80 NĂM TÌM LẠI SÊ PÔN – LÀO – Phần 1

Mấy lời phi lộ.

Kính thưa các quý vị độc giả của trang tin Tannamtu.com!

Kỷ niệm 80 năm ngày học giả Nguyễn Văn Vĩnh qua đời.

Nhân việc Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh vinh danh học giả Nguyễn Văn Vĩnh là Danh nhân Văn hóa Việt Nam thời hiện đại, ngày 24.3.2016 tại TP.HCM.

Nhân 10 năm khởi sự làm bộ phim tài liệu lịch sử về nhà báo, học giả Nguyễn Văn Vĩnh và gia tộc “Mạn đàm về Người Man di hiện đại” 2006 – 2016.

Ban Biên tập Tannamtu.com đã tổ chức thành công chuyến vi hành trở lại Sê Pôn, miền Nam nước Lào, nơi nhà báo Nguyễn Văn Vĩnh đã ra đi mãi mãi, từ ngày 14 đến ngày 19.6.2016 với hành trình 2.300 km bằng ô tô.

BBT chúng tôi xin được tường thuật lại toàn bộ chuyến đi cùng những diễn biến quan trọng của hành trình 5 đêm, 6 ngày, để chia sẻ với những người thân trong gia tộc và các bạn đọc, một hoạt động vừa mang tính tri ân với người quá cố, vừa có tính tham quan, học hỏi lịch sử, xã hội, thiên nhiên, văn hóa và con người của ba nước Việt – Lào – Thái Lan.

Các bức ảnh minh họa do các thành viên trong đoàn tự chụp bằng những loại máy ảnh khác nhau nên chất lượng không được đồng đều, tính nghệ thuật thấp cho dù người chụp đã cố gắng khi bấm máy. Đáng tiếc, vì có người dùng loại máy ảnh cao cấp, nhưng thiếu chú ý về bố cục của bức ảnh khi chụp, đồng thời không quan tâm đến phần hồn của kiểu ảnh mình chụp, nên đã bỏ lỡ nhiều fa chụp đáng lý ra có thể đem lại cho người xem nhiều cảm xúc hơn. Chúng tôi xin lỗi các quý vị về khía cạnh này.

Tuy nhiên, trong một chừng mực nào đó, các bức ảnh vẫn mang được hơi thở và tính thời sự của chuyến đi.

Chúng tôi hy vọng các quý vị độc giả sẽ cảm nhận được từ những góc độ nào đó ý nghĩa nhiều mặt của sự kiện này.

Kính trọng!

BBT Tannamtu.com

80 NĂM TÌM LẠI SÊ PÔN – LÀO.

Biết ơn Tạo hóa, biết ơn Trời Phật và các Thánh thần, biết ơn những linh hồn linh thiêng của những người thân đã mất…. Tôi là kẻ lãng du luôn gặp may!

Nguồn cơn.

Năm 2015, rất nhiều người thân hỏi tôi: sang năm 2016, ông Bình có dự kiến cho chương trình đi xa nào không? Nếu có, cho tham gia và báo sớm nhé, để chuẩn bị!

Nhiều người họ hàng của tôi, đã loáng thoáng biết, năm 2016, tôi có nhiều dự định, trong đó có cả lịch trình sang Sê Pôn, nơi cụ Nguyễn Văn Vĩnh thoát xác vừa tròn đúng 80 năm.

Đã từ nhiều năm nay, bạn bè, người thân đều có nhiều ấn tượng mạnh khi có dịp đi xa do tôi cầm cái. Nhiều lần thành công, thậm chí dám tự nhận là thành công mỹ mãn, đã tạo cho nhiều người trong các chuyến đi đó quen nghĩ, cứ vào đầu năm, phải hỏi “thằng cha” này xem năm nay có tổ chức đi đâu không để còn liệu…

Riêng tôi, tôi đã có quyết tâm từ giữa năm 2015, rằng phải đến lại Sê Pôn, vì là giỗ cụ Vĩnh lần thứ 80, và phải phấn đấu có mặt tại chân cầu Sê Băng Hiêng vào đúng ngày sinh của cụ Vĩnh 15.6, như thế mới thật có ý nghĩa. Mặc dù tôi biết, đó không phải là nơi cụ Vĩnh mất, nhưng là nơi mà người dân địa phương đã thấy Nguyễn Văn Vĩnh, một thân một mình, một tay vẫn giữ chặt cây bút, còn tay kia là một cuốn sổ ghi chép dở, trên một con thuyền độc mộc sau một đêm mưa gió tơi bời. Người dân đã đưa cụ Vĩnh, toàn thân tím đen lên trạm y tế Sê Pôn, với hy vọng có thể còn cứu chữa được…

Tôi đã thành hình trong đầu một lịch trình cho chuyến đi từ trước Tết Nguyên Đán 2016. Tết vừa đi qua, đã có người điện thoại hỏi tôi rằng có lịch đi năm nay chưa? Khoảng ngày nào để họ còn thu xếp. Người thì thu xếp với cơ quan để xin nghỉ phép, người thì thu xếp với con cháu trong nhà để sắp đặt với con cái việc trông nom cháu ngoại, cháu nội. Cũng có người, lo thu xếp việc gom góp tiền, sao cho đủ để đóng cho chuyến đi mà sẽ không phải xin con cái… Và đã có người bắt đầu “rộn ràng” trong suy nghĩ, trong tâm lý, mong đợi đến ngày lên đường.

Ngay từ tháng Hai, tôi đã lên lịch dự kiến. Tôi quyết định mục tiêu thứ nhất của chuyến vi hành, là đến cầu Sê Băng Hiêng trên sông Sê Pôn, làm lễ tưởng niệm cụ Vĩnh tại chân cầu cũ đã bị đổ. Khi hoàn thành mục tiêu này, sẽ đưa mọi người đi thăm nước Lào. Những lần đi trước, chúng tôi đã đi đến Savanakhet, từ đấy chúng tôi sang Thái Lan, đến Nakhonphanon, Băng Cốc, Pathaya. Nhưng nếu lần này cũng lại đi hành trình tương tự, sẽ làm cho mội số người đã từng đi dễ bị nhàm chán. Hơn nữa cần cân nhắc về chuyện thời gian cũng như tiền bạc. Cuộc sống và hoàn cảnh của nhiều người không hề dễ để nghỉ liền 9 hay 10 ngày. Việc góp tiền nhiều triệu đồng cho một chuyến đi cũng là điều nan giải đối với đôi ba trường hợp, nhất là những người chỉ sống bằng lương hưu nhưng lại tha thiết muốn được tham gia khi nghĩ đến 80 năm ngày cụ Vĩnh mất..

Và tôi đã nghĩ ra việc sẽ đưa mọi người đi ngược lên Thủ đô Viên Chăn, rồi từ Viên Chăn sang Thái Lan qua cầu Hữu nghị Một, đi thăm tỉnh Udon Thani. Tôi dự kiến lịch trình sẽ chỉ là 6 ngày 5 đêm, với mức tiền dự chi là 6.800.000 đồng (Sáu triệu tám trăm ngàn) cho một người. Tôi biết trước, số tiền này sẽ là vô cùng khó khăn đối với những người bạn bộ đội của tôi, những người chỉ có mức lương hưu từ 3 đến 4 triệu đồng/tháng. Nhưng tôi đã gói ghém để tiết kiệm hết sức rồi.

Thực tế, cũng có thể hạ mức đóng góp xuống thấp nữa, nhưng nếu vậy, các điều kiện sinh hoạt sẽ bị hạn chế, xe ô tô sẽ kém chất lượng hơn, ăn uống cũng sẽ không thật thoải mái. Trong khi, tôi muốn xe đi phải là HYUNDAI đời 2015, đến Viên Chăn sẽ được ở khách sạn 4 sao, ăn phải ngon, bữa nào cũng phải có bia rượu loại tử tế… Tôi biết mình hơi tham, nhưng không khát khao làm thật tốt, chất lượng thật hoàn hảo, thì mọi người cần gì đến việc đi với tôi!

Chuẩn bị.

Tôi bắt đầu thỏa thuận các điều kiện với với các bạn bên Lào. Tôi trao đổi vởi  Công ty cho thuê xe dịch vụ TTN, mục đích là nhất thiết tôi phải được thuê loại xe như dự kiến và người lái xe do tôi đề nghị. Tôi dự trù các khoản chi. Tôi liên hệ với các khách sạn nơi đoàn dự định sẽ nghỉ đêm. Để chắc chắn (vì là tháng Sáu, tháng cao điểm của nghành du lịch), tôi chấp nhận đặt cọc sớm nếu cần đối với các đối tác. Tôi động viên tinh thần các đối tượng có nguyện vọng muốn được tham gia, thúc đẩy những người họ hàng giữ vững quyết tâm đi. Tôi ưu tiên cho hai đối tượng mà với tôi, tự thấy có nghĩa vụ phụng sự họ, đó là các cô chú và anh chị em, cháu chắt trong họ. Thứ hai là các bạn bộ đội, những người đã từng gắn bó với tôi từ lúc còn là một lũ thanh niên ngây ngô, dớ dẩn. Tiếp theo mới là những người bạn thân, những người có tấm lòng trân trọng sự nghiệp của cụ Vĩnh.

Xe ôtô chỉ có 45 chỗ ngồi, không thể đi nhiều hơn số lượng đó. Tôi kiểm tra độ dài các cung đường xem có tương ứng với các bữa ăn trong ngày không, căn bản là làm sao đừng để quá bữa mới được ăn. Chiều dài quãng đường xe chạy trong một ngày phải phù hợp với sức khỏe và khả năng chịu đựng của các thành viên, không phân biệt tuổi tác. Cân đối, dự kiến các khoản chi phí, sao cho mọi thành viên đều thấy dễ chịu và có khả năng chi trả. Tìm mọi cách để phải có một nhân viên y tế, nếu không “lừa” được người thân nào là y, bác sỹ đi cùng, phải nghĩ đến việc thuê theo thỏa thuận. Những bữa ăn nếu không thật tốt, thì cũng phải lành và đủ. Chọn được loại xe mà tôi chắc chắn là xe “ngon” và lái xe phải là tài xế “xịn”…. Chao ơi là các mối lo, nhưng việc nó phải thế!

Thật tuyệt vời, vì trong giai đoạn chuẩn bị cho chuyến vi hành, Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh quyết định vinh danh cụ Vĩnh là Danh Nhân Văn hóa Việt Nam. Sự kiện này đã ảnh hưởng sâu sắc đến tâm lý, tình cảm, không phải chỉ với các con cháu là hậu duệ của học giả Nguyễn Văn Vĩnh, mà còn là sự tác động mạnh lên tâm tư của nhiều người thân trong xã hội. Thực tế này, tạo một sự thiết tha đối với nhiều người, mong muốn có được cơ hội đến được địa điểm linh thiêng, nơi một danh nhân xuất chúng đã từ biệt cõi trần.

Tôi đã khá chật vật trong việc điều chỉnh nhiều chi tiết của lịch trình, tôi cần sự cụ thể và chính xác về các điều kiện và các địa danh nơi đoàn sẽ đến. Vì thế, các văn bản dự thảo đã phải sửa đi sửa lại, in đi in lại để có được sự hoàn chỉnh tương đối, rồi mới dám gửi đến cho mọi người có nguyện vọng tham gia để thực hiện.

Nói về chuyện này, tôi đã có lúc rất bất bình với đôi ba người đã khá “tự nhiên” quan liêu. Có người, khi nhận được văn bản, đơn thuần chỉ quan tâm ngày nào đi, đến những đâu, và bao nhiêu tiền…. Có người, tuyệt nhiên không quan tâm đến phần chỉ dẫn, bất chấp cả việc tôi đã viết chữ to, in đậm và khẳng định: Yêu cầu đọc kỹ phần tiếp theo!

Tôi phải tự an ủi để không bực mình khi có những người điện thoại đến hỏi tôi về những chi tiết mà đã được lưu ý trong văn bản hướng dẫn. Vài ba người đó dã không đọc, hoặc đọc đấy… rồi bỏ đấy, một lối sống đúng là sản phẩm của một xã hội hời hợt, hoặc đã quen với lối tư duy: đã có tổ chức lo…

Tôi cũng biết, có người không bao giờ phải sống cuộc đời lo cho người khác, quan tâm đến người khác, đặt địa vị mình là người ta…. Đáng tiếc nữa, những người đó hình như  hoàn toàn không cảm nhận được sự lao tâm khổ tứ của một thằng chịu trách nhiệm cầm cái. Tôi rất thấm thía cái thực tế này từ nhiều năm trước. Nhưng thôi, nói gì, họ cũng là người thân của tôi, dù là thân trực tiếp hay gián tiếp. Tôi đã tự nguyện, tôi không trách cứ, mà chỉ xin chia sẻ chút chút đó thôi.

Số người đăng ký xin tham dự vượt quá mức cho phép. Có người đề nghị tôi tổ chức thêm một xe nữa, tùy theo số lượng người đăng ký, có thể thêm một xe 35 chỗ, hoặc xe 29 chỗ ngồi, hoặc 16 chỗ… Mọi người nghĩ hơi đơn giản. Có thể, họ cũng không hình dung được một thực tế đó là, tôi không chỉ đưa mọi người đi và đến, mà quan trọng hơn, đó là việc làm sao trong thời gian đi đường, sẽ tạo được không khí của một chuyến vi hành đích thực. Nếu chỉ để đi và đến nơi cần đến, nhiều người có thể đi bằng nhiều cách. Không loại trừ, có người thừa khả năng để đi bằng các loại phương tiện cao cấp và hiện đại. Nhưng để trở thành một hoạt động có tinh thần, có hồn cốt, nhất thiết nó phải có nội dung. Cũng như những loài hoa đẹp, mà lại thơm thì có ai không thích?! Điều này hoàn toàn phụ thuộc vào người chịu trách nhiệm tổ chức.

Khởi hành.

5h00 sáng thứ Ba, ngày 14.6.2016, toàn bộ 44 người đăng ký đều có mặt đúng giờ. Bé nhất là cháu Mun, 6 tuổi, và cao nhất là ông Hữu Nhuận (cháu rể của cụ Vĩnh) và anh Vũ Thế Khôi đều xấp xỉ tuổi 80.

Xe đi tới ngã tư đầu tiên, đèn xanh! Tôi tự bụng bảo dạ, ngon rồi, ngay ngã tư đầu tiên mà đèn xanh khi khởi hành là điềm lành rồi. Tôi khoái chí lắm.

Các chuyến đi xa trước đây, thường tôi không cho xe mở nhạc, không hô hoán, diễn văn, diễn từ ngay sau khi xe chạy. Tôi thường để xe chạy ra khỏi nội đô, đạt được tốc độ đều, không khí trong xe đã ổn định, tôi mới bắt đầu có lời với bà con.

Lời đầu tiên, tôi cảm ơn sự có mặt của mọi người trong chuyến đi, cảm ơn vì mọi người đã đặt lòng tin ở tôi. Tôi nhấn mạnh mục đích chính của chuyến đi, giới thiệu khái quát thành phần tham gia, lưu ý những nguyên tắc tối thiểu trong ứng xử giữa các thành viên trong đoàn. Tôi khẳng định nguyên tắc chi tiêu tài chính cho chuyến đi. Tôi xác định vai trò của các thành viên trong chuyến đi sẽ là yếu tố quyết định thành công của chuyến đi. Tôi cũng không ngần ngại nói rõ với cả đoàn rằng, đúng, tôi là người chịu trách nhiệm, nhưng tôi không phải là người làm dịch vụ, mọi chi tiêu hoàn toàn theo tinh thần thực chi, thực thanh. Cả đoàn có bao nhiêu tiền, sẽ chi bấy nhiêu. Ngày cuối cùng trước khi về đến Hà Nội sẽ kiểm tra số dư (nếu còn) sẽ chia đều lại cho các thành viên.

Mọi thành viên cần ghi nhớ một nguyên tắc trong ứng xử là mọi người đều có trách nhiệm như nhau, nghĩa vụ và quyền lợi như nhau. Nếu tốt, tất cả cùng vui, và nếu không may, mọi người cùng chia sẻ. Tôi đã nói rõ, rằng cả cuộc đời tôi từng đi thi nhiều lần với nhiều mục đích, nhưng trước chuyến đi này, tôi có cảm giác còn lo lắng hơn cả những lần đi thi. Nói như vậy, vì với những người thân, những người đã đi với tôi nhiều lần, dù sao cũng đã có những hiểu biết về tính cách và kiểu lối hành xử của tôi. Nhưng với những người lần đầu tiên, nhất lại là những người từng đứng ở những vị trí quan trọng trong cuộc sống khi còn công tác, những người đã tiếp cận với nhiều đẳng cấp xã hội, nhiều cung bậc của sự thụ hưởng vật chất… liệu tôi có làm cho họ sẽ hài lòng?!

Trong đoàn của chúng tôi có những người có cuộc sống đầy đủ, được xã hội tôn trọng như vợ chồng bác sỹ Trịnh Tùng, từng là Chủ nhiệm khoa của bệnh viện Sanh Pôn HN. Trước khi nghỉ hưu là Phó Giám đốc Bệnh viện Y học Cổ truyền Nguyễn Bỉnh Khiêm. Vợ chồng nhà giáo Vũ Thế Khôi, nguyên Chủ nhiệm khoa tiếng Nga của trường Đại học Ngoại ngữ (nay là ĐH Hà Nội), một người thông kim bác cổ, uy danh khắp cả ba miền đất nước. Vợ chồng anh Mai Huy Tân, tiến sỹ toán học, nổi danh ở CHLB Đức, Chủ tịch HĐQT hãng xúc xích nổi tiếng VN, xúc xích Đức Việt. Vợ chồng anh Hữu Nhuận, nhà văn, cựu Phó Tổng biên tập báo Văn Nghệ từ thời tờ báo còn uy danh trong làng báo VN. Vợ chồng anh Bùi Xuân Dũng, cựu Phó Giám đốc Sở GTCC thành phố Hà Nội. Cũng phải kể đến sự có mặt của Đại tá Nguyễn Đình Át, ông là Đại đội Trưởng đầu tiên của tôi khi tôi chính thức được biên chế vào đường dây 559. Ông đã từng là Giám đốc của Q 143 chuyên về ô tô và các loại xe máy quân sự.

Tôi sẽ chiều họ kiểu gì? Liệu tôi sẽ có bị ai đó trong số họ đánh giá tốt, xấu sau chuyến đi với đầy tính đa dạng về dịch vụ này không? Còn nhiều người khác là thành viên trong đoàn, có thể chẳng phải phải đã từng là ông nọ, bà kia, nhưng không loại trừ còn khó tính hơn các bà kia, ông nọ. Còn tinh hay xét nét người khác trong thiên hạ liệu có loại trừ tôi không? Tôi lo hơn đi thi là ở chỗ đó. Tôi băn khoăn hơn cả lo cho chính mình là ở chỗ đó. Nhưng tôi tin, tôi sẽ làm tốt, mọi việc sẽ tốt vì tôi biết cụ Vĩnh luôn che chở tất cả chúng tôi. Nếu không phải là cụ Vĩnh, chắc cũng đã không có chuyến vi hành này! (anh Vũ Thế Khôi bảo thế).

Anh 7 Nguoi Lao Thai 15.6

Các thành viên với đầy vẻ tự tin trong ngày khởi hành đầu tiên

 

Ngày thứ nhất. 

So với lần đi gần nhất (đưa bạn bè đồng ngũ đơn vị cũ X 34 – 559 ở Trường Sơn vào Đà Nẵng – Hội An năm 2014), đường quốc lộ 1A tốt hơn rất nhiều (mặc dù phí đường khá cao). Khi xe bắt đầu vào địa phận Thanh Hóa, tôi tóm tắt về lịch sử, vị trí địa lý của tỉnh mình đang đi qua. Thanh Hóa là tỉnh có diện tích lớn thứ ba trong cả nước, nhưng dân số lại đông hơn tỉnh đứng đầu là Nghệ An. Tôi nêu vài nét về địa thế của tỉnh, đặc biệt trong thời chiến tranh không quân 1064 – 1972. Tôi nhắc đến vai trò quan trọng của cầu Hàm Rồng bắc qua sông Mã, đồng thời nhắc lại những mất mát kinh hoàng của chiến tranh đã diễn ra trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa. Tôi trích đoạn bài hát Thanh Hóa anh hùng để mọi người tưởng tượng lại một thời đạn bom. Nhất là với những người ít tuổi có mặt trẽn xe.

Với những thay đổi lớn về điều kiện giao thông, hôm nay xe đi theo con đường mới, đường tránh vào thị xã Thanh Hóa (giờ là thành phố), nên mọi người khó nhìn được vị trí của cầu Hàm Rồng, kể cả cây cầu Hoàng Long mới được xây dựng vào những năm đầu thế kỷ 21. Nhờ những cung đường mới này, chúng tôi đi qua dọc chiều dài của một tỉnh nhanh chóng, mà chỉ hai năm trước thôi, mỗi lần qua đoạn Quảng Xương, Hoằng Hóa, Tĩnh Gia, ai cũng cũng thấy nóng ruột như bị kiến đốt, vì phải đi chậm, sểnh ra là bị bắn tốc độ (lúc đó cho có 40 km/h). Hai bên hàng quán nhao hết ra mặt đường…

Ca phe sang

Một thoáng cà phê sáng tại Bỉm Sơn, Thanh Hóa trong ngày khởi hành

Khi đến đường tránh thành phố Vinh, tôi lưu ý việc mọi người được qua cầu Bến Thủy 2, là cây cầu mới hoàn toàn. Tôi cũng không quên nhắc lại với mọi người rằng, sau 1975, việc mơ ước có câu cầu Bến Thủy chỉ là sự tưởng tượng. Ngày đó, mỗi lần qua phà Bến Thủy mất nửa ngày vẫn còn là chuyện may mắn. Vì đi đường mới, nên mọi người không được nhìn thấy vị trí của nhà máy nhiệt điện Vinh, một mục tiêu đã phải nuốt không biết bao nhiêu bom đạn trong thời chiến tranh không quân, một trong những chứng tích chiến tranh khủng khiếp còn lại của quá khứ.

Sang bên kia Bến Thủy, đã là địa phận của Hà Tĩnh, một địa danh nổi tiếng của các hào kiệt trong lịch sử Việt Nam, như Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Du, Phan Đình Phùng… Con đường mới đưa vào sử dụng từ bờ Nam sông Bến Thủy, đưa mọi người đến thẳng thị trấn Hồng Lĩnh. Tôi cũng kịp chứng minh rằng, vì sao thời chiến tranh, bài hát Chào em cô gái Lam Hồng của nhạc sỹ Ánh Dương lại có câu…Hồng Lĩnh ơi, đỉnh cao mây vờn… để thấy cái nhãn quan lãng mạn của cái thời sống chết chỉ là một cái nháy mắt…

Ăn cơm trưa tại thị xã Hà Tĩnh (giờ là thành phố) xong, chúng tôi lại bon bon trên đường đến Đèo Ngang. Nhiều người đã hỏi tôi sau khi lên xe từ chỗ ăn cơm, rằng có đi qua Formosa không ??? Có nhìn thấy nó không ???

Thường sau khi ăn uống, lên xe đi tiếp, đa phần chúng ta đều muốn chìm vào sự nghỉ ngơi, nhất lại là loại xe đời mới, ghế ngồi và công xuất của máy lạnh không khác bao nhiêu so với máy bay, nên mọi người đều thiu thiu. Tôi biết cái tâm lý của nhiều người muốn nhìn thấy Formosa không phải chỉ để có thêm sự chứng kiến… mà họ muốn nhìn thấy một con quái vật gớm giếc đã trở thành nghi án khó cãi của việc hủy hoại biển miền Trung hùng vỹ trong những tháng qua. Tôi đã quyết định không đánh thức mọi người khi xe chạy qua khu vực Vũng Áng.

Tôi chỉ muốn mọi người nếu tỉnh, hãy ngắm nhìn lại cửa Tam quan trên đỉnh Đèo Ngang, mà trước đó tôi đã nhắc lại rằng cách đây nhiều thế kỷ, đó là biên giới của nước Đại Việt và Chiêm Thành. Tôi cũng đã nói trước với mọi người về cái cảm xúc của Bà Huyện Thanh Quan đã nghĩ gì khi viết: Cỏ cây chen đá, lá chen hoa

Xe vượt qua Đèo Ngang, vào địa phận tỉnh Quảng Bình. Tôi lập tức đổi giọng sang thành người địa phương. Nhờ Giời, tôi nói chẳng thua kém gì người “Quảng Bọ” (Ở quảng Bình, người bố gọi là bọ, mẹ gọi là mạ và con gái gọi là con cấy) chính gốc. Tôi cho phát bài hát dân ca nổi tiếng của cố nghệ sỹ Châu Loan hát cách đây đã gần 50 năm, bài Mẹ Suốt. Chao ôi, hỡi những ai đã từng có dịp sống ở mảnh đất đầy nắng, gió và cát này, những ai đã từng lớn lên trong cái thời đạn bom kinh hoàng đó, đều sẽ thấy nao lòng khi nghe câu hò mà bà Châu Loan đã thể hiện bằng tất cả tấm lòng của một người nghệ sỹ, hát với đẫm tình yêu quê hương, nhất là cái chất giọng đầy âm hưởng của gió và nắng khi bà hát… Chang chang cồn cát nắng trưa Quảng Bình

Nhiều người trên xe đã khá hứng thú và tò mò khi tôi dẫn giải, sau 1973, toàn bộ thị trấn Cộn (Đồng Hới) duy nhất chỉ còn lại một bức tường mặt trước của ngôi nhà thờ linh thiêng nằm sát bãi biển Nhật Lệ. Tất cả đã là tro, bụi bởi hàng vạn tấn bom và đạn pháo vừa từ máy bay, vừa từ các tàu chiến ngoài biển dội vào mảnh đất hẹp, nhằm phá tung những con đường, ngăn cản việc tiếp tế cho chiến trường phía Nam.

Thật tốt vì bức tường của ngôi nhà thờ công giáo còn lại này, nay đã được giữ lại như một chứng tích của lịch sử.

Tôi đã thao thao mô tả lại cái khó khăn cơ cực khi các phương tiện giao thông đi qua phà Quán Hàu năm nào. Thời đó, khi phải đợi phà qua đoạn sông này, mấy ai tin rằng sau này sẽ có một cây cầu hiện đại. Mọi người không tin, và không dám mơ vì ngày đó vốn hiểu biết khoa học của mọi người có đâu, cộng với hoàn cảnh một đất nước nghèo xác sơ, bên cạnh một vùng địa lý hiểm trở vì là cửa sông của cả sông Kiến Giang và sông Nhật Lệ. Cách trở sông nước như thế, nên đã bắt các phương tiện phải qua hai lần phà hoặc cầu phao.

Chỉ tiếc, hôm nay, bên kia cầu là một trạm thu phí đã gây khá nhiều tai tiếng về sự hợp lý và bất hợp lý khi tính giá thu phí liên quan đến giữa cung đường BOT và đoạn đường quốc lộ dành cho cư dân địa phương. Hình như, những người quản lý đã không bận lòng về một quá khứ đầy máu xương để giữ được cái địa điểm giao thông khốc liệt này. Nếu quan tâm đến cái giá của máu xương, hẳn ngày hôm nay, những người có trách nhiệm sẽ không thể tùy tiện, muốn thu bao nhiêu thì đặt giá bấy nhiêu. Điều này, không chỉ muốn nói về trạm thu phí khu vực cầu Quán Hầu, mà còn rộng hơn là ở nhiều lĩnh vực trên cả nước này!

Khi xe đi vào đoạn đường mới từ bờ Nam Quán Hàu đến thị trấn Hồ Xá, tôi cũng đã kịp định thần rằng đoạn đường mới hoàn thành này thuận lợi hơn rất nhiều so với với đường số 1 do người Pháp để lại. Đặc biệt là cốt cao độ toàn tuyến đường khá đồng đều, không lên xuống nhiều như tuyến đường cũ. Rất nhiều người trên xe đã có được cái cảm giác nao lòng trước vẻ đẹp của các cồn cát trắng mịn nơi con đường cắt ngang. Nhưng, tôi phải lưu ý những người ngồi gần tôi mà tôi không muốn nói qua micrô rằng, đúng, những cồn cát nơi đây thật đẹp, song nó chỉ đẹp với người qua đường khi được ngồi trong ghế êm và máy lạnh. Còn người dân nơi đây, từ bao đời, tôi chứng kiến hầu như không thể trồng trọt gì được, ngoài ớt đỏ!

Xe đi qua địa phận huyện Lệ Thủy, tôi lưu ý mọi người rằng đây là vựa thóc duy nhất của vùng đất Quảng Bình nếu so về điều kiện thổ nhưỡng và nước tưới với 5 huyện còn lại. Đồng thời, đây cũng chính là quê hương của hai con người danh tiếng trong lịch sử chính trị và quân sự Việt Nam ở thế kỷ XX là Ngô Đình Diệm và Võ Nguyên Giáp. Thật buồn, vì cùng trên một mảnh đất, cùng uống một mạch nước ngầm, nhưng đã sinh ra hai con người ở hai bờ của sự thù hận.

Đến thị trấn Hồ Xá, tôi nhấn mạnh, chúng ta đã vào đến địa phận tỉnh Quảng Trị. Nhiều người vẫn lơ mơ nhận thức rằng, từ bờ Nam sông Hiền Lương mới là Quảng Trị … Với tôi, Quảng Trị như một âm hưởng vang vọng của số phận bi ai của dân tộc này. Tôi bắt đầu say sưa nói về vị trí địa chính trị quan trọng của huyện Vĩnh Linh, vì sao đất nước Việt Nam lại phải chia làm hai miền vào năm 1954?! Hiệp định Giơ ne vơ xuất phát từ những lý do chính trị nào trong quá khứ? Thế nào là khu phi quân sự, và vì sao lại là vĩ tuyến 17 mà không phải là 14 hay 19 ???!!!

DSCF8841

Ảnh cây cầu Hiền Lương lịch sử – T/g chụp lại năm 2008 tại nhà bảo tàng

Vỹ tuyến 17, Vĩnh Linh, Quảng Trị.

Năm 1987, sau Đại hội Sáu của ĐCSVN, trong không khí nói thẳng, nói thật, tôi may mắn được gọi đi học liền 6 tháng, khóa sơ cấp ngoại giao do Bộ NG tổ chức dành cho các đối tượng làm việc trong các cơ quan ngoại giao của các nước đóng trên địa bàn HN. Tôi đã thiếu ý thức trong việc ghi chép các bài giảng do các thày giáo là giảng viên của trường ĐH Ngoại giao lên lớp. Tôi tiếc vì đã không ghi rõ thày giáo lên lớp buổi ấy có chuyên nghành về lĩnh vực gì? Thày tốt nghiệp ở đâu ? Tên thày là thế nào ? Ý thức kém về yêu cầu hiểu biết xã hội chính trị của tôi, cũng giống như phần đông trong lớp học. Chúng tôi bị “ép” mà.

Tuy nhiên, trong một cuốn sổ ghi chép lộn xộn của mình, và quan trọng hơn, trong óc tôi đã ghi sâu một bài giảng về lịch sử của các cuộc khủng hoảng chính trị thế giới. Ở khóa học đó, tôi đã được học thế nào là Teheran 43? Thế nào là Hiệp ước YALTA? Vì sao có chiến tranh Triều Tiên 1950? Vì sao Berlin lại phải chia thành hai phần là Đông và Tây? Sự kiện vịnh Con Lợn ở Cu Ba 1962 là nhằm phục vụ mục đích chính trị gì của Liên Xô và Mỹ? Tại sao dân tộc Ba Lan lại mâu thuẫn với LBXô Viết? Và từ đâu mà sinh ra vĩ tuyến 17? Nỗi đau và vết thương của nó đã giằng xé dân tộc VN như thế nào…?!

Tôi ngạc nhiên vì không phải chỉ vì nội dung các bài giảng khác với những hiểu biết phổ thông của tôi, mà ngạc nhiên hơn vì thái độ hứng khởi của người giảng. Có  thày giáo còn nhấn mạnh:

Nhờ có Đại hội Sáu, bây giờ chúng tôi mới được mở miệng đấy! Trước đây được học, biết rõ nhưng nói ra là chết!

Tôi ấn tượng mãi về câu nói này. Nhiều lần, tôi cũng muốn truyền đạt cho người khác để cùng hiểu về một quá khứ bi đát trong lịch sử chính trị của khối XHCN. Nhưng tôi không đủ tư cách để nhân danh ai, nhân danh điều gì khi đề cập. Tôi đã phải đợi đến một ngày tháng 10 năm 2014, khi Tuần VN của Vietnamnet đã đáp ứng mong mỏi ngấm ngầm này của tôi, bằng bài trả lời phỏng vấn dài của một giáo sư người Pháp chuyên về lịch sử quân sự, do phóng viên Huỳnh Phan thực hiện. Bài có đầu đề: “Trên bàn cờ nước lớn, từ Giơ ne vơ đến Hiệp định Paris”.

Tôi cảm ơn Tuanvietnam quá trời, vì chắc VNN cũng phải kiên nhẫn, chọn thời điểm “thích hợp” mới danh chính sự kiện vỹ tuyến 17 năm 1954. Vậy nhưng, cho dù cuối bài, họ ghi rõ là còn nữa, nhưng người đọc đã không được biết nhiều hơn ngoài những gì có ở phần một bài phỏng vấn. Không sao, với tôi vậy là rất đủ rồi, bởi lẽ hạt giống được các thày giáo gieo vào trí óc của tôi từ năm 1987, sau gần 20 năm nó mới được nảy mầm, còn hơn chán vạn những hạt giống là tinh hoa tri thức của các bậc tiền nhân gieo đến cả thế kỷ mà cũng chưa thấy mầm đâu cả…?

Tôi trở lại với mọi người những dẫn giải về Quảng Trị. Tôi nhớ rất nhiều địa danh của mảnh đất ngập lửa khói này, nhưng tôi cần giúp mọi người, nhất là những ai đi với tôi, dù thích hay không cũng nên biết cái quá khứ nghiệt ngã của chiến tranh, hậu quả của những mâu thuẫn lịch sử. Có biết nỗi đau của người khác, mọi người mới thấy giá trị của những gì mình có.

Khi xe lao về phía Dốc Miếu, tôi nhắc đến một công trình quân sự đặc biệt của Hoa Kỳ trong chiến tranh, đó là hàng rào điện tử Mc Namara. Nó được xây dựng từ năm nào? Phục vụ mục tiêu chiến lược gì? Cấu trúc của nó ra sao? Hàng rào điện tử đó kéo dài đến tận đâu? Nó đã có tác dụng hữu hiệu đến mức nào trong việc ngăn chặn sự xâm nhập của các lực lượng từ phía Bắc? Và sự tổn thất của các binh sỹ QĐ miền Bắc khi tìm cách vượt hàng rào này ra sao…?

Có bao nhiêu điều cần nói với mọi người đi cùng tôi. Tôi cũng tiên lượng việc có đôi ba thành viên trên xe sẽ chẳng mấy xúc động về những thông tin tôi truyền đạt, nên tôi đã đổi tông giọng tùy từng nội dung và tùy từng đề tài, cốt sao tạo được những ấn tượng cần thiết cho đa số, để lại những kỷ niệm không thể quên của những người đi với mình.

Thật vui vì xe đến thị xã Đông Hà còn sớm, khác hẳn những chuyến đi từ những năm trước. Có người trên xe đã nhìn nhận việc xe đến sớm, nên cảm ơn ông cựu Bộ trưởng Giao thông Đinh La Thăng, người đã điều chỉnh nhiều quyết định hợp lý liên quan đến lĩnh vực giao thông ở VN.

Đoàn chúng tôi đã có ngày đầu tiên thuận buồm, xuôi gió. Nghỉ tại khách sạn Đông Trường Sơn, nhưng tôi vẫn thôi thúc muốn nói nhiều nữa về các trận chiến kinh hoàng nếu các bạn có dịp đứng trên tầng 4 của khách sạn. Khách sạn nằm trên một đỉnh đồi nhỏ, ở độ cao của tầng tư,  bạn có thể quan sát được toàn bộ vùng đồng bằng phía Nam sông Bến Hải, kéo dài từ Dốc Miếu, qua Cồn Tiên, lên đến hết vùng Cam Lộ. Ngắm cái panorama đó, khả năng tưởng tượng của bạn sẽ dễ bị tác động đến việc hình dung ra cơ man nào là hầm, hào, binh lính, là đạn pháo, là chiến xa các loại, người và các loại thiết bị chiến tranh ngập trong lửa khói, máu và nước mắt vào cái năm 1971, 1972 đó, chứ không phải chỉ có khu nghĩa trang im lặng nằm ở cây số 4 đường số 9….

Bữa cơm tối hôm đó, mọi người đều khỏe mạnh, điều này giúp cho việc ăn uống được đảm bảo. Ai cũng có vẻ hoan hỷ vì đã có ngày đầu tiên tốt lành.

Thai 14.6

Toàn đoàn trước khách sạn Đông Trường Sơn, Đông Hà, Quảng Trị.

Hết phần 1.

 

 

Comments

  1. Bùi Hữu Thịnh

    Cám ơn a Lân Bình rất nhiều!Tuy ko có cơ hội để được tham gia chuyến Du khảo đaayf ý nghĩa và hấp dẫn này,nhưng vẫn được theo dõi hành trình của Đoàn một cách rất cụ thể qua trang phóng sự này của anh.Mong sớm được đọc và xem các hình ảnh ở phần tiếp theo.Cảm ơn anh một lần nữa vì đã cho tôi cơ hội được xem trọn vẹn cuốn phim về Cụ Nguyễn Văn Vĩnh- “Người man di hiện đại”, một “Tân Nam Tử” chính hiệu,và là một Nhà Văn hoá lớn của Dân tộc Viêtnam.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *