80 NĂM TÌM LẠI SÊ PÔN – LÀO – Phần 2

Ngày thứ hai.

Buổi sáng tháng Sáu ở vùng đồi Quảng Trị, nắng mạnh như những tia lửa chiếu vào da thịt con người. Tôi an ủi mọi người, không kinh đâu, bây giờ dễ chịu hơn một nghìn lần cách đây hơn 40 năm. Bởi lẽ, cũng miền đất này, cũng mặt trời này, nhưng lúc đó chúng tôi không có bất cứ một một mẩu bóng mát nào để trú, để ẩn. Toàn vùng chỉ có cỏ tranh, hố bom, vỏ đạn, xác xe, xác pháo, các loại quân trang, quân dụng phơi dưới mặt trời. Mà vẫn là ông mặt trời này nhé.

Tôi kể cho mấy người đứng gần mình trước khi lên xe, cái kỷ niệm đáng ghét khi nhóm anh em tôi bị phân công hạ trại tại Cồn Tiên sau Hiệp định Paris. Mấy thằng chúng tôi tìm cách nấu cơm ăn vì đến bữa, nhưng đi tìm mãi chung quanh không có bất kỳ một khe nước hay hố nước nào. Chúng tôi ức quá hét lên với nhau: thế này mà gọi là Cồn Tiên à? Tiên gì mà không có nước…?! Nhìn lại mới thấy, tôi và các bạn mình may mắn đến nhường nào, vì chúng tôi lúc đó không ai nghĩ đến chuyện cả bọn đang ở giữa một bãi mìn. Nhiều năm sau, khi VN và Mỹ ký kết Hiệp định rà phá bom mìn trong chiến tranh, mới bàng hoàng về cái sự ngớ ngẩn của bọn lính thợ chúng tôi ngày ấy.

Thực ra, chúng tôi cũng không dám kêu ca mấy khi vì khi Quảng Trị đỏ lửa, chúng tôi còn ru rú trong các cánh rừng đại ngàn của Trường Sơn, để mặc các bạn bộ binh, pháo binh… ngã xuống dưới cái nắng điên đảo này. Chúng tôi chỉ được tung ra sau các trận đánh như một lũ nhặt đồng nát thôi. Hầu hết trong anh em cùng đơn vị chúng tôi đều biết sự thật này. Chúng tôi cũng biết, mình chỉ là những công cụ phụ thuộc vào người sử dụng. Hiểu như thế, nên chúng tôi luôn nhớ ơn những người không bao giờ trở lại. Chúng tôi luôn tự vấn, họ đã ngã xuống thay mình, phải không nhỉ? Lạy Trời!

Ăn sáng no nê, xe lại lao ra đường số 9. Tôi lại tiếp tục giảng giải ý nghĩa chiến lược của con đường. Tôi mô tả đường 9 như cài hàng rào thẳng băng chia đôi bán đảo Đông Dương. Con đường xuất phát từ biển Đông, và cây số cuối cùng là nơi gặp dòng sông Mê Công. Nó dài bao nhiêu km phía Việt Nam và bao nhiêu phía Lào. Nó mang trên mình bao nhiêu thương tích, máu và nước mắt…

Tôi thuộc vanh vách, nào Cam Lộ, Đầu Mầu, Sa Mưu, rồi Đắc Krông, Khe Xanh, Tà Cơn, Làng Vây, Lao Bảo… Có bao nhiêu kỷ niệm của tôi về Làng Vây, về một vùng thiên nhiên tươi tốt. Nhờ tính tò mò, nhờ những ấn tượng mạnh về vùng đất lửa đạn ngày ấy, tôi tìm đọc thêm để hôm nay, tôi cắt nghĩa được với mọi người cùng đi về những diễn biến chiến tranh của con đường này.

Tôi lưu ý, chiến dịch Khe Xanh và chiến dịch Đường 9 Nam Lào khác nhau hoàn toàn về quy mô, nội dung và thời điểm. Chiến dịch Khe Xanh 1968, thời mà còn tướng Oet smôlen (Westmoreland) trực tiếp chỉ huy và thề sống thề chết với Lầu Năm góc, rằng sẽ giành thắng lợi trên mặt trận này. Tôi cũng đã quên không nhắc để mọi người biết, tại chiến dịch Khe Xanh 68, ngoài lực lượng quân sự của quân đội Hoa Kỳ, quân đội VN Cộng hòa, còn có cả sự phối hợp tham gia của 2 trung đoàn lực lượng quân đội Hoàng gia Lào.

Trong khi, chiến dịch Đường 9 Nam Lào diễn ra 1971 – 1972 và có tên là Lam Sơn 719 gắn với cái tên của một sỹ quan nổi tiếng của quân đội VN Cộng hòa là Đại tá Nguyễn Văn Thọ. Tôi thích thú với một kỷ niệm ngày đó, sau chiến dịch, báo QĐND có một bài tường thuật những khoảnh khắc cuối cùng của Đại tá Thọ với câu nói gây ngạc nhiên đầy ẩn ý của ông ta rằng: Tôi mà cũng bị bắt à?! Phải nhiều năm sau, tôi mới hiểu được vì sao Đại tá Thọ đã thốt lên như vậy!

Tôi không quên mục đích chính của chuyến đi này là vì 80 năm ngày giỗ của cụ Vĩnh, nên tôi đã phác họa lại cho mọi người cảnh 80 năm trước, đường số 9 có diện mạo như thế nào, dựa theo lời kể của cụ Vĩnh viết trong 11 bài ký sự cuối cùng bằng tiếng Pháp Một tháng với những người tìm vàng, được đăng trên tờ báo L’Annam Nouveau – Nước Nam mới năm 1936. Tôi cũng so sánh con đường năm 36 của cụ Vĩnh với con đường năm 1973, 74 khi tôi đóng quân và lang thang ở đây. Tôi mô tả sự khác biệt của địa hình Đông và Tây Trường Sơn mà khi đoàn chúng tôi quay về qua đường số 8 mới thấy rõ sự khác nhau đó đã tạo nên môi trường khí hậu  ra sao? Vì sao lại được gọi là gió Lào?!

Xe chúng tôi chẳng mấy chốc đến cầu Đắc K’rông. Tôi đồng ý để mọi người xuống chụp ảnh vì trong đoàn có những người lần đầu tiên được đặt chân đến nơi này. Tôi đã giải thích được với nhiều người rằng sông Đắc K rông và sông Ba Lòng là một. Cách gọi khác nhau do cư dân địa phương sống ở từng đoạn sông đặt ra. Cũng như sông Hiếu, sông Cam Lộ, sông Đông Hà cũng là một.

Ong ba Khoi

Vợ chồng nhà giáo Vũ Thế Khôi tại đầu cầu Dakrong – đường số 9    

Chúng tôi đặt chân đến cửa khẩu Lao Bảo, phía Lào có tên là Densavan. Tôi yên tâm vì nghe thông báo của Nhà chức trách rằng, từ đầu năm 2016, cửa khẩu này đã được cải tiến nhằm tiết kiệm thời gian cho công tác xuất nhập cảnh và được gọi là một cửa. Nhưng tận mắt, tôi thấy không phải vậy. Thực tế chỉ là một chỗ, chứ không phải một cửa. Hoàn thành thủ tục xuất cảnh phía VN, sang cửa nhập cảnh phía Lào cùng trong một dãy nhà hành chính. Mọi việc cũng không nhanh hơn so với những lần đi trước.

Cô hướng dẫn người Lào với tên Việt là Kim Tuyền đón chúng tôi rất niềm nở. Cô nói giọng Việt hơi lơ lớ. Khi cô nói, phải chú ý nghe, nếu không, sẽ hơi khó hiểu vì  có những từ ngữ, khi cô phát âm nghe ngồ ngộ. Không sao, với tôi vậy là tuyệt vời rồi, có thêm người cùng chịu trách nhiệm với mình cho hơn bốn chục con người này, kiểu gì cũng đỡ hơn. Tôi có thêm cơ hội ngồi giải lao, nghĩ những phần việc cần phải thực hiện theo chương trình đã định.

IMG_6308

Cô hướng dẫn viên người Lào Kim Tuyền

Lễ tưởng niệm.

Từ Lao Bảo, xe chạy khoảng 40 km đến cầu Sê Băng Hiêng (nhánh của sông Sê Pôn), trời nắng gắt. Từ mặt đường xuống đến chân cầu khá xa và dốc, không có đường mòn (lối đi). Tôi có lời với những ai thấy không được khỏe, có thể ngồi lại tại xe và đừng áy náy vì chặng đường còn rất dài. Tôi biết, trong hơn bốn chục thành viên tham gia, có đến hơn chục người cỡ 70 tuổi, và cũng khoảng từng đó  người đang mang trong mình những căn bệnh mãn tính từ nhiều năm. Những người đó, có người là hậu duệ của cụ Vĩnh và cũng có người chỉ là bạn với chúng tôi, nhưng vì kính trọng và yêu quý cụ Vĩnh nên dù có vấn đề về sức khỏe, vẫn quyết tâm tham gia, để một lần trong đời biết được nơi vong hồn cụ Vĩnh đã thoát xác, trở thành người linh thiêng như thế nào?!

Anh em chúng tôi quyết định dựng nơi thắp hương trên những phiến bê tông, là chân cây cầu được xây từ thời người Pháp ở Đông Dương, nay chỉ còn là phế tích. Chúng tôi đã kiểm tra từ lần đi trước, rằng chiếu thẳng từ những tảng bê tông của cây cầu cũ bị đổ này, đi lên khoảng 200 m là trạm y tế Sê Pôn, ngôi nhà gạch còn nguyên với dòng chữ được đắp nổi bằng tiếng Pháp. Cũng có ý kiến, là có thể dựng nơi thắp hương ngay tại chân cây cầu mới, có bóng mát, tránh cái nắng khủng khiếp, tạo điều kiện để mọi người khi thắp hương sẽ đứng tưởng niệm được lâu.

Tôi đề nghị, phải làm tại chân cầu đổ, nơi mà theo ghi chép, khi tìm thấy cụ Vĩnh, người dân địa phương đã cập con thuyền độc mộc vào chân cầu này. Tôi suy diễn, ít nhiều, không loại trừ, vẫn luẩn quẩn đâu đây cái hồn vía của cụ… Không ai phản đối và đều đồng thanh nhất trí, sẵn sàng chấp nhận đứng dưới cái nắng ghê gớm để làm lễ tưởng nhớ một con người vĩ đại, đã lìa đời tại cái nơi thâm sơn cùng cốc này cách đây 80 năm.

Mọi người đều sốt sắng một chân một tay sắp đặt nơi thắp hương và bày lễ. Khi đã gần hoàn tất, tôi chợt phát hiện thấy thiếu nước trắng, mặc dù nến, hương, hoa, quả, vàng mã, rượi, bánh kẹo đủ cả. Tôi định đề nghị một người chạy lên lấy một chai nước khoáng… Quả thật không đơn giản vì quãng đường không ngắn, phải đi lên dốc, và mọi người sẽ đứng đợi lâu hơn dưới cái nắng chói chang. Bỗng một người reo lên, đây rồi… trong túi xách của em có này, một chai La vie còn nguyên, chưa bóc nhé! Tất cả đều ồ lên vì sung sướng.

IMG_6284

Cảnh mọi người lo xắp lễ, thắp hương nhà báo Nguyễn Văn Vĩnh tại chân cây cầu đổ. Nơi đây, ngày 1.5.1936, người dân địa phương đã cập con thuyền độc mộc của NVV và đưa ông lên trạm y tế với hy vọng cứu chữa

Theo duy tâm, khi thắp hương, dù là ở đâu cũng cần hai thứ, đó là lửa (đèn hoặc nến) và nước trắng. Thôi, theo thuyết nào chúng tôi không dám nhấn mạnh, nhưng học các cụ ngày xưa vẫn làm, thì mình làm theo thấy lòng dạ nó yên tâm, vậy thôi.

Khi lễ vật đã được sắp đặt hoàn chỉnh, hương khói nghi ngút, tôi xin phép được thay mặt các cô chú, anh chị em, các cháu chắt trong gia tộc hiện có mặt trong chuyến đi, thay mặt bạn bè, những người có nhân duyên với cụ Vĩnh hiện diện ở cái nơi linh thiêng này, để thỉnh với vong hồn của cụ, trước sự chứng giám của Trời, Phật và các Thánh thần. Tôi đọc lại một đoạn điếu văn của ông Nguyễn Mạnh Bổng (…1952), bút hiệu Mân Châu, nhà văn, anh ruột nhà văn, nhà chính trị Nguyễn Tiến Lãng (1909-1976). Nguyễn Mạnh Bổng còn là anh vợ của học giả Phan Khôi (1887-1959) và thi sỹ, nhà văn Tản Đà (1889-1939).

Le dang huong

Lễ dâng hương tưởng nhớ nhà báo Nguyễn Văn Vĩnh sau đúng 80 năm

Chúng tôi mời ông Vũ Thế Khôi (Trưởng Nam của cố Bộ Trưởng Giáo dục đầu tiên của Chính Phủ VN năm 1946), thay mặt tất cả, đọc lại toàn văn quyết định ngày 24.3.2016 của Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh vinh danh Nguyễn Văn Vĩnh là Danh nhân Văn hóa Việt Nam.

Dưới cái nắng cháy, bên dòng sông Sê Pôn lịch sử, cả một vùng núi rừng yên tĩnh… giọng ông Khôi nấc nghẹn làm lan tỏa cái không khí trầm mặc và xót sa sang tất cả các thành viên có mặt trong buổi lễ khác thường này. Những người có mặt, mắt đều nhòe đi trong cái giây phút lắng đọng.

Cũng phải nói đúng bản chất của sự việc, rằng mắt mọi người nhòe đi, phần vì âm hưởng của cái chất giọng nghẹn ngào do người đọc mang đến, nhưng mặt khác cũng do chính ông Mặt Trời tạo ra. Ai cũng mồ hôi ướt đẫm, nhưng không thấy ai lau mắt. Hình như cái nỗi cay đắng khi biết một con người trung thực, tài ba đã phải bỏ mình ở cái nơi thăm thẳm này, nó có điều gì bất công quá, và hình như, ý nghĩ này, nó nằm sẵn trong lòng mọi người rồi. Ông Mặt Trời như muốn lôi tất cả nỗi đắng nỗi cay trong mỗi người phải trào ra khỏi những cái thân thể đang phơi dưới cái nắng như lửa cháy. Hình như ông Mặt Trời muốn nói, nếu ngươi chưa thấy cay, ta sẽ làm cho ngươi biết cay thật sự….

Thật lạ lùng vì trong lúc ông Vũ Thế Khôi đọc bảng vinh danh cụ Vĩnh, một con bướm to, rất to, màu đen pha trắng đã điềm nhiên đậu trên bó hoa huệ nơi đặt đồ lễ thắp hương. Ai đó có thể tin hay không tin về cái thuyết mà người đời vẫn dạy, rằng đó là vong hồn của người quá cố đã linh thiêng hiện về để tri ân với hậu thế. Chúng tôi, là những kẻ học cách hành xử theo lời răn của đạo lý, rằng lòng biết ơn là vốn quý không thể thiếu của cái đạo làm người. Và tất cả chúng tôi, những người có mặt vào cái thời khắc tuyệt vời đó, đều tin điều này một cách tự nhiên.

Kết thúc buổi lễ, cô Lợi Mỹ, cháu nội của cụ Vĩnh đem những cành hoa huệ và hoa hồng rải xuống lòng sông Sê Băng Hiêng, như để thưa với vong hồn của người quá cố lời tạm biệt. Cô Lợi Mỹ đã nói rõ thành lời rằng:

Chúng con xin phép ra về, cụ linh thiêng, che chở chúng con trên chặng đường dài. Cho chúng con được đi đến nơi và về đến chốn, mọi sự tốt lành!

Mọi người hả hê như vừa hoàn thành một công việc, mà việc đó đã làm cho bản thân mỗi người thấy thư thái, mãn nguyện. Lau khô mồ hôi, ai cũng tự nhận rằng, không, đường đi có khó gì đâu?! À mà sao mọi việc tuyệt vời thế nhỉ?! Mà sao xuất hiện con bướm đúng lúc thế nhỉ? Bao giờ chúng mình sẽ lại đến đây được?!

Tuong niem

Giây phút tưởng nhớ nhà báo Nguyễn Văn Vĩnh dưới ánh nắng gay gắt

Đường số 13

Xe chạy thêm gần hai chục km, chúng tôi đến thị trấn Mường Phìn để ăn cơm trưa. Tôi lại hoài niệm, kể với mọi người cái lần đầu được đặt chân đến miền đất này, có phải là do công cán gì đâu. Cấp trên cử đi công tác đến Bản Đông thôi, nhưng mấy thằng lính vô kỷ luật, lại khát khao được nhìn thấy đàn bà, con gái, thế là lấy cả một chiếc xe Zil 157 ba cầu, chạy vào tận đây của nước Lào, bắt chấp việc anh lái xe đang lên cơn sốt rét 40 độ, chỉ để ngắm các cô gái Lào Lum (Lào trắng). Mà khốn nạn, cũng có thấy cô gái nào đâu. Chỉ có núi, rừng và lác đác vài ba ngôi nhà sàn với những cư dân gầy guộc, đen đúa. Nói ra để mọi người cùng nhận thức câu nói chua chát của người đời, Một đời lính…ba đời tráng, là thế.

Bữa cơm đầu tiên trên đất Lào của cả đoàn thật vui, mặc dù thức ăn ở đây không hợp miệng lắm. Mọi người vui, lý do chính là vừa hoàn thành mục tiêu quan trọng nhất của chuyến đi. Các bà các chị trong đoàn gọt hoa quả cho mọi người ăn tráng miệng, nhưng thực chất là chia nhau lộc sau khi thắp hương lễ cụ Vĩnh.

14h00, chúng tôi lại lên xe đi đến Tha Khet, thủ phủ tỉnh Khăm Muộn. Đoạn đường còn lại dễ đi và không xa. Tôi đã giải thích trước với mọi người, rằng ai đã từng đến nước Nga, nơi có những cánh rừng bạch dương mênh mông, thì vùng rừng Lào ở miền đất này cũng mênh mông không kém. Đường bằng phẳng, ít phương tiện, người thưa, chất lượng đường tốt tuy không rộng, nên xe chạy bình thường là 80 km/h.

Mọi người đã vô cùng thích thú khi xe đến ngã tư đường số 9 và đường số 13, cách Savanakhet 40 km. Thị trấn Seno khá sầm uất, bên đường người dân bán rất nhiều quả thốt nốt tươi. Ơn Trời, tôi được đi nhiều, kể cả vùng Đồng Tháp, Kiên Giang, nhưng tôi cũng chưa ăn quả thốt nốt tươi bao giờ. Ý nghĩa của một chuyến vi hành có rất nhiều, trong đó có việc phải giúp các thành viên biết các loại hoa quả và  thức ăn của dân bản địa. Tôi đề nghị dừng xe để mua quả thốt nốt tươi đã được bóc vỏ. Mọi người cần được ăn thử. Tôi nhảy vào chỗ mấy người Lào đang bóc vỏ quả thốt nốt. Tôi cầm một chùm thốt nốt mang lên xe để mọi người được thấy tận mắt. Việc ai đó thích hay không thích, không quan trọng. Quan trọng là khi họ trở về sau chuyến đi, họ có thể nói trước mặt kẻ khác, rằng tao ăn quả thốt nốt tươi rồi… nó ngọt, nó nhạt sẽ do người kể lại, nhưng rõ ràng, người kể đã là kẻ hiểu biết!

Thành phố Tha Khet có vẻ đơn giản và không ồn ào. Bữa cơm tối hôm đó ăn toàn các món cá. Ở đâu cũng vậy, nấu cá bao giờ cũng phải có ớt. Không vô cớ mà tôi đã phải viết thư trước cho các bạn Lào và tô đậm dòng chữ lưu ý: Đề nghị không cho ớt vào thức ăn vì có trẻ em, nhưng họ vẫn cho. Thế là khổ thân các cháu bé không ăn được như bình thường (có 4 cháu từ 6 đến 14 tuổi). Chưa nói đến việc, có người còn không bao giờ ăn cá. Không vô cớ, trong thông báo tôi gửi đến các thành viên của chuyến đi, tôi đã ghi hẳn một mục dành cho những người ăn kiêng…

Thật may, khi không khí của buổi ăn tối có phần dã đám, thì nhà hàng nổi nhạc bài hát Hoa Chăm pa, một bài hát Lào mà người Việt Nam nào khi nghe cũng thích vì cái giai điệu mượt mà dễ cảm nhận. Tất cả các cô gái phục vụ của nhà hàng đều mặc váy sà rông màu đỏ, xếp thành hàng và bắt đầu múa theo điệu nhạc. Cả đoàn chúng tôi bừng lên và chuyện bữa ăn có vẻ như không được thỏa mãn đã lập tức nhường chỗ cho một bầu không khí náo nhiệt. Mọi người thích không phải vì các cô gái Lào múa đẹp, không phải vì dàn âm thanh công xuất lớn, mà thích vì cái sự tự nhiên của các cô phục vụ. Họ tự nhiên nhưng không tự dưng thô kệch. Họ tự nhiên và niềm nở với dáng vẻ chân thành, và điều đó đã cuốn cả phần hồn của những người khách ở xa đến.

Kết thúc một ngày thành công. Mọi người về phòng trong trạng thái đều muốn ngủ sớm. Tôi cố níu kéo đôi ba người ngồi lê ở vỉa hè trước khách sạn để thưởng thức cái không khí êm đềm của một thành phố nhỏ bên một dòng sông hùng vỹ. Tôi đề nghị lại uống bia để có cớ ngồi lâu. Đáng tiếc, mấy anh ngồi lại với tôi thực chất vì nể tôi là thằng cầm cái thôi, chứ hầu hết đều giơ tay hàng trước bia rượi và thuốc lá. Nếu có uống, mọi người chỉ uống rất “ví dụ” vì nhiều lý do khác nhau.

Còn tôi, càng nhiều tuổi càng hư… chẳng chịu bỏ thứ gì! Có người bạn đã khẳng định, ông như vậy chẳng qua là để bù lại hồi trẻ thôi. Tám năm lính (5 năm trong Trường Sơn) mà không hút thuốc lá, không biết uống rượu. 29 tuổi mới dám cầm tay phụ nữ… nên bây giờ, già rồi, sống giả bữa mới hư thế!

Ngày thứ Ba

Ỏ Tha Khet, khách sạn chúng tôi đến nghỉ, nằm đối diện với một trường học, trên một con phố không rộng. Buổi sáng, tôi xuống xe sớm hơn để động viên mọi người cho được đúng giờ, xếp đồ vào xe ô tô rồi mới vào ăn sáng. Một vài người trong đoàn cũng dậy sớm, tha thẩn trước cửa khách sạn với thái độ tò mò muốn được chứng kiến cảnh ban mai ở một đô thị lẻ ở nước người.

Lúc này mới khoảng 6h30. Từ xa, chúng tôi nhìn thấy hai vị sư trẻ đi khất thực. Họ đi chân đất, nhịp đi không nhanh, nhưng không hề chậm. Chiếc áo nhà Phật được họ cuốn quanh mình rất khéo và toát ra vẻ sạch sẽ, tinh tươm. Một người phụ nữ, từ một ngôi nhà bên đường chạy ra, vượt sang bên kia đường, hướng đi hai vị sư đang  tới. Bà ôm khá nhiều thứ và xếp ra trước mặt, ngay trên vỉa hè. Những thứ đồ trông xa, tôi hiểu là đồ lễ. Bà làm mọi việc nhanh nhẹn và cẩn trọng, rồi bà chắp tay, miệng đọc kinh. Hai vị sư đến trước bà và dừng lại, đứng đối diện người phụ nữ đang đọc kinh. Sau vài ba phút, hai vị sư đưa chiếc giỏ của mình ra trước mặt, người phụ nữ thận trọng xới xôi từ chiêc giỏ đựng của mình, đưa vào giỏ của hai vị sư. Kết thúc, hai vị sư đọc một đoạn kinh Phật (tôi đoán thế). Họ đọc đồng thanh, vừa đủ để chung quanh nghe thấy. Tôi và mọi người đứng nghe nhưng không ai hiểu gì.

Hiểu có lẽ không quan trọng bằng việc chúng tôi được chứng kiến cách thức, thái độ, vẻ mặt, tác phong của người cho và người nhận, thật là trân trọng, chân thành, khó mà ngờ vực sự thành tâm của cả hai phía. Có lẽ, việc một quốc gia, một dân tộc cần có một Quốc giáo là điều thật cần trong tâm thức của dân chúng. Từ lâu, tôi nghĩ nhiều về khía cạnh này, tôi đồ rằng, người Việt Nam (nhất là phía Bắc) hay nói tục, chửi bậy có căn nguyên từ sự vô đạo!

Ăn sáng xong, chúng tôi lại lên đường. Xe chạy êm ả, nhiều đoạn song song với dòng sông Mê Công mênh mông. Xe đến ngã ba sông Nam Khacdin, cảnh quan thật êm đềm. Ngã ba sông, nhưng nó không sôi réo với sóng nước cuồn cuộn như ngã ba sông ở Việt Trì. Rừng núi hai bên bờ xanh ngắt, dòng nước yên ả, có phần hiền hòa. Có lẽ, với bối cảnh thiên nhiên này của tạo hóa ban tặng, nên người Lào thường nhẹ nhàng, ít thấy có sự hiếu chiến, hung hăng.

Chúng tôi muốn xuống xe để chụp ảnh, nhưng theo dự kiến, xe sẽ dừng tại thị trấn Nam Khacdin, cách ngã ba sông chỉ chừng non một cây số để mọi người được thưởng thức những món ăn đặc trưng bày bán la liệt ở hai bên đường. Chi tiết này không được dự kiến trong lịch trình, nó chỉ được quyết định sau khi tôi trao đổi với cô hướng dẫn và người lái xe.

Tôi muốn mọi người được chứng kiến cuộc sống đời thường của người dân địa phương. Còn chuyện vệ sinh thực phẩm, có lẽ không đến nỗi lo quá. Bừa bãi, vô lối như ở VN, dởm từ viên thuốc chữa bệnh đến bằng tiến sỹ, giáo sư… mà mắt xanh, mũi lõ còn lê la khắp các hang cùng, ngõ hẻm. Chắn chắn họ biết sự thiếu đảm bảo về chất lượng của đồ ăn, nhưng họ vẫn dùng. Trong khi giá trị mạng người ở ta và ở các nước phát triển khác nhau không tính được theo quy tắc nào. Ai không tin, xin cứ xem các mức bồi thường của xã hội với những trường hợp rủi ro của người dân thì tự đánh giá được rằng điều tôi lưu ý có đúng không.

Quyết định dừng chân này còn liên quan đến vấn đề tài chính. Bởi lẽ, tôi đề nghị chi phí cho việc dừng chân này sẽ do BTC chịu trách nhiệm. Tôi để mọi người tự do lựa chọn các món ăn theo ý thích và sự tò mò cá nhân, một trong những khía cạnh tạo nên tính khám phá, một bản năng tích cực của con người.

Ngoài ra, trên thực tế, chỉ có một vài người có tiền Kíp của Lào do tự ý đổi tiền  ở cửa khẩu Lao Bảo – Densavan. Hầu hết, kể cả bản thân tôi cũng mang tâm lý rằng, không cần đổi vì ở Lào có ý định mua bán gì đâu. Nếu phục vụ ý đồ mua sắm, khi sang Thái Lan sẽ đổi tiền Bạt. Tuy nhiên, tôi đã chỉ đạo từ đầu, phải đổi một số tiền nhất định, phục vụ cho cả đoàn nếu có yêu cầu chi phát sinh trong thời gian ở trên đất Lào. Việc dừng chân và nếm náp “của ngon, vật lạ” của cả đoàn ở thị trấn Nam Khacdin trên đường 13 là phát sinh chứ còn gì nữa?!

Tôi rất vui khi chứng kiến mọi người ăn uống tưng bừng, người thì thử món cá nướng của sông Mê Công, người thì thử món thịt lợn, bò nướng, gà nướng. Đặc biệt, ai cũng thích ăn xôi Lào đựng trong những chiếc giỏ tre xinh xắn. Nước khoáng Lào hơi đắt so với La Vie ở VN, nhưng ai uống cũng đồng ý thấy trong miệng nó lành lành. Lang thang ở VN mà mua được La Vie còn thấy yên tâm, chứ các nhãn mác khác của nước uống bán dọc đường, mọi người đều bị chi phối bởi cái tâm lý ngờ vực. Ở đời, lúc đã nghi ngờ mà vì bất đắc dĩ vẫn phải sử dụng… thì làm sao sướng?

Hơn bốn chục con người, nếm náp các loại, ăn uống các kiểu… khi thanh toán, quy ra tiền Việt, tổng số mới là hơn một triệu đồng. Thật trân trọng người Lào vì các quán bán hàng đều đồng loạt khẳng định: chỉ bán bằng tiền Kíp! Khác hẳn ở ta, một nền luật pháp không phải luật pháp đối với lĩnh vực ngoại hối, nhất là trong những ngày qua, việc truyền thông xã hội phản ánh sự coi thường đồng tiền VN của các vị khách du lịch TQ ở Đà Nẵng, không những không thèm thanh toán bằng tiền Việt, mà còn ép người bán hàng VN phải nhận bằng tiền TQ… và người VN… vẫn nhận. Thật là tệ hại!

Trong đoàn, có người sẵn sàng tỏ thái độ mạnh thường quân trong việc chi trả mang tính chiêu đãi tất cả mọi người, nhất là khi thấy hài lòng ở những sự kiện vô tình, nhưng không có tiền Kíp thì làm gì được?! Không thể cậy, vì trong túi mình có một xấp Đôla Mỹ được. Thế mới thấy, việc chỉ đạo đổi một số lượng tiền Kíp nhất định dùng cho việc chi tiêu chung, thật là sáng suốt (tôi tự đắc mà).

Buổi cơm trưa mới thật là ấn tượng. Chúng tôi (người tổ chức, hướng dẫn và lái xe) không áy náy về việc ăn trưa hơi muộn, bởi lẽ đã có buổi dừng chân ngoài dự kiến để thưởng thức các loại đồ nướng rồi. Không lo mọi người rơi vào cảnh quá đói. Đây là một trong những bài học cho những người hướng dẫn vi hành. Tuyệt đối không nên để đoàn bị quá bữa trên hành trình, điều này vừa phản khoa học, vừa có thể có những diễn biến bất lợi đối với những trường hợp bị hạ đường huyết. Tôi đã gặp đôi lần tình cảnh như vậy.

Nơi ăn buổi trưa hôm đó là một nhà hàng rộng lớn nằm sát bờ sông Mê Công, thành phố Pakxane, thủ phủ của tỉnh Bô Ly Khăm Xay. Ngắm nhìn dòng sông hùng vỹ thấy lác đác những người dân đang giăng lưới với những con thuyền nhỏ đơn độc. Một cảnh trí êm đềm một cách mênh mông. Tuy chúng tôi đến ăn muộn, nhưng thức ăn đều tươi và nóng. Tôi thấy con cá hấp nóng hổi, tỏa ra mùi hương thơm lừng, tôi hiểu đó là đồ tươi. Tôi đụng đũa vào xé con cá thấy cảm giác dai dai, không hề  bị nát vụn. Đưa lên miệng mới thấy nó ngon đến thế nào… Món nộm cũng rất hấp dẫn, không kể những đồ ăn khác. Tôi yên tâm thấy mọi người ăn uống ngon lành kèm theo những lời khen tấm tắc.

Xe đến thủ đô Viên Chăn. Mọi người lại hào hứng quan sát các con đường xe đi qua. Không khí đô thị thấy cũng na ná như ở VN, nhưng có một thực tế mà một cháu bé 12 tuổi trong đoàn nhận ra ngay lập tức, cháu kêu: xe máy ít hơn ở VN, nhưng ô tô nhiều hơn… Đặc biệt hơn, tất cả đều khoái chí khi cùng nhận thấy một thực tế, là tuyệt nhiên không nghe thấy tiếng còi xe, kể cả ô tô lẫn xe máy, nhất là những tình huống mà nếu ở VN, chắc chắn sẽ là nhấn còi cho đến khi còi vỡ.

Việc người Lào nghiêm túc trong chuyện dùng đồng tiền ngoại tệ và không dùng còi xe tùy tiện… Người Việt cần tự nhận thấy mình là ai khi nhìn từ khía cạnh này?!

Để tranh thủ thời gian cho ngày hôm sau đi sang Thái Lan, chúng tôi đưa cả đoàn đi thăm Thạt Luông (Thatluang), một di sản nổi tiếng của Viên Chăn, trước khi về khách sạn nghỉ ngơi.

Tap the Thapluong

Toàn đoàn chụp trước Thạt Luông (Thatluang) Viên Chăn

Xe đưa chúng tôi đến khách sạn Lao Plaza, tôi không tin rằng đây là khách sạn 5 sao? Không phải vì nó không nguy nga, tráng lệ, mà vì thỏa thuận của tôi với các bạn Lào chỉ là hơn 4 triệu đồng VN/người, mà chúng tôi ở trên đất Lào 3 đêm và 4 ngày. Chưa nói đến lệ phí cho 4 lần xuất, nhập cảnh giữa VN, Lào và Thái Lan đều nằm trong khoản tiền đó. Trong thông báo giữa chúng tôi, đêm ở Viên Chăn sẽ chỉ là khách sạn 4 sao thôi.

Khi phân chia phòng cho mọi người, tôi lưu ý không kịp một số chi tiết liên quan đến dịch vụ ở khách sạn 5 sao. Từ bể bơi, chìa khóa điện tử, ăn sáng, những vật dụng trong phòng ở… Cái gì được miễn phí, cái gì phải trả tiền. Tuy nhiên, mọi sự cũng ổn định nhanh chóng. Phiền toái duy nhất, đó là việc khách sạn không đồng ý để phòng hai giường mà ở 3 người. Các đêm trước, tôi xử lý việc này đơn giản, nhưng ở đây phải theo quy chế của cái ông nhiều sao. Khó nữa, vì chỉ ở phòng đôi, nên dư ra một phụ nữ và một đàn ông, không thể ghép để ở một phòng.

Thật khôi hài khi nghĩ đến tình huống này, rằng đúng là âm… dương cách trở! Vậy nhưng với nhiệt tình của các bên liên quan, với thiện chí và tâm tính hiền hòa của người Lào, các vấn đề khúc mắc đều được xử lý theo hướng hài hòa.

Một người họ hàng với tôi, chứng kiến cảnh mặt mũi căng thẳng của tôi, anh đã nói nhỏ thế này:

Khổ thân anh, anh cứ để mọi người ở 3 sao cũng được mà. Ở đây anh phải bận hơn, khổ cho anh!

Tôi hiểu, anh Hiệp muốn an ủi, động viên tôi, chứ trong lòng chắc anh cũng thích cái vẻ văn minh, sang trọng ở một khách sạn có hạng. Tôi xác định với anh Hiệp:

Thế mới là tôi! Anh có tin rằng, có những người, đây là lần đầu tiên ở khách sạn 5 sao và cũng là lần cuối cùng không? Tôi muốn, chí ít, đây sẽ là những kỷ niệm đẹp cho mọi người, kể cả người dư giả và người khó khăn… Anh yên tâm đi, tôi biết mình phải làm gì?!

Tôi khoái chí vì mọi việc đã yên ổn, tôi mò lên bể bơi của khách sạn ở tầng 2, nhìn thấy các cháu bé và đôi người là thành viên trong đoàn của mình đang nô đùa hả hê trong bể nước trong vắt… tôi hài lòng lắm. Làm cho người khác hạnh phúc, là mình hạnh phúc. Hay nói theo kiểu lời dạy của các đức thánh hiền là: Làm phúc là làm giàu mà!

Thấy khung cảnh đẹp, lòng dạ đắc chí vì nghĩ chắc mọi người giờ này hài lòng lắm, tôi huênh hoang gọi người nhân viên phục vụ lấy một chai bia lạnh để tự thưởng. Người nhân viên là một thanh niên đẹp trai, cao lớn ra cúi chào trân trọng với cái khay, trên là chai bia và chiếc cốc thủy tinh long lanh. Tôi hỏi:

Xin lỗi, chỉ có bia Lào thôi sao?

Anh ta trả lời với thứ tiếng Anh hơi kiểu Lào (khi nói, âm không được nét):

Có cả bia Thái Lan nữa thưa ông!

Tôi đồng ý mở chai bia Lào anh mang đến. Anh đặt trước mặt tôi phiếu thanh toán. Tôi giật thót khi anh vừa đưa phiếu thanh toán vừa nói: 6 US Đôla!

Tôi giở ví cho oai, chứ trong ví làm gì có tiền. Ngoài mấy ngàn Kíp mới cầm của vợ, trong ví có một ngăn để các loại tiền lẻ, kỷ niệm sau những lần đi đây đi đó từ nhiều năm trước. Đặc biệt có những đồng 1 và 2 Đôla là tiền mừng tuổi từ bao giờ. Tôi đếm được 5 Đôla loại 1 đồng, thiếu 1? Tôi đành nghiến răng rút tờ 2 Đôla, tờ tiền may mắn được con gái lớn mừng tuổi từ năm nào. Cậu nhân viên rót bia, nhận tiền và nghiêng mình cám ơn tôi. Tôi nghĩ, cung kính là đúng rồi, vì 6 Đôla chứ có đùa đâu!

Cuộc sống có lẽ không phải chỉ như vậy… Theo tôi, người Lào ở đâu cũng thế, lúc nào họ cũng nhẹ nhàng và cung kính. Tôi rất tin điều đó ở họ.

Uống hết chai bia cũng là đến giờ đưa mọi người đi ăn cơm chiều. Lúc này đã là 7 giờ tối. Cả đoàn trước khi lên xe đã cùng nhau chụp một bức ảnh trước khách sạn. Khách sạn to thật, lớn và thật đẹp.

Tap the lao Plaza. 16.6

Toàn đoàn chụp trước khách sạn Lào Plaza – Viên Chăn.

Bữa ăn tối được đặt trước ở một nhà hàng khách sạn khác, nơi có hẳn chương trình ca nhạc dành cho các vị khách thập phương. Không khí vui vẻ trong tiếng nhạc với những ca khúc xen lẫn Việt, Lào, Hàn Quốc…

Kết thúc một ngày nữa an lành. Tôi vẫn rình, để xem có ai rủ đi chơi đêm ở Viên Chăn, nhưng nhìn lướt thấy tất cả chui về phòng hết, chẳng hy vọng gì. Nói thật, cũng thấm mệt nên tôi đành về ngủ sớm. Ngủ ở 5 sao chắc sẽ ngon hơn?! Cứ nghĩ như thế, đời sẽ là như thế!

Hết phần 2

Phần 1

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *