Annam NouveauNước Nam mới (Tiếng Pháp) – Tờ báo được giải thưởng Grand Prix tại Paris 1932).(7)

Người Pháp thực dân, đã không tính hết được sự lợi hại của việc truyền bá chữ Quốc ngữ mà có lúc, họ đã thoáng ân hận, dẫn đến việc dập vùi Phong trào Đông kinh Nghĩa thục, cũng như tìm mọi biện pháp để khống chế Nguyễn Văn Vĩnh. Kể cả về sau này, họ từng lấp liếm những giá trị trong tư tưởng tiến bộ của ông, những tư tưởng ông đã tiếp thu được nhờ ở chính các tác phẩm, những quan điểm triết học kinh điển của các triết gia Âu Châu hiện đại, của văn hoá Pháp, cũng như nền báo chí phát triển tiến bộ của Tây phương.

4. Sự nghiệp dịch thuật

Nguyễn Văn Vĩnh nhận thức rất sâu về vai trò của ngôn ngữ đối với bản sắc văn hoá của một dân tộc, ông đã ra công tìm kiếm, lựa chọn những tinh hoa trong kho tàng văn hoá nhân loại, lấy đó làm hạt nhân để phát triển trí tuệ cho đồng bào của ông, thực hiện lý tưởng của chính mình và của các nhân sỹ tiến bộ cùng thời. Ông xác định, muốn người dân học chữ, cần có gì đó để đọc, muốn người dân có trí tuệ, cần thu nhận những kiến thức tiến bộ của nhân loại, và đó sẽ là vũ khí để đấu tranh đòi sự tôn trọng lẫn nhau với Nhà cầm quyền, để đề đạt nguyện vọng cần có một cuộc sống dân chủ, đồng thời cũng để chứng minh tinh thần văn hóa của dân tộc mình, và Nguyễn Văn Vĩnh đã dịch:

– “Thư Trước tác hậu bổ” của Phan Châu Trinh gửi Toàn quyền Đông dương“Lettre de Phan Chu –Trinh au gouverneur général en 1906”. ngày 15 tháng 9 năm Thành Thái thứ 18 (1906) từ Hán văn ra Pháp văn (8).

– Năm 1909, cùng Phan Kế Bính (1875-1921) dịch trọn bộ tác phẩm“Tam quốc chí diễn nghĩa” từ Hán văn ra Quốc ngữ. Ông là người hiệu đính và viết lời tựa. Trong lời tựa, Nguyễn Văn Vĩnh lần đầu tiên đã xác định vững vàng:

“Nước Nam ta sau này hay dở, cũng ở như chữ Quốc ngữ”.

– Năm1911, tác phẩm“Quan Âm Thị Kính” lần đầu tiên được in bằng chữ Quốc ngữ và  người xuất bản là Nguyễn Văn Vĩnh (9).

– Từ số 15 của “Đông dương tạp chí” – 1913, trong mục Giáo dưỡng đạo lý, Nguyễn Văn Vĩnh đã trích dịch từ Pháp văn ra Việt văn các bài viết của những nhà tư tưởng Châu Âu như: J. J. Rousseau (1712 – 1778), Blaise Pascal (1623-1662), Francois Rabelais (1494-1553) … Từ số 28 trở đi, Nguyễn Văn Vĩnh dịch các bài viết về triết học của các nhà triết gia cổ điển nổi tiếng thế giới.

Trong những năm hai mươi của thế kỷ XX, Nguyễn Văn Vĩnh đã dịch:

“Ba chàng ngự lâm pháo thủ” của A.Dumas (1802-1870). “Telemaque phiêu lưu ký” của Fenelon (1651-1715). Các vở hài kịch của Moliere (1622-1673). Tập truyện thơ ngụ ngôn của Jean de La Fontaine (1621-1695). “Lesage” của Gil-Blas de Santillane (1715-1735). “Manon Lescaut” (Mai nương Lệ cốt) của Abbé Prevots. Sách in năm 1731 bị cấm ở Pháp. “Những kẻ khốn nạn” – Les misérablés – của V.Hugo (1802-1885). “Miếng da lừa” La Peau de chagrin – của H. De Balzac (1799-1850). “Sử ký thanh hoa” – Le Parfum des humanités – của E. Vayrac. “Ba chàng ngự lâm pháo thủ” – Les Trois Mousquetaires – của A. Dumas (1802-1870). “Truyện trẻ con” của Charles Perrault (1628-1703). “Tục ca lệ” – Turcaret – của René Lesage (1668-1747). “Chuyện các bậc danh nhân Hy Lạp và La Mã” – Les vies parallèles des hommes illustres de la Grèce et Rome – của Plutarque (Plutarch). “Dulivê du ký” – Les voyages de Gulliver – của Jonathan Swift (1667-1745). “Tiền Xích bích và Hậu Xích bích” từ Hán văn ra Pháp văn của Tô Thức – Tô Đông Pha (1037-1101), Toàn bộ “Truyện Kiều” của Nguyễn Du ra tiếng Pháp (10), và còn rất nhiều nữa…

Các tác phẩm nêu trên, đều là những tác phẩm được xuất bản lần đầu tiên ở Việt Nam. Một số được xuất bản theo phương thức in nhiều kỳ trên những tờ báo do Nguyễn Văn Vĩnh là Chủ bút, một số ít được xuất bản ngay thành sách bán ra thị trường. Giá trị không thể chối bỏ của Nguyễn Văn Vĩnh trong lĩnh vực dịch thuật, đó là việc đã chứng minh được khả năng chuyển tải những tinh hoa trí thức của kho tàng văn hóa thế giới, và tính phong phú có thật của tiếng Việt, đập tan quan niệm cho rằng chỉ có tiếng Hán mới thể hiện được đầy đủ tinh thần của tác phẩm (11) .

hoi-khai-tri-tien-duc

Thành viên hội Khai trí tiến đức – Ảnh lấy từ blog PhamTon

Hội Khai Trí Tiến Đức, còn được gọi là hội AFIMA (viết tắt nguyên tên tiếng Pháp của hội l’Association pour la Formation Intellectuelle et Morale des Annamites)

Thành tựu đáng ghi nhớ nhất của Hội là việc soạn cuốn từ điển tiếng Việt mang tựa Việt-Nam Tự-điển do nhà in Trung-Bắc Tân-Văn xuất bản năm 1931. Tiểu ban phụ trách soạn thảo gồm các ông Phạm Quỳnh (chủ bút), Nguyễn Văn Vĩnh, Trần Trọng Kim, Bùi Kỷ, Nguyễn Văn Luận, Phạm Huy Lục, Dương Bá Trạc, Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Đôn Phục, và Đỗ Thận.

II. NHỮNG HOẠT ĐỘNG và ĐÓNG GÓP XÃ HỘI.  

Năm 1906 – Nguyễn Văn Vĩnh là người Việt Nam đầu tiên gia nhập Hội Nhân quyền Pháp   (Ligue des Droits de l’homme). Nghi thức kết nạp ông, được thực hiện tại Paris (12).

Năm 1907 – Nguyễn Văn Vĩnh đứng đơn xin phép Nhà Cầm quyền mở trường Đông kinh Nghĩa thục ở số 10 phố Hàng Đào, Hà Nội, do Lương Văn Can (1854-1927) là Thục trưởng (13). Là người từ chối búi tó, mặc áo the, đội khăn xếp và đi guốc, để thể hiện tính cải cách – Tân học. Ông chính thức lấy bút danh là “Tân Nam tử” khi viết báo. Là người đầu tiên đứng ra thành lập “Hội dịch sách” tại Hội quán Trí tri ở 47 phố Hàng Quạt, Hà Nội (14).

Năm 1908 – Nguyễn Văn Vĩnh là người Việt Nam duy nhất đứng ra ký đơn gửi Toàn quyền Đông Dương (Haut-commissaire de France en Indochine) đòi thả Phan Châu Trinh khi bị bắt, vì Phan Châu Trinh vô tội (15). Ông cũng là người bảo lãnh cho Phan Kế Bính thoát án tử hình do tham gia Đông kinh Nghĩa thục (16) .

1918 – Là người từ chối nhận Kim khánh của Triều đình Huế (17).

1920 – Là người đầu tiên dàn dựng, đạo diễn các vở hài kịch của đại văn hào Pháp Moliere, do ông dịch sang tiếng Việt. Ông đã cùng các con trai của mình, thủ vai trong một số vở hài kịch của Moliere, diễn trên sân khấu Nhà Hát lớn Hà Nội.

1922 – Là người đầu tiên quyết định xây dựng việc in ấn trở thành ngành công nghiệp (18).

1924 – Là người đầu tiên thực hiện việc sản xuất phim điện ảnh (cinematographie) với tác phẩm Kim Vân Kiều (phim câm) (19).

1926 – Là người Việt Nam đầu tiên hợp tác với E. Vayrac thành lập Trung tâm phát hành các ấn phẩm văn hóa mang tên “Âu Tây tư tưởng”.

Là người phát động phong trào cải tiến chữ Quốc ngữ (20).

1930 –  Là người từ chối Bắc đẩu Bội tinh của Chính phủ Pháp.

1931 – Từ chối làm Thượng thư cho Triều Đình Huế.

1935 – Là người từ chối mọi ân sủng của Chính phủ Thuộc địa, không chấp nhận thỏa hiệp khi bị cấm viết. Ông chấp nhận “đi đày” ở Sê Pôn – Lào(21), với danh nghĩa đi tìm vàng để trả nợ ngân hàng.

 

Hết phần 1 bản tóm tắt.

 

(Kỳ Ba: CÂY NGAY VẪN BỊ CHẾT ĐỨNG).

 

Chú thích:

  1. François Henry Schneider sinh ngày 1.12.1851 tại Paris. Ông là chuyên gia về in ấn và xuất bản. Đến Việt Nam tháng 8 năm 1882 theo Hợp đồng ký với Hải quân Pháp, lúc đầu là 3 năm. Điểm đến của ông là Nam kỳ. Trong những năm đầu, Schneider đã từng hợp tác với Trương Vĩnh Ký và Huỳnh Tịnh Của, nhưng không đạt được kết quả như dự định trong lĩnh vực phát hành báo chí và xuất bản.  F.H.Schneider chính thức chuyển ra phía Bắc đầu thế kỷ XX, bằng một thoả thuận miệng với Toàn quyền de Lanessan, F.H. Schneider cho xuất bản tờ công báo bằng chữ Hán đầu tiên tại Bắc Kỳ, tờ “ Đại-nam Đồng-văn Nhật-báo”(1891-1907), tiền thân của tờ báo đầu tiên in bằng chữ Quốc ngữ ở Hà Nội “ Đăng cổ Tùng báo”, và cử Nguyễn Văn Vĩnh là Chủ bút. Đến năm 1918, F.H.Schneider ở VN đã quá lâu, nền công nghiệp xuất bản tại VN đã thành hình, ông quyết định dừng các công việc kinh doanh để trở về Pháp. Năm 1920, ông bán lại cơ sở báo “Lục Tỉnh Tân văn” trong Sài Gòn cho ông huyện Của (Nguyễn Văn Của) và trao lại toàn bộ cơ sở vật chất ở Hà Nội cho Nguyễn Văn Vĩnh với lý do tạ ơn! Theo Nguyễn Văn Vĩnh, F.H.Schneider mất tại Pháp khoảng năm 1923 hay 1924 gì đó.
  1. Ngày 27/6/1906, nhân chuyến đi lần đầu tiên tham dự Hội chợ Thuộc địa, Nguyễn Văn Vĩnh gửi thư cho Phạm Duy Tốn từ Mác-Xây, bộc lộ khát vọng này.
  1. Huỳnh Thúc Kháng, Chiêu Hồn Nước, 1902-1903:

Chữ Quốc ngữ là hồn trong nước

Phải đem ra tính trước dân ta

Sách Âu Mỹ, sách Chi Na

Chữ kia, chữ nọ dịch ra tỏ tường

Nông, công, cổ trăm đường cũng thế

Họp bàn nhau thì dễ lo toan

Á Âu chung lại một lò

Đúc nên tư cách mới cho rằng người.

  1. – Người dịch Phan Kế Bính

     – Lời tựa và hiệu đính (nhuận sắc) Nguyễn Văn Vĩnh năm 1909.

     5. Không tìm thấy tài liệu nào nói về những cuộc gặp gỡ đầu tiên giữa Phan Châu Trinh và Nguyễn Văn Vĩnh, nhưng hoạt động của ĐKNT thể hiện mối quan hệ này. Nguyễn Văn Vĩnh nhận dịch toàn bộ thư Trước tác hậu bổ sang tiếng Pháp do Phan Châu Trinh viết bằng tiếng Hán gửi cho Toàn quyền Đông Dương – Jean Beau ngày 15/9/1906 (năm Thành Thái thứ 18). Năm 1931, trong bối cảnh mâu thuẫn đỉnh cao giữa NVV và Chính quyền, ông đã đăng lại trên báo “L’Annam Nouveau- Nước Nam mới” số 223, 224 và 225 ngày 26,30/3 và 02/4 năm 1933. Đặng Thai Mai dịch từ chữ Hán sang Quốc ngữ đăng trên tuần báo “Tân Dân” ngày 24/3/1949 tại Hà Nội, số Đặc biệt Kỷ niệm ngày giỗ Phan Châu Trinh.

  1. Số đầu tiên của “Đông Dương tạp chí” ra ngày 15/5/1913, Ban biên tập gồm: Nhóm Tân học: Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Tố, Phạm Duy Tốn, Trần Trọng Kim. Nhóm Cựu học: Phan Kế Bính, Nguyễn Đỗ Mục, Phạm Huy Lục, Hoàng Tăng Bí, Dương Phượng Dực, Tản Đà….
  1. Tờ báo được giải thưởng GRAND PRIX tại Paris 1932. Tờ báo ra đời là hệ quả của sự mâu thuẫn chính trị cao độ giữa NVV (với đường lối Trực trị), và Phạm Quỳnh (với chính sách Quân chủ Lập hiến), Nhà Cầm quyền phản đối khuynh hướng chính trị của NVV. Tổng số bài viết trên “ L’Annam Nouveau” ký tên Nguyễn Văn Vĩnh khoảng gần 500 bài, bao gồm tất cả các lĩnh vực trong đời sống xã hội như: chính trị, văn hóa, giáo dục, thể thao, y tế, nông thôn, thuỷ lợi, ngân hàng, phong tục tập quán, tệ nạn xã hội, công nghiệp thuỷ sản, biển đảo, ngành nghề thủ công, tổ chức hành chính và những nhận định về một số gương mặt chính khách của chính quyền  đương thời.
  1. Xem chú thích 5.
  1.  Truyện thơ Quan Âm Thị Kính bản in đầu tiên bằng Quốc ngữ do Nguyễn Văn Vĩnh ấn hành năm 1911. Bản này gồm có 788 câu thơ lục bát và một lá thư của Kính Tâm viết cho cha mẹ (http://chuaphatquang.com/quan_am_thi_kinh.htm).
  1. Nguyễn Văn Vĩnh dịch Truyện Kiều từ chữ Nôm ra Quốc ngữ – 1913. Người giữ bản gốc Nhà giáo Nguyễn Vinh Phúc. Bản dịch Truyện Kiều ra tiếng Pháp được Nhà xuất bản “Alexandre de Rhoder” xuất bản lần đầu 1942 tập I và 1943 tập II.
  1. Trong cuốn “Chữ, văn Quốc ngữ thời kỳ đầu Pháp thuộc” do Nhà xuất bản Nam Sơn – Sài Gòn ấn hành năm 1974, trang 69 tác giả Nguyễn Văn Trung lập luận: “Chữ Quốc ngữ chỉ ghi âm, không ghi ý, không thể dùng để diễn tả văn chương được. Theo Bonifacy (đăng trong Revue Indochinoise in năm 1905 trang 206) người Việt chỉ biết chữ Quốc ngữ cũng tựa người Pháp chỉ biết chữ tốc ký Duployé và không thể đọc được ngay cả truyện Cổ tích Perrault. Do đó, cần giữ lại nền học vấn cũ bằng chữ Nho.”
  1. Thông cáo báo chí của Đại sứ quán Cộng hòa Pháp tại Việt Nam ngày 09/4/2009.
  1. Quan điểm của GS. Đinh Xuân Lâm, GS. Chương Thâu và Nhà Giáo Nguyễn Vinh Phúc phát biểu trong Bộ phim Tài liệu “Mạn đàm về Người Man di Hiện đại” – 2007.
  1. Bài đăng trên “ Đại Nam Đăng Cổ Tùng Báo”, số 813, ngày 15–8–1907, và số 814, ngày 22-8-1907.
  1. Ý kiến của GS. Âm nhạc Trần Văn Khê và GS. Sử học Nguyễn Huệ Chi, phát biểu trong Bộ phim Tài liệu “Mạn đàm về Người Man di Hiện đại” – 2007.
  1. Theo lời kể của ông Lưu Văn Thành (cháu ngoại Phan Kế Bính), là người trông coi nhà thờ Phan Kế Bính (1875-1921) hiện ở số 4 /19/ngõ 123A phố Thụy Khuê, Ba Đình, Hà Nội, được phát trên VTV2-THVN năm 2006, trong chương trình “ Danh nhân Văn Hóa”.
  1. Theo lời kể của Phạm Huy Lục (con trai nhà Nho Phạm Huy Hổ).
  1.  Sau khi Chính phủ Thuộc địa phá vỡ Công ty Nhà in Phúc Vĩnh Thành – 1925, năm 1926 Nguyễn Văn Vĩnh buộc phải thế chấp toàn bộ tài sản được định giá 2.000.000 đồng Đông Dương (Hai triệu đồng) để vay 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) Thành lập Trung tâm Âu – Tây tư tưởng.
  1. Báo Tuổi trẻ Chủ nhật 31/12/1995, tác giả Quốc Anh.
  1. Báo “L’Annam Nouveau” từ số 115 đến 118 tháng 3/1932. Tiếng Việt hiện dùng trong điện tín là kết quả của sự cải tiến chữ Quốc ngữ do Nguyễn Văn Vĩnh chủ trương.
  1. “…Tôi nhớ lại lúc ông Nguyễn Văn Vĩnh sắp lên đường sang Lào để tìm vàng, công nợ ngập đầu, mà cứ cố sống cố chết bám vào tờ “Trung Bắc”, “Học báo” và “L’Annam Noveau” để viết. Toàn quyền Pasquier, một hôm, gặp Nguyễn Bá Trác (lúc ấy vừa ở Nhật về), hỏi theo ý Trác thì nhà Cách mạng Việt Nam nào nguy hiểm nhất. Trác trả lời “Nguyễn Văn Vĩnh”. Toàn quyền Pasquier nhờ Sở Mật thám điều tra xem ông Vĩnh còn nợ Ngân hàng và tư nhân chừng bao nhiêu tiền. Số nợ ấy, so với lúc ấy, thật lớn: từ 60 đến 80 nghìn đồng. Toàn quyền Pasquier nhờ một người thân tín của ông Vĩnh bắn tiếng đến tai ông : nếu ông Vĩnh bằng lòng ngưng công kích Bảo Đại và bút chiến với Phạm Quỳnh, gấp đôi số nợ ấy cũng sẽ được trang trải êm ấm mà không cần phải bận tâm gì hết”. Trích trong “40 năm nói láo” của Vũ Bằng – NXB Văn hóa Thông tin năm 2001, ở trang 261 và 262.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *