SỰ NGHIỆP NGUYỄN VĂN VĨNH – Phần 4 ( Phần cuối )

Nguyễn Văn Tố đăng trên tạp chí “Tin tức – Hội Tương tác Giáo dục Đông kinh”, cuốn số 16 : số1 và 2, từ tháng Giêng đến tháng Sáu năm 1936.

NguyenVanVinh0_thumb.jpg

Học giả Nguyễn Văn Vĩnh

Tiếp theo phần 3

Ngay sau khi Nguyễn Văn Vĩnh nằm xuống, một trong những người vô cùng tôn sùng ông, đã tỏ ý tiếc rằng, ông đã dịch biết bao nhiêu những tác phẩm kinh điển của các nhà văn Pháp, song lại không thấy ông bắt tay viết lịch sử văn học Pháp bằng tiếng Nam. Vì quá sùng bái, nên ông này đã hiểu lầm nhà văn quá cố. Ta có thể nói chắc chắn rằng, chưa bao giờ Nguyễn Văn Vĩnh mang một tham vọng như thế. Chúng ta chưa từng thấy người nào như ông, ông không ham làm một điều gì khác với cái điều mà ông thấy mình đang đủ sức làm thật tốt hơn. Một hôm, tại trụ sở của Hội Tương tế Giáo dục, một người bạn đồng nghịêp của chúng ta đã hỏi ông: “Ông có những công trình nghiên cứu về cái làng và các phong tục ở đất nước An Nam(13) nhưng tại sao tiếp theo đó, ông không viết phần nhận xét chung, rồi kết luận chung, để giúp cho bạn đọc có được một cái nhìn toàn cảnh, một bức tranh xã hội và đạo lý sống của người nông dân Bắc kỳ ?” Ông đáp lại: “Tôi chưa bao giờ nghĩ đến chuyện đó, tôi chỉ làm công việc thu thập dữ liệu. Tôi xác minh chúng, rồi tìm cách nào tốt nhất đem chúng trình bày trước mọi người. Từ đó ai thích thì rút ra những điều mà họ thích quan tâm”. 

Vả chăng, điều khả dĩ đủ để ngăn Nguyễn Văn Vĩnh không có ý định lao vào một địa hạt như thế, đó chính là nhờ việc ông đã học được từ một số sử gia người Pháp. Những đầu óc nghiêm khắc và lạnh lùng của họ, luôn tỏ ra cảnh giác – họ công nhiên thừa nhận điều đó  –  trước những bản tóm tắt dài dòng như trong cuốn Văn minh ở Pháp [“Civilisation en France”] mà những đầu óc kiểu [sử gia kiêm chính khách, từng làm thủ tướng Pháp] François Guizot [(1787-1874)] tỏ ra rất đắc chí. Đôi khi các vị sử gia Pháp kia, nói rõ sự e ngại rằng, các “tác phẩm tổng kết” đó không dựa trên những nền tảng chắc chắn, trên một sự hiểu biết chính xác các chi tiết của sự việc.

Ông Nguyễn Văn Vĩnh nói: ” Hãy nhìn người Trung Hoa và người Ai Cập…Vì lo lắng giữ lại kỷ niệm những năm tháng đã qua đi của quá khứ, các dân tộc đó chỉ biết dùng có một cách viết, đó là những bộ biên niên sử ghi chép, dù hay ho đến đâu thì cũng vẫn khô khan.

Người đầu tiên vẽ ra khoa lịch sử, là một đấng thần linh Hy Lạp, vị thần linh này sau đó chuyển sang La Mã và sau cùng đã chuyển tới các dân tộc thời cận đại, và thời nào thì các vị đó cũng phải làm một nhiệm vụ kép.

Một mặt của công việc là, ở Pháp chúng ta không thấy rõ điều này đâu, bởi phải dựa trên vô vàn các sự kiện, nhiều đến bất tận, để mà lẩy ra những sự việc nào quan trọng hơn, có ý nghĩa hơn cả. Những sự kiện nào thích hợp nhất cho việc xác định được đặc điểm một thời đại, hoặc đặc điểm của một dân tộc, mà nó tốt nhất cho việc làm rõ được những nguyên nhân, và hệ quả của những sự kiện đã được kể đến. Khi các sự kiện chọn lọc, gợi lên được cho các nhà sử học những đánh giá nào đó, thì một người [sử gia Hy Lạp] như Hérodote hoặc Thucydide, hoặc [sử gia La Mã] như Tite-Live hoặc Tacite, nó sẽ đặt vào cửa miệng của những nhà hùng biện – những nhân vật sẽ được các nhà sử học làm cho biết nói năng. Để rồi, một sử gia thời cận đại sẽ căn cứ vào đó mà tùy chọn, đem phát triển theo ý của mình và ký tên dưới những công trình đó. Nhưng, cũng giống như kẻ tiền bối thời cổ đại, một nhà sử học cận đại có nhu cầu lý giải những ngẫu nhiên lịch sử, để sau đó còn trình bầy tiếp về sự phát triển của cái ngẫu nhiên đó. Từ cái riêng biệt sẽ nâng lên thành cái tổng quát, và tìm ra những quy luật chi phối sự tiến triển của các xã hội của loài người.

Còn một phương diện thứ hai, là ngay trong khi kể lại những sự kiện, nhà sử học sẽ tìm cách (và đôi khi cũng thành công ít nhiều) làm cho những gì mình mô tả trở nên sinh động và có màu sắc, giúp cho hậu thế thấy, nhận biết được, ngay trước mắt có những nhân tố chính yếu của vở kịch lịch sử đang tồn tại và hoạt động ít nhiều như thật, khiến cho đời sau tưởng như đã từng bắt gặp chúng, tưởng như nghe được giọng nói của chúng, được tận mắt thấy chúng di chuyển, đi lại, được thấy rõ cả nét biểu cảm trên gương mặt chúng. Dù bất kể thế nào, muốn mang danh là nhà sử học, thì ít hoặc nhiều đều phải sở hữu, hoặc là một tinh thần của nhà triết học, hoặc là một tài năng của người kể chuyện. Và đó là điều tôi không bao giờ dám màng.”    

Điều Nguyễn Văn Vĩnh đề ra, như là mục đích cho bản thân phải đạt tới, như ông vẫn nói với nhiều bạn đồng nghịêp chúng ta, đó là thu thập các sự kiện; nhưng trong địa hạt lịch sử của dân tộc này. Không có nhà viết chính luận nào sánh được với ông trong việc chỉ ra nhiều sự kiện mới mẻ đến thế, không ai xác minh lại và xếp sắp tốt các sự kiện như ông trước khi đưa ra cho những ai cùng làm việc trong lĩnh vực đó. Nếu có lúc nào, và đây là ước vọng thực sự của chúng ta, trên đời này lại sinh ra cho ta một nhà sử học, từ một bối cảnh chung, con người sử học đó đem lại được cho chúng ta một hình ảnh sống động và đầy hòa sắc của cái thế giới phức tạp và đa dạng như là cái nước Nam này trước khi người Pháp tới chiếm, thì chúng ta chỉ có thể nhờ cậy vào các công trình nghiên cứu của Nguyễn Văn Vĩnh, để mượn những nét chấm phá, hoặc những bức tranh với đường nét và sắc độ ấm áp, đem đến cho ta được nhiều nhất cái cảm giác đó, chính là sự thật ta đã tìm ra được, và đó là cái gì được bảo đảm là giống như cuộc đời thật. Nguyễn Văn Vĩnh chưa khi nào là nhà sử học theo nghĩa chặt chẽ của ngôn từ này, nhưng chúng ta không sao kể ra được, một nhà văn nào khác lại có nhiều đóng góp đến thế cho khoa học lịch sử, là một trong những phụ trợ và nhà cung cấp tốt nhất của lịch sử.

♣ ♣ ♣

Chúng ta đã ca ngợi Nguyễn Văn Vĩnh là nhà báo, nhà văn và nhà thuyết trình các chủ đề giáo dục, nhưng như thế vẫn chưa đủ. Hầu như chúng ta chẳng nói được gì về phẩm chất người của ông, về sự ngay thẳng chính trực của ông trước mọi thử thách, về triết lý sống biết cam chịu và cổ vũ mọi người của ông, vì trái tim yêu thương và nồng nàn ấy, mà dù có gặp bất hạnh thì chỉ càng được thanh lọc chứ chẳng chịu trở thành chua chát. Ông, một con người mang vết thương vĩnh viễn về một niềm tin, rằng trên đời này, vẫn có một niềm an ủi muôn đời chẳng tàn phai. Nhưng cái tâm hồn của bậc tinh anh đó, lại cao quý vì biết thẹn và hay thẹn, và chúng ta tin chắc rằng, Nguyễn Văn Vĩnh thuộc loại người có cái hạnh phúc thâm nhập sâu được vào tâm hồn đó của chính mình, song lại không lạm dụng đặc quyền ấy và chỉ khẽ hé lộ, để rồi lại trốn tránh đi ngay khi thấy mọi người tôn kính và chiêm ngưỡng mình.

Cái chết của đồng nghiệp chúng ta đã thực sự thành cái tang chung cho tất cả mọi người. Ngày 8 tháng Năm, ngày đưa tang ông, bạn bè và những người ngưỡng mộ ông, học trò cũ và các bạn đồng liêu của ông, tất cả đã gặp gỡ nhau, cùng các phái đoàn chính thức, tề tựu quanh linh cữu ông đặt gần nhà ga đường sắt của Hà Nội, và ai ai cũng nhất nhất cảm thấy sâu xa rằng, họ đang chứng kiến không phải là một hình thức của một đám tang, mà là sự biểu lộ nỗi đau và lòng tiếc thương đối với người đang nằm trong cỗ xe tang ấy, thực sự đang nằm trong trái tim của từng con người.

Đặc biệt, Hội Tương tế Giáo dục hoàn toàn có lý do để treo khăn tang, vì đang nhìn thấy cảnh sẽ mãi mãi phải xa cách khỏi Hội, một trong những con người yêu quý Hội hơn hết, và cũng là người đã làm sáng danh cho Hội hơn cả. Giờ đây, khi thời gian đã trôi qua, đủ để nỗi đắng cay ngày đầu tiên nghe tin Nguyễn Văn Vĩnh qua đời, đã được hòa trộn với một tình cảm khác, bền lâu hơn  và xứng đáng hơn với con người cao quý ấy.

Mặc dù mất sớm, song Nguyễn Văn Vĩnh đã hoàn thành được một đại sự nghiệp, nó sẽ còn lưu lại mãi sau khi ông mất đi, như một bằng chứng bất hủ về sự tồn tại của ông. Tên tuổi ông sẽ được ghi khắc mãi mãi trong lịch sử văn học nước Nam, như một trong những bậc thầy đã làm được nhiều nhất cho sự phát triển của nền văn học đó. Tên ông sẽ không chỉ được viện dẫn bởi những người Tây học nhất quyết sẽ đi theo con đường do ông khai phá, mà tên tuổi đó cũng chẳng thể nào vô tình hay cố ý bị bỏ quên bởi bất kỳ ai, khi định đến với toàn bộ trào lưu tư tưởng ở xứ Đông Dương trong vòng ba chục năm qua. Bởi vì, riêng việc ông toàn tâm toàn ý phát triển chữ quốc ngữ(14), chỉ riêng việc đó thôi, đã bộc lộ toàn bộ cái giá trị của một con người đã đóng góp nhiều hơn bất kỳ ai, để  khiến cho cái thứ chữ đó trở thành một trong những thành tựu bền lâu của trí tuệ con người. Xin nói thêm rằng, trong khi xả thân nghiên cứu ngôn ngữ và văn chương Pháp và Nam, ông đã gắn rất chặt tên tuổi ông vào với tên gọi nước Pháp và nước Nam. Mỗi chúng ta đều cảm thấy dường như, đó mới chính là phần thưởng, hẳn sẽ khiến cho trái tim cao quý của ông rung động hơn tất cả, nếu như ông còn có điều kiện hình dung được phần thưởng đó trong tương lai.

Ông đã có thể tự nhủ rằng, kể từ đây, sẽ chẳng có một ai, khi nghiên cứu tâm hồn người Pháp hoặc tâm hồn người An Nam trong những tác phẩm thể hiện những giá trị đó, lại không nhận thấy tình yêu to lớn của Nguyễn Văn Vĩnh với chúng, và không nhận thấy sự công phu lao động tuyệt vời của Nguyễn Văn Vĩnh giành cho sự nghiệp đó(15).

Hết

 

Chú thích:

(13) Xin coi các công trình nghiên cứu này trong Đông Dương tạp chí L’Annam nouveau. Tất cả những phẩm chất trí tuệ của ông, từ những gì tinh tế nhất đến những gì mạnh mẽ nhất đã có dịp bộc lộ ra trong các tài liệu đó. Thật vậy, các công trình nghiên cứu này không chỉ có ưu điểm như các công trình khác ở chỗ chính xác và phong phú tư liệu, mà còn nổi bật ở cáí nhãn quan vô cùng tinh tế trước phong tục tập quán làng quê và lối viết nhẹ nhõm thoải mái khi Nguyễn Văn Vĩnh như thể đang tung tăng giữa những nhận xét khoa học của mình. Đây là một thí dụ khi ông viết về công điền công thổ:

“Trong cách lập xã ta có một điều rất khôn ngoan, là sự lập công-điền, công-thổ. Vốn từ đời nhà Chu bên Tầu, phân đất ra làm tỉnh điền. Dân An-nam ta, cũng noi lối ấy mà lập thôn xã, mỗi xã phải có công-điền, mà vua Minh-mịnh lại còn bổ thêm được một lệ rất hay và rất cần cho trí người An-nam không phòng bị, là lệ cấm các dân-xã không được bán công-điền, công-thổ đi. Như thế thật là khéo giữ cho dân bao giờ cũng có sinh-lý, dẫu người ăn tiêu quá độ, tư sản có đem bán hết đi rồi, cũng vẫn còn cái phần ruộng công của mình, mà cầy cấy nuôi miệng, chẳng được dồi dào cũng không đến nỗi đói khổ, kể cách hợp-quần xã-hội, thì không còn cách nào hợp lẽ bảo-sinh cho nhân-loại hơn nữa. Bởi thế giống người An-nam ta từ thượng cổ đến giờ trải bao nhiêu bước gian-truân khổ-ải, mà không diệt-chủng được, vẫn cứ đều đều mà sống với nhau, hết cơn bĩ-cực lại đén tuần thái-lai rồi lại đến cơn bĩ-cực, cứ tùy ở mấy giọt nước của giời mưa xuống. Thuận mùa-màng khí-tiết luôn cho mấy năm thì nào hè, nào hội, nào áo, nào khăn, đây vào đám, đó mở cờ, ăn uống no say, rồi đâm ra kiện nhảm nhau chơi, cho nó bận cái ngày giờ vô dụng. Chẳng may giời làm trái tiết, nắng quá hoặc mưa nhiều, đồng điền khô héo hoặc lụt lội thóc chẳng đủ ăn, thì sinh ra trộm cướp. Ai giữ được hột nào ăn cho qua buổi khó, ai chẳng có gì thì chết đói giơ xương, sang năm khác đã có nhà giàu đẻ ra đông con nhiều cháu mà thế vị cho mình. Người giàu kẻ khó đùm bọc lấy nhau, bao giờ số gạo cũng vẫn dùng được đến hết để cho phần nhiều người trong dân được nương sống. Người giầu vợ nọ con kia, tôi-tớ đầy nhà, kẻ nghèo thì ăn quanh ăn kẹ, luồn cúi cửa người, khéo ra cũng qua được thời cát-cứ buổi khó-khăn. Hay cho nòi giống cũng như ở đó, dở cho nước nhà cũng ở như đó. Lẽ hay đã nói rồi, dở là tại người làm dân một xã có khẩu-phần, có quyền-lợi, dẫul àm giai gánh vác è vai, nhưng cũng vẫn thêm vào cái phận nương nhờ của công mà nuôi miệng. Tay sắc sảo thì lại còn tranh giành được phần hơn miếng tốt, cho nên chỉ biết cái nghĩa làng mà không nghĩ đến nghĩa nước. Dẫu có cao vọng ra đến nước cũng vẫn giữ làmg làm cái cọc vững-bền. Bởi thế cho nên dân-trí hẹp-hòi. Học hành chẳng qua mong lấy thi đỗ làm quan cho làng cho họ được nhờ. Công-nghệ buôn-bán thường đợi khách đến tận làng mà mua những đồ chế-hóa. Người bất-đắc-dĩ phải đi xa cầu thực, hồ kiếm được đồng tiền dư, trước hết phải lo nghĩ đến việc dựng cái nhà thờ, tậu vài ba mẫu ruộng ở quê quán mình. Nói việc nhỏ nhặt như người đi làm công, làm việc, thì nhiều kẻ vì làng nước mà quên cả đến nghĩa duynh-sinh, chỗ cao lương-bổng không cầu mà cầu lấy nơi ít tiền, nhưng được tư án-quán có tên về làng về nước; kẻ bán buôn nơi thành-thị, hoặc kẻ có tài chế-hóa ra được thứ hàng gì khéo, hoặc gây-dựng ra được cuộc gì hay, thì vị yêu nghệ mà chuyên nghệ thì ít, song vị muốn tâng công để lấy chút danh-mệnh để đem mặt về ngẩng nơi đình-đám thì nhiều, cho nên lòng ao-ước nhỏ-nhen hồ được thỏa là thôi, không lo gì đến nghề nữa.” (Đông Dương tạp chí, số 64, thứ năm ngày 6 tháng tám 1914: Chỉnh đốn lại cách cai trị dân-xã. IV.)

(14) Để giúp đỡ –  liệu có cần nói thêm nữa không đây? – vào công việc giáo dục các đồng bào trẻ tuổi chúng ta. Nguyễn Văn Vĩnh dạy chúng ta: “Nếu hơn bao giờ hết giáo dục phải lôi cuốn công việc hội Tương tế Giáo dục chúng ta, thì lý do của điều đó là sự du nhập vào nước ta dần dần từng bước và rồi sẽ hiện diện khắp nơi một điều mới lạ về chính trị có tên gọi là “đầu phiếu phổ thông và bình đẳng “. Theo nội dung của thiết chế này, quần chúng đông đảo cũng làm chủ các việc công. Thế nhưng quần chúng đông đảo cũng lại là bộ phận dốt nát nhất của mọi xã hội, và cũng có nghĩa là bộ phận nhiều đam mê hơn cả và dễ bị đánh lừa hơn cả bởi những nhà hoạt động quần chúng đôi khi thành thực song bản thân họ cũng dốt nát và cũng bị đánh lừa bởi những kẻ lắm tham vọng, những kẻ ngụy biện và mỵ dân. Như vậy là rất có khả năng đẩy xã hội quay về với lộn xộn và hỗn loạn. Cảnh man rợ lại hiện ra vì vẫn chờ đợi trong dạng tiềm năng. Tất cả mọi người đều phải quan tâm ngăn chặn mối nguy đó, không chỉ các tầng lớp bên trên, mà ngay cả quần chúng đông đảo, tất cả những ai khát khao sống hạnh phúc, sống có nhân phẩm, sống trong tự do. Ấy thế nhưng, không có trật tự thì làm sao có hạnh phúc; lấy đâu ra nhân phẩm khi không có sự tôn trọng chính mình và tôn trọng kẻ khác; lấy đâu ra tự do nếu không có giáo dưỡng trí tuệ và đạo lý. Vậy nên, quần chúng đông đảo phải được đặt ngang tầm sứ mệnh của họ. Muốn cứu vãn xã hội thì phải làm như vậy”. Hiển nhiên, đây là một chương trình giáo dục sáng láng và thực dụng mang màu sắc chủ nghĩa xã hội duy lý mà chắc là không một đầu óc ngay thẳng nào sẽ từ chối công việc chuẩn bị cho nó thành hiện thực.

(15) Xin lưu ý ở đây là, khi dịch cuốn Gulliver du ký, Nguyễn Văn Vĩnh muốn nghiên cứu ảnh hưởng của Swift ở Pháp. Những tìm tòi nghiên cứu về cơ may của một nhà văn trên một xứ sở xa lạ bao giờ cũng giành cho ta nhiều điều bất ngờ. Khi Desfontaines dịch Gulliver du ký từ tiếng Anh sang tiếng Pháp, Swift đã nổi tiếng ở Pháp với Chuyện kể của cái thùng và những bài viết châm biếm chính trị khác. Cuốn sách dịch đã thành công ngay khiến cho một kiệt tác khác cũng thành công theo, đó là cuốn Robinson Crusoe của Defoe. Nguyễn Văn Vĩnh nói, “Mặc dù nổi tiếng và có nhiều bạn đọc, Swift rất ít tác động được tới thế kỷ thứ XVIII. Số phận của Gulliver du ký thật bất ngờ: văn chương châm biếm mang tính chất triết lý và chính trị lại biến thành một câu chuyện phiêu lưu kỳ thú được trẻ em xếp ngang hàng với Ngụ ngôn của La Fontaine và Truyện cổ tích của Perrault.”

————————————

Nguồn từ : Giáo sư Christopher Goscha – Khoa Lịch sử  Đại học Quebec, Montreal, Canada.

Người dịch : Nhà giáo Phạm Toàn.

Hiệu đính : Nhà Văn Nguyên Ngọc.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *