SỰ NGHIỆP NGUYỄN VĂN VĨNH – Phần 1

Kính thưa các quý vị độc giả !

Nhân giỗ lần thứ 80 học giả Nguyễn Văn Vĩnh 1936 – 2016, nhân dịp học giả Nguyễn Văn Vĩnh chính thức được Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh vinh danh là DANH NHÂN VĂN HÓA VIỆT NAM thời hiện đại, chúng tôi xin trân trọng giới thiệu bài viết của chí sỹ Nguyễn Văn Tố (1889 – 1947) viết bằng tiếng Pháp. Bài viết đánh giá khái quát sự nghiệp văn hóa đồ sộ của Nguyễn Văn Vĩnh và được đăng trên Tạp chí của Hội Tương tác Giáo dục Đông Kinh xuất bản tháng Sáu năm 1936 ở Hà Nội.

Đây là sự ghi nhận quan trọng của lịch sử văn hóa Việt Nam về những cống hiến lớn lao về văn hóa của học giả Nguyễn Văn Vĩnh trong thế kỷ XX ở Việt Nam. Sự vinh danh học giả Nguyễn Văn Vĩnh là DANH NHÂN VĂN HÓA, chấm dứt một thời gian dài những tranh cãi không dựa trên cơ sở khoa học về vai trò của Nguyễn Văn Vĩnh trong lịch sử phát triển văn hóa ở Việt Nam.

Quyết định này tạo một nhận thức lành mạnh về hình ảnh của Nguyễn Văn Vĩnh đối với lịch sử Việt Nam. Đồng thời cũng là một sự tri ân của hậu thế đối với các bậc hiền tài của đất nước.

1_19187

Cụ Nguyễn Văn Tố

Được sự đồng ý của người cung cấp tư liệu, bài viết của chí sỹ Nguyễn Văn Tố đã được in trong cuốn sách Nguyễn Văn Vĩnh là ai? do NXB Trí thức phát hành năm 2013 tại Hà Nội.

Bản dịch sang tiếng Việt: nhà giáo Phạm Toàn.

Hiệu đính: nhà văn Nguyên Ngọc.

Chỉnh sửa kỹ thuật: BBT Tannamtu.com.

Để thuận lợi trong việc theo dõi do bài viết dài, chúng tôi xin được chia bài viết ra ba phần và sẽ được đăng tải liên tục. Bài viết này đã được in trong cuốn sách Nguyễn Văn Vĩnh là ai? Do Nhà Xuất bản Trí Thức ấn hành năm 2013. Nhân đây, chúng tôi cũng xin được chuyển đến các độc giả nguyên văn bản tiếng Pháp.

BBT Tannamtu.com một lần nữa xin thành thật cảm ơn Tiến sỹ Christopher Goscha của trường Đại học Montreal Canada, với lòng quý trọng học giả Nguyễn Văn Vĩnh, năm 2009 đã trực tiếp trao tặng cho chủ nhiệm trang thông tin Tannamtu.com, ông Nguyễn Lân Bình.

Trân trọng!

Hà Nội, ngày 20. 4. 2016.

130204_nvanvinhchandung.jpg

SỰ NGHIỆP NGUYỄN VĂN VĨNH

Nguyễn Văn Tố đăng trên tạp chí “Tin tức – Hội Tương tác Giáo dục Đông kinh”, cuốn số 16 : số1 và 2, từ tháng Giêng đến tháng Sáu năm 1936.

 

Ngày 2 tháng 5 vừa rồi, khi học giới nước Nam bị cướp đi mất một Nguyễn Văn Vĩnh(1) mà họ vô cùng trọng vọng, không chỉ các đồng nghiệp và đồng liêu, bè bạn và học trò, mà có thể nói rằng tất cả những ai ở Đông Dương gắn bó hoặc quan tâm đến phong trào tư tưởng của người nước Nam đều xúc động sâu xa. Bởi vì ngay lập tức tất cả mọi người cảm thấy rằng một chút gì thuộc về cái Thiện và cái Dũng đã vừa tắt theo con người có khí chất mạnh mẽ và cao cả ấy.

Vậy mà, con người được tiếc thương nhường ấy đâu có phải là một trong những kẻ sáng tạo ra những tư tưởng đã làm đổi thay nếp suy nghĩ và nếp cảm nhận của cả một thế kỷ hoặc cả một dân tộc. Điều được biểu hiện nơi con người ấy một cách tuyệt vời chỉ là một phương pháp; chưa kể là cái phương pháp ấy ông cũng chẳng nghĩ ra; nhưng, nhờ ở cả một tập hợp những phẩm chất cao quý và đa dạng, cùng lúc ông phát triển và hoàn thiện cái phương pháp kia, thì ông cũng dùng nó để không ngừng tạo ra những kết quả mới, như thể ông đã khiến cho phương pháp ấy thấm nhuần tính cách con người ông, và qua đó ông đã gửi được vào chính phương pháp ấy cả một vẻ đẹp. Đồng hóa sâu xa và áp dụng sáng tạo một phương pháp đến thế, – trong cách làm căn bản là vận động để quảng bá chữ quốc ngữ và tìm cách cho “người Pháp am hiểu tâm hồn người Nam và người Nam am hiểu tinh thần người Pháp”, – đó là công lao thực sự đặc biệt của ông, và cũng vì vậy mà bài viết này, thay vì làm công việc kiểm điểm, hay có phê phán sự nghiệp của ông(2), thì nó chỉ là để tìm cách mang cái sự nghiệp của ông phơi bầy ra cho mọi người cùng thấy mà thôi.

Trong thế đa dạng đầy sức mạnh và đầy duyên dáng, cuộc đời và sự nghiệp của bạn đồng nghiệp Nguyễn Văn Vĩnh biết bao thương tiếc của chúng ta có thể được đem ra nghiên cứu dưới nhiều phương diện. Nhưng ở đây, tại hội Trí Tri nơi ông đã dạy học trong nhiều năm, và từ năm 1914 ông lại đứng đầu tờ Tân học Văn tập (phụ trương của tờ Đông Dương tạp chí, các số từ 42 đến 85, ra từ 5 tháng ba đến 31 tháng mười hai năm 1914)(3), thì ta cần nói trước hết đến ông trong vai trò nhà văn và nhà diễn thuyết, dĩ nhiên là ta không thể tách hai nhân vật đó khỏi toàn bộ cuộc đời trí tuệ và đạo lý của ông, chỉ riêng một cuộc đời ấy thôi cũng đã đủ để lý giải hoàn toàn đầy đủ sự nghiệp của ông.

♣ ♣ ♣

Trong ba mươi năm, hoạt động nói và viết của Nguyễn Văn Vĩnh hầu như đã không ngừng vang lên với những ai tò mò muốn biết về nền văn học Pháp và về gương mặt thật của nước Pháp. Sự quảng bác và sự mềm dẻo của một trí thông minh ngoại cỡ của đồng nghiệp Nguyễn Văn Vĩnh chúng ta, hẳn đã làm nên một ảnh hướng lớn tới nhiều thế hệ người học, và thông qua những bài viết cùng những dịch phẩm của ông, lại ảnh hưởng tới đông đảo đồng bào người nước Nam ta đến như vậy. Nhưng có lẽ, đóng góp còn lớn hơn nữa, khiến cho cái ảnh hưởng này tác động thêm và phong phú thêm, đó là tính cách của chính con người ấy, đó là nhiệt huyết trong tâm hồn ông và sự nhân hậu đến vô cùng của ông. Những đức độ ấy, mà nếu thiếu chúng thì một ông thầy dù giỏi giang uyên bác tới đâu cũng vẫn không kham nổi cái sứ mệnh ấy, Nguyễn Văn Vĩnh lại có và sở hữu chúng ở một mức độ cao.

Để hiểu ông sao cho thật đúng, ta chỉ cần nhớ lại biết bao những tình cảm thật cảm động đã đồng loạt diễn ra ở đất nước An Nam này, ngay sau khi mọi người biết tin ông qua đời. Khắp nơi nơi, đâu đâu cũng cùng chung một tiếng nói ấy, cả trong những lời nói ra cửa miệng, cũng như trong những tiếng thầm thì của hai, ba nghìn người đi sau linh cữu ông. Tại buổi lễ tiễn đưa con người đã khuất ấy, có đông đảo bà con dân chúng, là những người đã từng tham gia  trong các hội đoàn mà chính ông đã từng là hội viên, và cũng chính ông là người đứng ra thành lập. Cùng với các bạn đồng liêu của ông, những người xúc động hơn cả trong số người tham gia tang lễ, là những học sinh cũ của ông trong Hội Tương tế Giáo dục. Cũng có nhiều người, không có những quan hệ thân thiết với Nguyễn Văn Vĩnh, những người mà chỉ từng tới bên ông vào một lúc nào đó, vì một việc gì đó,  với một tấm tình chung trong học giới. Cả những người mà khi cần, tìm tới chỉ để xin ông một lời khuyên… Những người này cũng có chung một tâm tình như của những người bạn đồng liêu của ông. Sở dĩ như vậy,  vì tất cả mọi người đều đồng tâm, nhất trí khi nhớ lại rằng, hễ đã đến bên ông, họ đều nhận được ở Nguyễn Văn Vĩnh một sự đón tiếp nồng hậu, một sự vồn vã nơi Nguyễn Văn Vĩnh. Ông luôn hết lòng, hết mình giúp họ thực hiện các công việc, công trình đã được họ khởi sự.

Người ta từng kể lại rằng, lắm khi vì muốn giúp đỡ hết mình, ông không hài lòng với việc chỉ trả lời bằng một lời khuyên tức thời vẻ như ngẫu hứng. Ông còn ghi chép lại, xem người đến hỏi đang gặp những khó khăn gì… Rồi vài ba ngày sau, người đó còn được ông gửi trực tiếp thư trả lời cho. Đôi khi lá thư ấy chứa đựng những giải pháp họ đang trông đợi, cũng có khi là một bản dịch tốt nhất đáng lẽ ra đã được trình bày bằng những ngôn từ khó hiểu và hiếm dùng, song ở đây lại được ông chỉ dẫn bằng những cách diễn đạt các từ ngữ tiếng Pháp chuyển sang chữ Quốc ngữ một cách dễ hiểu nhất đối với người dân nước Nam.

Cái ngành khoa học thâm thúy và hiếm hoi này, đã được Nguyễn Văn Vĩnh đem tới cho rất nhiều người, ông học được theo cách gì, học từ đâu và từ nhà trường nào vậy? Về điều này, ở Hội Tương tế Giáo dục chúng ta chỉ có những quan niệm hết sức mơ hồ. Nói chung, chúng ta chỉ biết qua qua về ông, rằng đó là một cựu học sinh trường Thông ngôn, nhưng chúng ta đều không biết, những người giáo viên như thế nào, đã góp phần để đạt được hiệu quả tốt nhất trong việc làm phát triển trí não của con người này?!

Có một điều chắc chắn, đó là kể từ năm 1905, sau khi đã rũ bỏ được những công việc của nhà nước, có phần nào, ông cũng rũ bỏ được những âu lo chính trị, Nguyễn Văn Vĩnh đã chỉ còn sống cho đồng bào, cho những người bạn đã được ông rất khéo chọn, và cho công việc học hành của chính ông. Thực ra, ông đã lao vào những việc này ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường. Ông đã không bao giờ rời bỏ những mục tiêu của mình, ngay cả khi trong cuộc đời, nhiều lúc ông đã phải đương đầu với những cuộc đấu tranh cam go nhất để trở thành con người của công chúng.

Có được chút thời gian nào mà ông có thể tranh thủ để nó không bị cướp đi mất, ông liền ra ngồi tại các thư viện trong thành phố Hà Nội. Tại “Thư viện bình dân” nằm trên đại lộ Francis Garnier [của hội “Khai Trí Tiến Đức” nằm trên con lộ chạy quanh hồ Hoàn Kiếm], người ta chưa từng thấy có một bạn đọc nào lại chăm chỉ hơn ông.

Vậy nhưng, người bạn đồng nghiệp Nguyễn Văn Vĩnh của chúng ta lại không hài lòng với những cuộc nghiên cứu âm thầm lặng lẽ đó. Ông, là một con người mà sự hành động cũng ngang bằng con người của sự học hỏi, ông thích những cuộc hội họp của hội Trí Tri chúng ta, và các cuộc họp ở Đông Kinh Nghĩa thục, là những nơi mà ông có thể khuếch trương được cái tầm hiểu biết mênh mông của mình. Ông khuấy động những nơi này bằng cách phát biểu của mình, với những lời lẽ bao giờ cũng sẵn sàng cho việc tranh luận, ông đã hấp dẫn người nghe bằng cái duyên ăn nói, và ông còn đem đến cả vốn tri thức cho những người tham gia bằng những câu chuyện ly kỳ và ý nhị.

Những khi như vậy, sẽ là một sự thiếu hụt to lớn cho ông nếu ông không có phương thức nào khác để đem nền văn chương Pháp tới cho các thính giả của mình. Ông nghĩ ngay đến việc hãy cho họ nếm náp chút đỉnh… và thế là ông bắt tay ngay việc giới thiệu với họ. Với cách chú giải ngắn gọn, các bản dịch tác phẩm [nhà thơ viết ngụ ngôn] La Fontaine [(1621-1695)], [nhà viết hài kịch] Molière [(1622-1673)], [nhà viết văn xuôi] Anatole France [(1844-1924)] được dẫn chứng. Tiến hành một công trình như vậy chẳng còn ai làm được tốt hơn ông. Đương nhiên, ông cần phải thấu hiểu tiếng Pháp, phải biết chiêm ngưỡng một cách nồng nàn các nhà văn cổ điển Pháp. Nguyễn Văn Vĩnh sùng kính các đại văn hào tới đâu, chỉ cần đọc các chú giải của ông là ta đủ thấy rõ. Đó thực sự là những bài ngợi ca với vẻ sinh động của sự sùng kính.

Trước tiên, có một sự kiện rất đáng được chú ý, đó là sự đối lập rõ rệt đôi khi ta bắt gặp giữa các bản ông dịch nguyên văn và các bản ông dịch theo lối phóng tác. Trong khi dịch [nhà đạo đức học và chính khách] La Rochefoucault [(1613-1680)] ông ngại làm mất đi dù chỉ một chút hương vị của bản gốc, và khi dịch [nhà văn, nhà triết học, nhà Khai sáng cách mạng Pháp] Jean-Jacques Rousseau [(1712-1778)] ông chăm chú theo sát cấu trúc câu chữ trong tiếng Pháp, cho tới từng đoạn văn vòng vo, uốn éo, thì ngược lại ông sẵn sàng làm cho câu văn dịch La Fontaine của mình mang một cách nói năng “nửa Pháp nửa Nam” mà vẫn không xa rời giọng điệu của ngôn ngữ Việt. Nhờ vào việc dùng nghệ thuật ngôn ngữ tinh tế, Nguyễn Văn Vĩnh vẫn đạt tới đỉnh điểm khả năng gợi lên cho kỳ hết tính độc đáo của bản gốc tiếng Pháp.

Gạt bản gốc qua một bên, bản dịch Ngụ ngôn được ta đọc một mạch, như đọc bản chính vậy(4). Dịch mà như thế, chắc chắn không phải là phản rồi. Ấy vậy mà người ta cứ xưng xưng lên rằng, tiếng nước Nam không đủ khả năng tái hiện những chỗ xuồng xã, những chỗ táo bạo trong cách biểu đạt, và nhất là không thể diễn đạt cái nhịp điệu và toàn bộ cái nghệ thuật thật mềm mại, thật tinh tế và thật uyên bác trong tiếng Pháp. Dẫu sao thì cũng có những người Tây Âu đã được “Nam hóa” thừa nhận rằng, dụng tâm của Nguyễn Văn Vĩnh là một trong những điều vô cùng đáng trân trọng, rằng cách thức ông chuyển ngữ thật hết sức nhẹ nhàng, đọc lên thấy khoái chí, và ông có rất nhiều bản dịch thành công như vậy. Mặc dù trong tay mình, ông được tự do thực sự để xoay vần với văn bản gốc, song bản dịch của ông vẫn tỏ ra trung thành. Khi ông dịch, ông đã phải vận dụng từ những nguồn cung cấp thi pháp nghèo nàn [của tiếng An Nam] để tạo ra được những cách biểu đạt tương đương và khó bắt bẻ nhất.

Nguyễn Văn Vĩnh thậm chí còn muốn công chúng tham gia vào cả các bài giảng do ông soạn về [nhà toán học, vật lý học, nhà triết học] Pascal [(1623-1662)], về Rousseau, về [nhà văn, nhà bình luận văn học] Voltaire [(1694-1778)]. (Xin hãy xem các bài ông viết ở mục Pháp văn tạp thái in trong Đông Dương tạp chí năm 1913 từ số 2 trở đi. Các bài ở mục Cổ kim văn hợp thái, như trên, năm 1915-1918, các bài Giáo dưỡng đạo lý, trích từ các nhà đạo đức học cổ thời và tân thời châu Âu, vào năm 1913, các số từ 15 trở đi, Các yếu tố triết học theo các nhà triết học cổ điển giỏi nhất của Pháp, cũng trong năm 1913, các số từ 28 trở đi).

Chúng ta sẽ nhận thấy một cách tự nhiên rằng, khi đọc “ghé” cùng với ông, chính những điều ông viết ra là đã được đọc kỹ càng, nó được đọc với một mối thiện cảm sẵn có và thấy có cả sự thấm thía. Cách đọc đó, chẳng có gì giống với việc đọc của các quan văn xưa kia chuyên nghề tu từ học(5). Từ [nhà văn, bác sĩ và nhà nhân văn chủ nghĩa thời Phục hưng] Rabelais [(1494-1553)] đến [nhà văn hiện thực lớn thế kỷ mười chín] Balzac [(1799-1850)], rất nhiều “trích đoạn chọn lọc” hay nhất đã được dịch ra một lần, rồi lại được dịch lại trước mặt chúng ta, để chúng ta nghiền ngẫm, nếm náp và tiếp nhận. Công việc được tiến hành bởi một phương cách mà bao trùm lên tất cả, là một năng lực cảm nhận bậc cao, một sự thẳng thắn, một sự hòa hợp với cuộc sống hiện tại, hoàn toàn không bị nhiễu bởi cả cái thị hiếu lệ thuộc vào lôgich cũng như bởi sự quá chớn trong việc nâng niu, o bế tính nghệ thuật, lại càng không bị cản trở vì bất kỳ tham vọng áp đặt một ý kiến cá nhân nào.

Lời bình về Rousseau hoặc Voltaire cứ thế bật ra một cách tự nhiên từ trang sách được tuyển chọn, để bày tỏ với chúng ta về phương diện luân lý của sự khoái cảm và niềm đam mê. Đây cũng là một cách phân tích thích hợp với chủ đề của những bài văn trích, nhưng lại được tuôn trào một cách uyển chuyển trong của sự dồn dập của những ý tưởng do chính bài văn đưa lại. Nói đến lời bình về [con người “duy vật”] Pascal hoặc Bossuet [1627-1704, nhà thần học, giám mục], với những bài giảng đạo đầy tính cách văn chương, thì lại theo phong cách nghệ thuật, và được người bình luận bất ngờ đem dùng, để bàn về tính chính danh của một cách diễn đạt, hoặc một hình ảnh, hoặc một chi tiết có tính bếp núc trong nghiệp văn chương và được gợi mở ngay trong quá trình bình luận.

Chúng ta còn biết trông mong gì hơn, ngoài việc muốn có nhiều bạn đọc, khi đứng trước một văn bản cũng sẽ tìm, học được cái cách nghiên cứu uyển chuyển và linh hoạt như thế. Tuy vậy, xin chớ nên nghĩ rằng, và chính Nguyễn Văn Vĩnh cũng nhắc đi nhắc lại nhiều lần : đừng khư khư coi cách học như vậy là duy nhất đúng để hiểu được sâu và hiểu đầy đủ một áng văn ! Thậm chí chúng ta còn có thể khẳng định rằng, đây là giới hạn của những điều chúng ta sẽ đặt tên là những tiếp xúc ban đầu, rất cần thiết, tuyệt vời nữa, nhưng chỉ là tạm thời thôi, nếu như việc đọc ấy vẫn chỉ dừng lại ở chỗ để đầu óc ta thư thái. Nguyễn Văn Vĩnh nói: “Để hiểu cho thật đúng một đoạn văn trích, nên chăng ta còn cần đến một chút lịch sử văn chương hoặc những lời phê phán văn bản? Nên chăng khi nghiên cứu nhân vật Tartuffe [của Molière] chẳng hạn, ta có nên ám chỉ đến “âm mưu của những người ngoan đạo” và tránh tin tưởng thái quá rằng con người đó là “một tên khố rách áo ôm tìm cách ăn chạc một gia đình tư sản” hay đó chính là “một kẻ vô thần đích thực”? Còn đối với hệ thống tư duy của Balzac, nên chăng cần đẩy xa hơn chút nữa việc xem xét nó thật kỹ càng, đi xa hơn những gì đã được mô tả trong những gương mặt và những mối quan hệ giữa con người bằng xương bằng thịt với con người đạo lý ?”.

♣ ♣ ♣

Trong quá trình ông giảng bài, và đặc biệt khi ông làm công việc dịch thuật, trong lúc, ông cố gắng để không làm mất mát mảy may chút hương vị nào trong những áng văn tuyệt đẹp của các nhà văn Pháp(6). Nguyễn Văn Vĩnh đã bắt đầu suy nghĩ về vấn đề trật tự của các từ ngữ trong tiếng Pháp và trong những ngôn từ thiếu sự phong phú trong lớp từ vựng khi diễn đạt các môn khoa học đạo đức và chính trị như trong tiếng An Nam. Ông không hài lòng với việc dừng lại ở những chỗ khác biệt, hoặc đối lập dễ nhận thấy nhất. Ông tìm tòi, lý giải vì sao có những khác biệt đó và xác định các hệ quả của những chi tiết này.

Bằng nhiều thí dụ, ông đã tìm cách lý giải cách thức vì sao có sự tự do sắp xếp các từ ngữ trong chuỗi văn nói của tiếng An Nam ? Sự vận động mang tính tư tưởng và tình cảm là cái quyết định vị trí của mỗi từ ngữ tạo thành một câu nói. Ngược lại, trong tiếng Pháp, thì cú pháp quyết định tất cả, một thứ cú pháp chặt chẽ, nó chỉ định, hoặc nói cho đúng hơn nữa, nó áp đặt cho từ nào đó phải nằm vào vị trí nào đó… một thứ mệnh lệnh quân sự. Ta nhận ra được sự đối lập nhau về các phương pháp một khi ta có thực hành ngôn ngữ trong tiếng An Nam hoặc tiếng Pháp. Nhưng điều khiến cho các nhận xét của Nguyễn Văn Vĩnh trở thành hấp dẫn, đó là sự so sánh chi li của ông, đó là cái tinh tế khi phân tích để chỉ ra cách dùng ngôn ngữ mà một Nguyễn Gia Thiều hoặc một Nguyễn Du đã từng thực hiện mà ai ai cũng thừa nhận rồi. Không chỉ có thế, đó còn là ở chỗ, ông chỉ ra được cách thức một [nhà thần học kiêm giám mục] Bossuet hoặc một [nhà viết tiểu luận về đạo đức học] La Bruyère [(1645-1696)], trong chừng mực nào đó, đã làm thế nào để phá vỡ cái khuôn đúc cú pháp vốn chỉ có lôgich thôi và khó mà hình dung sao lại có thể điều chỉnh được chúng.

Qua các bản dịch của đồng nghiệp Nguyễn Văn Vĩnh, chúng ta thấy cần thống nhất cách hiểu khái niệm “câu có tính lôgich”, cái trật tự không đổi của các từ ngữ đã đóng góp tới đâu cho việc hình thành tính lôgich của một câu.  Làm thế nào mà dần dần theo chu kỳ để đi từ chỗ trôi nổi và đôi khi khó tính, các từ ngữ đó lại được ken sát lại với nhau, được cắt ngang nhau bằng những nhịp ngưng, nghỉ càng lúc càng dồn dập. Và kết quả từ đó là một phong cách ngôn ngữ càng lúc càng có dáng dấp linh hoạt hơn và nhẹ nhàng hơn, để có được một sự trong sáng hiếm hoi và một sự uyển chuyển đặc biệt, cùng với đôi khi là một vài nhược điểm mà chính Nguyễn Văn Vĩnh đã hình dung được ngay từ khi bắt tay vào việc dịch(7). Bởi lẽ, ngay lập tức cũng có vấn đề đặt ra rằng, liệu có phải chỉ hoàn toàn là thành công trong chuyện tiếp xúc giữa tiếng An Nam và tiếng Pháp, một khi ta chưa đạt tới một sự tận cùng để phát tán tư tưởng. Một khi ta vẫn còn có gì đó vấp váp, hụt hơi khi phát tán đi những tư tưởng nhưng lại không mang được phong thái của các bậc thánh hiền, danh nhân kinh điển của nước Nam.

Một mặt khác, ở một trình độ cao, Nguyễn Văn Vĩnh có được cái tài năng, cái phương pháp, cái đắn đo, cân nhắc, và ông cũng có cả cái năng lực cảm nhận sự sống của vạn vật, là cái tạo thành vẻ đẹp của khoa học. Ông thích dẫn những lời lẽ sau đây của [nhà ngôn ngữ học Pháp] Gaston Paris [(1839-1903)], và điều này khiến ta hiểu thêm ý đồ của ông rất nhiều: “Đó là gì vậy, cái ngôn ngữ chúng ta nói năng, chúng ta nhờ nó mà tư duy, cái nơi chúng ta sống cuộc đời đẹp nhất của mình là cuộc đời trí tuệ và đạo lý, cái ngôn ngữ chúng ta yêu, vậy mà sao nó lại vô cùng xa lạ với ta? Mỗi thế hệ, tới lượt mình, khi bước vào cuộc sinh tồn, lại nắm bắt lấy nó, có thể nói là đã bám víu vào đó, rồi truyền lại cho thế hệ kế tiếp với ít nhiều sửa sang thay đổi. Vô tư lự, dửng dưng trước mọi điều huyền bí đang vây quanh ta đó, chúng ta lấy lại những ngôn từ cũ nơi miệng mẹ ta, hòa trộn chúng và không ngừng khua chúng lên trong cuộc đời ngắn ngủi của mình, cho tới khi chúng tới ghi lại trên nấm mồ chúng ta những gì chúng ta ngỡ mình là như vậy; và hầu như chẳng khi nào chúng ta hỏi xem do đâu mà chúng có cái sức mạnh bí ẩn làm sống dậy được tư tưởng của chúng ta!” Đặt ra cho ngôn từ câu hỏi về “những câu chuyện chúng kể cho ta nghe”(8). Một công thức giản đơn và thích hợp biết bao, và điều đó cũng diễn đạt thật đáng yêu vì đâu mà có cái duyên và cái chiều sâu trong các công trình của Nguyễn Văn Vĩnh!

Nhưng xin hãy thận trọng, không nên bị lầm lẫn vì sự “giản dị” này. Để có đủ khả năng hoàn thành cái trách nhiệm ông tự gán cho chính mình, đồng nghiệp Nguyễn Văn Vĩnh của chúng ta đã phải có những phẩm chất đặc biệt hiếm hơn nhiều và khó thu thập hơn nhiều, thì mới có thể đem lại cho chúng ta một bản dịch của một tác gia đương thời sao cho xuôi tai,mát mắt. Cần phải có thị hiếu, một thứ thị hiếu tinh tế và chắc chắn. Cần phải có được sự thực hành tạm đủ trong việc dịch các tác phẩm của những nhà thơ và những nhà viết văn xuôi thiên tài để có thể đi vào trong tư tưởng của họ. Bằng một thứ trực giác nào đó, để đoán ra được các tác giả đó đã chơi khăm mình ở chỗ nào đây… mỗi khi mình tìm cách dịch cho sát một ý tưởng nào đó, nhằm tạo ra một tác động nào đó.

Điều khiến cho Nguyễn Văn Vĩnh nổi bật, điều bí mật khiến ông đứng được cao hơn hẳn, đó là vì ông đã nghiên cứu sâu sắc đích thực nền văn học của nước Pháp, cái nền văn học đi từ [cái duy lý chặt chẽ của] Pascal tới [cái du dương bay bổng của] Anatole France. Những lời lẽ ông nói với chúng ta về vấn đề này chứng minh rằng, ông đã làm được điều đó ! những lời lẽ ông dùng, đáng để chúng ta không thể nào được quên, vì chúng có hương vị riêng, và vượt qua được cái lớp vỏ thô ráp bên ngoài, là ta sẽ tới được cái hạt ngon lành bên trong. Những tư tưởng của Nguyễn Văn Vĩnh không phải là những bóng ma lang thang bỗng tan biến dưới con mắt nhìn tỉnh táo, đó là những thực tại không lẩn trốn ta, những thực tại chắc nịch, khách quan, mà ta có quyền ngạc nhiên nếu không thấy chúng nằm bên trong một cuốn sách trên bìa có in tên ông.

Ông nói: “Khi dịch [cuốn sách nghiên cứu về Rabelais] của ông Vayrac [cuốn “Notices sur Rabelais”], tôi tự đặt ra nhiệm vụ nghiên cứu sự tiến hóa của những tác phẩm văn chương và đặc biệt nghiên cứu quy chế những dạng thức viết vào hồi thế kỷ thứ XVI, đã thế chân cho các thể loại văn hóa Pháp thời Trung cổ. Hồi đó, hơn hẳn so với các thế kỷ tiếp theo, các điều kiện làm sản sinh ra một tác phẩm văn chương đều tuyệt hảo cho việc phát sinh các phản ứng của những con người có nhân cách đặc biệt. Thói quen của lối sống thượng lưu chưa khiến họ trở thành giống nhau chằn chặn. Các trào lưu thì ào tới từ bốn phương, từ công cuộc Phục hưng ở Italia, từ chủ nghĩa nhân văn, từ cuộc sống cung đình, đã lôi cuốn họ tới những phương trời mới.”(9). Nguyễn Văn Vĩnh đã đọc một số công trình của Hội nghiên cứu Rabelais. Ông dùng chúng để được thấy rõ những dụng ý của Rabelais, từ đó mà nắm chắc sự biến đổi một thể loại văn học do nhà văn Pháp đó gây dựng nên.

Có lần, ông đã nói với chúng tôi rằng, “Bắt đầu với Pantagruel là một câu chuyện chỉ để mua vui được tạo thành bởi những tình tiết về người khổng lồ và những chuyện tiếu lâm, tương tự như những chuyện thời sự lớn và đầy ý nghĩa thời đó, đến cuốn tiểu thuyết tiếp theo của Rabelais, Gargantua lại mở ra những tư tưởng lớn của thời Phục Hưng nhờ vào cái vốn đầy tính trí tuệ văn hóa của tác giả. Tới tác phẩm Cuốn sách thứ ba, nét chủ đạo của cuốn tiểu thuyết là tiếng nói uyên bác của tác giả, trình bầy các tư tưởng, biện luận rồi tranh biện về chúng. Nội dung hành động trong cuốn tiểu thuyết chẳng có gì hết. Các tình tiết  cũng chẳng còn là một câu chuyện kể nữa, mà trở thành một vấn đề nêu lên để giải quyết. Panurge có nên lấy vợ không? Đó hầu như là một loại tiểu thuyết mới, loại tiểu thuyết triết học. Tác phẩm Cuốn sách thứ tư cũng chẳng có nhiều nội dung hành động hơn Cuốn sách thứ ba. Trong khung cảnh một chuyến tầu biển đi tới một chốn xa xôi nào đó, Rabelais đưa vào đó những cảnh hoang tưởng và những tiểu phẩm châm biếm. Những đọan thú vị hơn cả, là việc chọc giận, nhằm chống lại những nhà cải cách tôn giáo theo phái Calvin và chống lại những “người dân xứ Giáo Hoàng” tại “Siêu Cao Sơn” [những “papimanes ultramontains” – chữ do Rabelais bịa ra – ND thêm]”.

Nguyễn Văn Vĩnh nghiên cứu với đầy sự đam mê tính độc đáo đó của nghệ thuật Rabelais khi dùng những tình tiết vay mượn, rồi kết hợp lại để diễn đạt tư tưởng của mình. Nhiều lần ông lưu ý các đồng nghịêp chúng ta về cái thú gây ra sự ngạc nhiên đã thành nguyên tắc trong cách đùa của Rabelais. Ông nói, “Từ nguyên tắc đó mà có sự coi khinh cái vẻ ngoài như thật, có cái tự do hoang tưởng, có những đoạn bình phẩm lan man, và nhất là có được sự điêu luyện ngôn từ, tất cả để làm nổi bật lên cái xu thế xử lý chủ đề chỉ như một chuyện bông phèng đơn giản.”

Nguyễn Văn Vĩnh nói tiếp, “Molière thì lại là người có những tư tưởng của một anh thị dân thời kỳ 1660, những tư tưởng hơi thô lậu, thêm chút dửng dưng trong tín ngưỡng, hơi có một chút nữ khuynh, và thêm nữa lại không e ngại gì về hậu quả của điều đó. Tôi không chấp nhận cách lý giải Molière như là vị thánh tông đồ của sự tự nhiên. Ông chỉ là người đại diện của cái thiên lương, nhất hạng, ông là con người mẫn cảm với những vấn đề xã hội…  Đừng đi tìm những bài học đạo lý ở Molière, các vở kịch của ông chẳng giảng dậy điều gì hết, hoặc ít ra thì cũng không tỏ vẻ gì là vạch đường chỉ lối cho ai cả. Có một số nhà phê bình Pháp thường hay dùng lời lẽ bóng bẩy để nhạo báng những ý đồ dùng hài kịch để sửa chữa thói hư tật xấu của con người; nếu đúng là có chuyện đó, thì tại sao trong các vở kịch Molière lại đầy những lời lẽ thấp kém về đạo lý và rành rành là thô tục? Có lẽ ta nên xem xét kỹ cái chủ nghĩa hiện thực của Molière, nó khinh thường sự tưởng tượng, nó chỉ thấy trong các quy tắc một thứ đức hạnh tiêu cực và nó chỉ chăm chú tạo ra những gì sống động, những điển hình mà thôi”.

Nguyễn Văn Vĩnh hài lòng dừng lại ở việc lý giải mức độ Molière trung thành tới đâu với công thức [ba yếu tố duy nhất] của nghệ thuật kịch cổ điển, được ông rũ bỏ để tiến gần đến với cuộc đời thật vô cùng hỗn độn và phức tạp. Thường khi ông nói với chúng ta về mặt kỹ thuật Molière vẫn dùng, về mặt thị hiếu của Molière, khi ông xử lý với mọi điều xung quanh cũng chăm chút như các nhân vật của mình. Cả việc Molière phác họa ra những một bối cảnh thay vì chỉ phác họa ra một chân dung, về việc Molière phơi bầy hoàn cảnh của cả một gia đình bị tàn phá vì thói xấu hoặc vì thói ngang ngạnh của một thành viên trong đó. Vì vậy, ta không thấy có điều gì đáng ngạc nhiên khi nhận ra rằng, Molière không bận tâm đến chất lãng mạn, và Molière chỉ chú trọng chút ít đến nút thắt và cách cởi nút cho hợp lý của tác phẩm.

 

Hết phần 1.

 

Chú thích

(1) Sinh ở Phượng Vũ (làng Dực, tỉnh Hà Đông) ngày 15 tháng 6 năm 1882 (tức ngày 30 tháng tư năm Nhâm Ngọ, hoặc năm Tự Đức thứ 35).

(2) Từ năm 1913, Nguyễn Văn Vĩnh cùng F. H. Schneider xuất bản Đông Dương tạp chí, và ông đã  không tiếc công cho tờ báo này trong suốt sáu năm trời. Tờ Đông Dương tạp chí vẫn đang xuất bản đều đặn, thì năm 1915 ông đã lập ra luôn tờ Trung Bắc tân văn và ông đã điều hành tờ báo này gần như không ngừng trong suốt hơn hai chục năm; thế rồi, năm 1931, ông đặt nền móng cho tờ L’Annam nouveau [“Nước Nam mới” – ND thêm] cũng từ đó ông là chủ nhiệm và công bố đều đặn mỗi tuần đủ hai bài. Sau rồi, khi ra mắt các tờ La Pensée de l’Occident [“Âu Tây tư tưởng” – ND thêm] và tờ Tứ dân văn uyển, thì ông là người đầu tiên đem lại cho Ông E. Vayrac sự hợp tác quý báu. Chưa hết: từ năm 1906, Nguyễn Văn Vĩnh hợp tác với nhiều cơ quan báo chí xuất bản tại Hà Nội hoặc ở nơi khác: tờ La Tribune Indochinoise [“Diến đàn Đông Dương” – ND thêm] (1906-1907), tờ Đăng cổ tùng báo (năm 1907, với bút hiệu Tân Nam Tử), Notre Journal, organe des fonctionnaires et des employés indigènes de l’Administration française et du commerce de l’Indochine  [“Tờ báo của chúng ta, cơ quan của công chức và viên chức bản xứ thuộc chính quyền Pháp và cơ quan thương mại Đông Dương” – ND thêm] (năm 1908-1909, với bút hiệu Đinh Thái Lai), các tờ Lục tỉnh tân văn, Notre Revue, publication documentaire et de traductions [“Tạp chí của chúng ta, xuất bản tư liệu và dịch phẩm” – ND thêm] (năm 1819, in từ các số 1 đến 12), vân vân…  Mặc dù ông viết bằng tiếng Pháp với một vốn từ vựng và một sự hào hoa đủ để những người theo nghiệp văn chương phải phát thèm, song ông cũng chẳng coi trọng bao nhiêu đến gía trị do hình thức mang lại. Trong số các dịch phẩm của ông sang tiếng Nam, ta có: Giáo dưỡng đạo lý, trích từ các nhà đạo đức học cổ thời và tân thời châu Âu (trên Đông Dương tạp chí năm 1913, các số từ 15 trở đi), Các yếu tố triết học theo các nhà triết học cổ điển giỏi nhất của Pháp (như trên, năm 1913, các số từ 28 trở đi), PLUTARQUE, Những cuộc đời song hành của những nhân vật nổi tiếng Hy Lạp và La Mã (trong “Âu Tây tư tưởng”, 1932),  FÉNELON, Télémaque phiêu lưu ký, (như trên, năm 1927), MOLIÈRE, Hài kịch (như trên, năm 1928), LA FONTAINE, Ngụ ngôn (như trên, năm 1928), LESAGE, Gil-Blas de Santillane, (như trên, năm 1929-1930), PRÉVOST, Manon Lescaut, (như trên, năm 1932), V. HUGO, Những người cùng khổ, (như trên), H, DE BALZAC,  Miếng da lừa, (như trên, năm 1928), A. DUMAS, Ba chàng ngự lâm quân, (như trên, năm 1926-1927),  J. SWIFT, Gulliver du ký, (như trên, năm 1928), RABELAIS, Cuộc chiến tranh Pirochole, Bầy cừu của Panurge, (như trên, năm 1933), E. VAYRAC, Mấy nhận xét về khoa học, văn hóa và những thăng trầm của các nền văn minh, (như trên, năm 1927, như trên), Hương thơm nhân loại, 1925, Tam quốc chí, Phan Kế Bính dịch từ tiếng Trung Hoa sang tiếng Việt, Nguyễn Văn Vĩnh hiệu đính và bình luận, 1909.     

(3) Tên đầy đủ của xuất bản phẩm đầu tiên này của Hội Trí Tri là Tân học Văn tập (của các hội viên hội Trí Tri soạn và dịch ra). Trước phần học báo (Sư phạm học khoa) có đoạn Tiểu dẫn như sau [bằng tiếng Việt, ND thêm]: “Trong trang báo này, từ hôm nay giở đi, cứ mỗi tuần chủ nhật, chúng tôi có soạn một ít bài về phép giáo dục, luân lý, về cách trí, toán pháp, địa dư, sử ký và bài luận, để giúp các thầy dạy học bậc ấu học, tiểu học. Đến sau cũng có bài về trung học nữa. Nhờ nhà nước, việc tân học trong nước Nam ta mỗi ngày được mở mang thêm, cũng đã có nhiều thầy dạy học theo cách mới, nhưng mà các thầy ấy cũng còn cần phải học nhiều, mới có thể dạy học trò cho chóng tấn tới được. Mà sách quốc ngữ chưa có mấy, nên chúng tôi chắc rằng làm những bài này giúp được nhiều người; các ngài xem báo, nhờ có bài đã làm sẵn, hoặc cứ để nguyên vậy, hoặc tùy tiện đổi đi ít nhiều mà ra cho học trò, vừa nhẹ việc cho mình, vừa có thể biết rộng ra. – Trí Tri Hội”.  Nguyễn Văn Vĩnh thực sự là người đã đem trí óc của mình ra khuấy động tờ tạp chí này. Trên tờ báo đó, ông công bố những bài viết căn bản khiến ta kinh ngạc. Như chúng ta đều biết, đó là những công trình phổ cập kiến thức giản dị, nhưng đó là những công trình khó mà có đủ lời cho ta ca ngợi, những công trình mà chỉ một học giả đầy thiên bẩm như ông mới có thể viết ra được: trên một tờ tạp chí, ta không sao hình dung nổi, sao lại có thể có những chú giải đầy đủ hơn và chặt chẽ hơn, bổ ích hơn và sáng sủa hơn.

(4) Nguyễn Văn Vĩnh cũng tìm cách tái tạo trong bản dịch cả cái nhịp điệu, cái vận động, các hình ảnh như ở bản gốc. Đó thường là một công việc nặng nhọc. Sự so sánh trong một số bài ngụ ngôn được ông dịch theo thể thơ cho thấy ông vấp phải những khó khăn to lớn tới đâu. Đôi khi ông không thể tạo ra nối cái hài hòa, cái chân xác, cái sức mạnh như ở nguyên bản. Có những điều ta không bao giờ có thể dịch nổi, nhà văn có tài khéo bao nhiêu cũng chịu thôi. Tuy nhiên, ta vẫn bắt gặp vô số nhịp thơ dịch thật khéo của Nguyễn Văn Vĩnh cùng với một sự biểu đạt trong sáng khiến mọi người đều hiểu.

(5) Có lần Nguyễn Văn Vĩnh đã nói tại Hội Tương tế Giáo dục như sau: “Trong một cuốn tiểu thuyết của Alexandre Dumas, nhà văn này mô tả Richelieu làm thơ vất vả trầy trật, dùng ngón tay bấm đốt để đếm từng tiếng thơ sao cho đủ mười hai tiếng mỗi câu. Các nhà thơ chân chính đâu có làm thơ theo cách ấy, và nhịp thơ của họ luôn luôn bí ẩn như cuộc đời này vậy. Những ai phân tích thơ mà như ngưởi ta làm phẫu thuật trên xác chết thường không nhớ đến chân lý này. Khó mà có thể quy gọn những kiệt tác của trí tuệ người thành những công thức. Khi đọc những tiểu luận về nghề thơ ca kiểu đó, ta nghĩ đến một nỗ lực vô ích và một phương pháp sai lầm.”

(6) Tới đây, xin lưu ý chúng ta về các bản dịch Kim Vân Kiều, các chương đầu tiểu thuyết Tam Quốc Chí, mấy bài thơ Tô Đông Pha, vv… của ông. Nhờ ở cái thị hiếu tinh tế của ông, Nguyễn Văn Vĩnh biết cách mang lại ngay cả cho những người không am hiểu cả tiếng Nam lẫn tiếng Hán cái cảm giác ông đã dịch rất trung thành và rất hoạt bản gốc các bài thơ Hán-Việt; ông đặc biệt lưu lại được ở mỗi tác phẩm cái tính cách, cái giọng điệu, cái tình cảm riêng của tác giả khiến cho các tác phẩm đó có được vẻ đẹp thi ca hoàn thiện. Những người Âu có học tiếng Nam đều ca tụng Nguyễn Văn Vĩnh đã áp dụng vào bản dịch Kim Vân Kiều những biện pháp ngôn ngữ bác học và nghiêm nhặt, và đã cư xử với một tác gia tương đối đương thời bằng một cung cách gần như cách đối xử với người xưa.

(7)…(khi ông dịch) trang sách này của Anatole France:

On annonce, on attend, on voir déjà de grands changements dans la société. C’est l’éternelle erreur de l’esprit prophétique. L’instabilité, sans doute, est la condition première de la vie; tout co qui vit se modifie sans cesse, mais insensiblement et presque à notre insu.

 

Tout progrès, le meilleur comme le pire, est lent, régulier. Il n’y aura pas de grands changements, il n’y en eut jamais, j’entends de prompts ou de soudains. Toutes les transformations économiques s’opèrent avec la lenteur clémente des forces naturelles. Bonne ou mauvaises à notre sens, les choses sont toujours ce qu’il fallait qu’elles fussent!

 

Notre état social est l’effet des états qui l’ont précédé, comme il est la cause des états qui le suivront. Il tient des premiers, comme les suivants les tiendront de lui. Et cet enchainement fixe pour longtemps la persistance d’un même type: cet ordre assure la tranquillité de la vie. Il est vrai qu’il ne contente ni les esprits curieux de nouveautés, ni les coeurs altérés de charité. Mais c’est l’ordre universel. Il faut s’y soumettre. Ayons le zèle du coeur et les illusions nécessaires; travaillons à ce que nous croyons utile et bon, mais non point dans l’espoir d’un succès subit et merveilleux, non point au milieu des imaginations d’une aapocalypse sociale; toutes les apocalypses éblouissent et déçoivent. N’attendons point de miracle. Résignons-nous à préparer, pour notre imperseptible part, l’avenir meilleur ou pire que nous ne verrons pas.

 

ANATOLE FRANCE

(Le Jardin d’Epicure)

Người thì nói xã hội sắp có đại biểu, người thì đợi xã hội sắp có đại biểu, người thì đã thấy xã hội có đại biểu rồi, Đó là cái trí tiên tri cứ hay lầm thế mãi. Cuộc sinh trưởng tất nhiên thế nào cũng phải có hoán cải; phàm vật gì sống, là hoán cải đi luôn luôn, nhưng mà hoán cải từ từ, ta không trông thấy mà thường không biết.

 

Phàm việc tiến hóa, dù tiến hay, dù tiến dở, cũng khoan hòa tuần tự mà tiến. Không bao giờ có đại biến, từ xưa đến giờ chưa từng có  khi nào, là đại biến nhanh, hoặc đại biến thình lình. Phàm các cuộc kinh tế trong xã hội hoán cải đi, thì cứ dần dần như sông cạn đá mòn. Trăm việc hiện ra, dù hay dù dở cho ta, việc gì cũng là đáng phải hiện ra làm sao thì hiện ra làm vậy!

 

 

Trình độ xã hội ta ngày nay, là nhân những trình độ đến sau, là quả những trình độ đã qua rồi. Thời này liên can với thời trứoc, cũng như thời sau lại liên can với thời này. Sự  liên can ấy làm cho định được một lối, còn lâu mới có lối khác. Thứ tự ấy làm cho cuộc sinh trưởng được thuần hóa. Thế thì không được thỏa những trí hay ưa mới, và những lòng khô héo vì thương người. Nhưng mà lẽ thiên địa đã ra như thế. Thì phải chịu một bề chớ biết làm sao. Thôi thì lòng ta cứ phấn chấn, bụng ta cứ mơ mòng, vì mơ mòng phải cố. Ta cho thế nào là ích, thế nào là hay, thì cứ mà làm, nhưng chớ cậy nên ngay và thần hiệu, và cũng đừng mơ tưởng có cõi cực lạc đến nơi. Phàm trong cực lạc hay chói mắt lại hay bị hững hờ. Ta cũng đừng đợi Giời làm đặc cách. Thôi cứ đành đem chút mẩy may phần ta vào việc reo hạt mai sau, hoặc hay, hoặc dở, ta cũng chẳng trông thấy nào.

 

(Đông Dương tạp chí,

22 mai 1913)

(8) Xin coi đoạn này trong Ý nghĩa các câu chửi thề của ta đăng trong Notre Journal số ra ngày thứ hai 14 tháng 12 năm 1908: “Chúng tôi không có tham vọng qua bản thuyết trình này mà đạt được mục đích loại bỏ được các ngôn từ này khỏi lớp từ vựng của đồng bào mình. Vô số kinh nghiệm cho thấy rằng chúng ta không thể bỗng dưng mà tạo ra được một ngôn ngữ, và cũng chẳng thể cái biến nó theo cách nào khác hơn là để nó được thế chỗ dần dần; ấy là chưa kể những cái thế chỗ đó cũng lại phải diễn ra đúng lúc và những gì thêm thắt vào hoặc bớt bỏ đi cũng phải tương ứng với những nhu cầu thông dụng. Chúng tôi cũng chẳng muốn đánh giá đồng bào mình là những con người thô lỗ, vì như chúng tôi đã nói đấy, họ chỉ làm mỗi một việc là nhắc lại một cách vô ý thức những gì họ nghe được khắp chốn cùng nơi. Những cách biểu đạt đó đã trở thành những từ ghép mà ý nghĩa tổng quát chẳng có gì khác hơn là sự bất bình và tức giận. Ở đó có vấn đề phải giải quyết, và tùy lúc chúng tôi phải trông cậy vào phần nhanh trí của bạn đọc thôi. Thật là điều thú vị nếu tìm được nguồn gốc các từ ghép đó. Như chúng tôi đã nói ở phần đầu bài viết này, ta cần phải lộn về tìm tòi ở một thời xa xưa. Nhưng cái thời kỳ đó nằm ở khúc nào trong lịch sử vậy, và các thói quen đó từ khi ấy chúng ra sao vậy? Chịu chết. Dẫu sao thì vấn đề đã được đặt ra; liệu ta có tìm ra lời giải thỏa đáng không? Các nhà bác học từ nhiều năm đã lao vào nghiên cứu các tư liệu để dựng lại lịch sử lâu dài của đất nước này, những người vẫn coi nhẹ cái điểm đặc biệt này, hẳn có nguyên nhân chính là vì vẫn coi đây là chuyện tầm phào. Và có thể đó là một sai lầm: nói chung các cách nói năng của người dân thường và đặc biệt là trong những câu chửi thường bao hàm cả một thời kỳ, cả một lịch sử, cả một quá khứ không tìm thấy được ở nơi các đền đài miếu mạo.”

(9) “Được giải phóng khỏi các xiềng gông mà vào những thời kỳ lịch sử khác thì sẽ lại bị chúng đè nặng lên vai mình, được kích thích vì một sự sôi sục về tư tưởng chưa từng thấy trong lịch sử, các tác phẩm bước vào đời, được biến dạng, được biến hóa, được điều tiết theo các thiên tài của những tác gia với một sự linh hoạt mà vào những thời kỳ lịch sử khác chúng ta sẽ chỉ bắt gặp như những trường hợp ngoại lệ lẻ tẻ mà thôi.” Pierre Villet, Các nhà văn lớn thế kỷ XVI, Paris, E. Champion xuất bản, năm 1923 và các năm sau, Tủ sách văn học thời Phục hưng.)

 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *