Nguyễn Văn Vĩnh với tiếng mẹ đẻ và chữ Quốc ngữ – phần 2

Sáu năm sau (1913) lại xuất hiện một cơ hội khác, nhưng lần này là cơ hội hoàn toàn mang tính chính trị, đó là việc bùng phát liên tiếp những mặt trận đấu tranh vũ trang chống Pháp ở cả ba miền. Để ngăn chặn và khống chế khuynh hướng này, chính quyền thực dân đã buộc lòng phải thực hiện giải pháp tuyên truyền, nhưng sẽ tuyên truyền bằng phương thức nào, ngôn ngữ nào?

Nguyễn Văn Vĩnh cũng thực sự bức bách vì suốt sáu năm liền, mặt trận khai dân trí và phổ cập chữ Quốc Ngữ hòng soán ngôi của chữ Hán hầu như dậm chân tại chỗ. Nguyễn Văn Vĩnh đã dốc lòng dịch các tác phẩm văn học kinh điển trong tủ sách tinh hoa của nhân loại ra tiếng Việt, nhưng sẽ được phổ biến bằng cách nào? Một mặt, ông dẫn người dân tới sự hấp dẫn bởi chữ Quốc Ngữ khi đọc các tác phẩm dịch. Mặt khác, ông chứng minh trước những tư tưởng bảo thủ và hủ Nho trong xã hội biết rằng: chữ Quốc Ngữ đủ sức chuyển tải và mô tả những tinh hoa trí tuệ của nhân loại chứ hoàn toàn không thể như quan điểm của một vị giáo sư viết ở Sài Gòn 1974 rằng: “… chữ Quốc ngữ chỉ là thứ chữ bình dân, không phải thứ chữ của văn hóa, chữ Pháp, chữ Nho mới là chữ văn hóa..”(13).

 

tv6

 

Trong sự nghiệp dịch của Nguyễn Văn Vĩnh với mục đích làm sân khấu văn hóa cho việc thể hiện, biểu dương sức mạnh của chữ Quốc Ngữ, cần phải nói đến tác phẩm “Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa” của nhà văn Trung Quốc La Quán Trung (khoảng 1330-1400) đã được chí sĩ Phan Kế Bính (1875-1921) và Nguyễn Văn Vĩnh dịch ra tiếng Việt lần đầu tiên vào năm 1909. Ở lời nói đầu của cuốn sách, Nguyễn Văn Vĩnh đã xác định ngay từ dòng chữ đầu tiên rằng:

Nước nam ta mai sau này, hay dở cũng ở như chữ quốc ngữ”.

Đây là minh chứng cho thấy nhận thức cao quý và lý tưởng của Nguyễn Văn Vĩnh đối với chữ Quốc Ngữ.

Vẫn ông chủ F.H.Schneider, người lĩnh hội yêu cầu chiến lược của chính quyền thực dân về việc mở một mặt trận thông tin văn hóa, tuyên truyền để lên án những người Việt Nam vì căm thù thực dân Pháp, đã tổ chức các cuộc binh biến gây đổ máu và rối loạn thay vì thực hiện những giải pháp thương lượng, đối thoại theo phương thức hợp tác Pháp-Nam mà Phan Châu Trinh là tác giả. Ngày 15.5.1913, họ đã quyết định cho ra mắt tờ báo xuất bản hoàn toàn bằng tiếng Việt đầu tiên tại phía Bắc Việt Nam mang tên “Đông Dương Tạp Chí”.

Không ai khác ngoài Nguyễn Văn Vĩnh được đặt vào vị trí Chủ bút. Nguyễn Văn Vĩnh thực tâm đã có thái độ đồng tình với quyết định này của Nhà cầm quyền bởi những nguyên nhân sau:

– Nguyễn Văn Vĩnh tán thành quan điểm chính trị của Phan Châu Trinh trong việc động viên một cuộc cách mạng về nhận thức của người dân trước yêu cầu thay đổi xã hội tận gốc rễ phải là học vấn, chứ không phải là bạo động. Bạo loạn sẽ gây ra những tổn thất khôn lường do sự chênh lệch lực lượng giữa đôi bên là quá lớn. Nguyễn Văn Vĩnh nuôi nhận thức: Khi con người có tri thức, người ta sẽ biết cách để quyết định vận mệnh của chính mình, một dân tộc khi có được trình độ học vấn nhất định, họ sẽ tìm được cách để đòi quyền bình đẳng với chính kẻ đô hộ mình, thay vì xung đột. Quan điểm này của Phan Châu Trinh và Nguyễn Văn Vĩnh đã từng được thể hiện trong quan hệ với Phan Bội Châu.

– Nếu để xã hội rơi vào xung đột đẫm máu vào thời điểm đó, dù có thể giành được thắng lợi, nhưng thắng lợi đó sẽ khó giúp được việc xây dựng một quốc gia phát triển bền vững. Xung đột sẽ tiêu hao sức lực, thời gian, người dân không có cơ hội học và tích lũy kiến thức, do đó sự nghèo đói lại kéo dài. Ngoài ra ông luôn lo lắng: lịch sử của chúng ta đã hy sinh quá nhiều xương máu qua các thời kỳ, cần phải tránh để lặp lại những mất mát đó. Nguyễn Văn Vĩnh “sợ” một cuộc xung đột vũ trang sẽ ngăn cản công cuộc canh tân văn hóa mà ông đang nung nấu và thực hiện.

Nguyễn Văn Vĩnh coi việc ra đời “Đông Dương Tạp Chí” là cơ hội nghìn vàng để ông tiếp tục có diễn đàn thực hiện cái lý tưởng văn hóa của mình từ trước đó là: “Ở thế–dan này, xem trong các nước, phàm nước nào đã gọi là nước văn–minh, là cũng có văn–chương riêng cả, tiếng nói thế nào, chữ viết như thế…”(14)

Ban trị sự Tòa soạn “Đông Dương Tạp Chí” quy tụ được hầu hết những gương mặt ưu tú nhất, có học vấn nhất và trí tuệ nhất của cả Trung kỳ và Bắc kỳ(15). Nhìn nhận vai trò lịch sử của “Đông Dương Tạp Chí”, đánh giá của Phạm Thế Ngũ (1921-2000) được các chuyên gia làm việc tại Trung Tâm Lưu Trữ Quốc Gia I thuộc Chính Phủ Việt Nam nhắc lại như sau:“Đối với Schneider và những người Pháp đứng sau tờ Đông Dương tạp chí, thì mục tiêu chính trị là quan yếu nhất. Còn đối với những người Việt Nam cộng tác, đứng đầu là Nguyễn Văn Vĩnh, hẳn các ông cũng muốn lợi dụng báo để làm nơi tuyên truyền cho việc duy tân đất nước và xây dựng văn học mới…”. Đấy chính là nguyên nhân, tiền đề dẫn tới sự ra đời của Đông Dương tạp chí, tờ báo chữ Quốc Ngữ sớm nhất ở Hà Nội(16).

Các chuyên gia nghiên cứu tại Trung Tâm Lưu Trữ Quốc Gia I, xác định “Đông Dương Tạp Chí” là tờ báo đầu tiên ở Việt Nam dạy người dân cách học, cách làm văn bằng chữ Quốc Ngữ. Với vai trò là Chủ bút, Nguyễn Văn Vĩnh đã chứng minh khả năng tiềm ẩn và sự dần hoàn thiện của thứ chữ viết theo mẫu tự La Tinh bằng việc dịch sang chữ Quốc Ngữ hàng loạt các tác phẩm văn học kinh điển, các tư tưởng triết học của các danh nhân văn hóa Thế giới. Ở tờ báo này, cũng là lần đầu tiên người Việt Nam làm quen với: Moliere (1622-1673). Chales Perrault (1628-1703). Jean-Jacques Rousseau (1712-1778). François-Marie Arouet-Voltaire (1694-1778)… Ngược lại, Nguyễn Văn Vĩnh cũng đã cực kỳ thành công khi dùng tờ báo tiếng Việt đầu tiên này để chứng minh với đồng bào mình rằng: nền văn hóa của dân tộc Việt Nam không thể không tự hào khi chúng ta có thi hào Nguyễn Du, có Truyện Kiều, mà qua cách quảng bá của Nguyễn Văn Vĩnh, dư luận đồng tình gọi Nguyễn Du là Đại Thi hào!

Mặc dù là tờ báo tiếng Việt đầu tiên ra mắt các độc giả Việt Nam, song Chủ bút Nguyễn Văn Vĩnh vẫn giúp được công chúng có những khái niệm hoàn toàn mới về một loại hình thông tin trong lĩnh vực báo chí. như ở các quốc gia phát triển. Qua một số chuyên mục được giới thiệu trên tờ báo này, ta thấy rõ điều đó.

– Thời sự tổng thuật (Tóm tắt các diễn biến thời sự mới nhất).

– Quan báo lược lục (Thông báo các chính sách mới của nhà cầm quyền).

– Tự do diễn đàn.

– Sách dạy tiếng An Nam.

– Gương phong tục.

– Luân lý học.

– Việc buôn bán (Các hoạt động thương mại).

– Nhời Đàn bà (Các vấn đề dành riêng cho nữ giới)…..

Về phương diện ngôn ngữ, những nội dung của các chuyên mục này đã được trình bày với độc giả chắc chắn đủ để tiếp thu thông qua chữ Quốc Ngữ. Rõ ràng,“Đông Dương Tạp Chí” đã đóng một vai trò quan trọng bậc nhất trong tiến trình phổ biến và hiện đại hóa ngôn ngữ, cơ sở để hình thành nền văn học chữ Quốc Ngữ ở Việt Nam, tiến dần đến khả năng thay thế vai trò nghìn đời của chữ Hán và chữ Nôm.

“Đông Dương Tạp Chí” ảnh hưởng và phát triển ra sao là hệ quả của không phải chỉ do người đứng đầu, mà lệ thuộc vào bối cảnh xã hội chính trị đương thời. Nhưng, ngày 7.1.1915, con đường phát triển báo chí ở Việt Nam, chứng kiến sự ra đời của một tờ báo mới, tờ “Trung Bắc Tân Văn”, vẫn do Nguyễn Văn Vĩnh là chủ bút. Năm 1917, một trong những gương mặt quan trọng của Tòa soạn “Đông Dương Tạp Chí” là Phạm Quỳnh (1890-1945) đã tách ra và tạo dựng tờ “Nam Phong Tạp Chí”. Đến năm 1919, Nguyễn Văn Vĩnh đã chính thức phát hành tờ “Trung Bắc Tân Văn” ra hàng ngày (Nhật báo). Đây là tờ nhật báo đầu tiên trong lịch sử báo chí ở Việt Nam. Cùng năm này đã xuất hiện một tờ báo đầu tiên ở Việt Nam chuyên về giáo dục và có tên là “Học báo”, do Nguyễn Văn Vĩnh là Chủ nhiệm và Chủ bút là Trần Trọng Kim (1883-1953). Lúc này, mảnh ruộng canh tác chữ Quốc Ngữ đã được nhân rộng lên rất nhiều.

Quá trình xây dựng, phổ biến và hoàn thiện chữ Quốc Ngữ với cơ sở truyền thông là báo chí ở thập kỷ 10 trong thế kỷ XX, thứ chữ viết mới này đã thật sự đi vào cuộc sống tinh thần của người Việt, nó đã trở thành phần hồn của một dân tộc. Trước những cố gắng bền bỉ và xuất sắc của Nguyễn Văn Vĩnh cùng với các đồng sự của mình là các nhà yêu nước, không phân biệt là phái Tân học hay phái Cựu học, cuối cùng, năm 1919, vua Khải Định (1885-1925) đã ra chỉ dụ bãi bỏ hoàn toàn các trường dạy chữ Nho. Ngày 18.9.1924, Toàn quyền Đông dương Martial Henri Merlin (1860-1935) ký quyết định đưa chữ Quốc Ngữ vào dậy từ cấp tiểu học trên toàn cõi Việt Nam.

———————–

Vậy là sau gần ba thế kỷ, tính từ khi có cuốn từ điển đầu tiên Việt-Bồ-La năm 1651, chữ Quốc ngữ đã chính thức trở thành chữ viết quốc gia của dân tộc Việt nam. Từ góc độ lịch sử, sự kiện này là thành quả kỳ vĩ của một nền văn hóa ở một quốc gia và đối với một dân tộc. Nó là sự biến thiên hiếm hoi của trí tuệ con người, bất chấp nguồn gốc, ý tưởng ban đầu khi nó hình thành. Thành quả của một cuộc cách mạng bao giờ cũng là sự đóng góp của cả một cộng đồng, nhưng vai trò của kẻ tiên phong, kẻ dấn thân một cách kiên gan và thông tuệ, thì không thể không nhớ ơn Nguyễn Văn Vĩnh.

Trong cuộc đời làm con chữ, làm báo, làm văn hóa, Nguyễn Văn Vĩnh luôn mong muốn bạn đọc của mình hãy động não lên và hãy nhận thức được thế nào là:”Tư duy lô gich châu Âu”. Trên rất nhiều số báo của tờ “Trung Bắc Tân Văn” ông luôn lặp đi lặp lại rằng: “Tôi chỉ là người thường”.”Tôi chỉ là người thường”…

Đến giai đoạn lịch sử này, nền văn học chữ Quốc Ngữ đã hình thành và như cái nôi, nó đã sinh ra tầng tầng, lớp lớp các đội ngũ hậu thế hùng hậu, làm vinh danh lịch sử văn hóa dân tộc ở thế kỷ XX như các nhân vật: Nhất Linh (1906-1963), Thế Lữ (1907-1989), Thạch Lam (1910-1942), Tú Mỡ (1900-1976), Nguyên Hồng (1918-1982), Nguyễn Công Hoan (1903-1977), Huy Cận (1919-2005)…

Năm 1922, ngài Francois Henri Schneider từ giã đất nước Việt Nam, vừa tròn 40 năm vật lộn ở mảnh đất đã giữ ông cả cuộc đời. Có lẽ, cũng như chữ Quốc Ngữ, Ông đến Việt Nam với một mục tiêu ban đầu rất khác với cái hệ quả đạt được khi kết thúc. Nhưng dù gì, chúng ta không thể quên ơn của F.H.Schneider, dù gì đó cũng là người đem đến đất nước này que diêm của ngọn lửa xuất bản tri thức.

Ngài Schneider ra đi, lúc này Nguyễn Văn Vĩnh đã quá đủ vững vàng. Nguyễn Văn Vĩnh tiếp tục đào sâu hơn, mở rộng hơn cái thửa ruộng văn hóa mà ông miệt mài cày cấy. Năm 1922, ông thay đổi toàn bộ dây chuyền công nghệ in do Schneider đem đến Việt Nam từ hơn 30 năm trước, với mục đích để có các ấn phẩm chất lượng hơn, chuẩn mực hơn. Ông tin tưởng ở kho tàng kiến thức khoa học và văn hóa của nhân loại sẽ giúp nâng cao dân trí, nên ông đẩy mạnh việc dịch hàng loạt các ấn phẩm nổi tiếng của Thế giới ra Quốc Ngữ. Để có chỗ giới thiệu các sản phẩm đó với người dân, ông vay tiền ngân hàng năm 1926, thành lập nhà sách Âu Tây Tư Tưởng ở số 1-3 phố Hàng Gai (Nhìn ra Bờ Hồ Hoàn Kiếm). Trong một bài tâm sự, Nguyễn Văn Vĩnh mơ ước rằng: Nhà sách này sẽ là Trung tâm Bách hóa văn hóa, một nơi người dân có thể tìm thấy tất cả những gì liên quan đến văn hóa.

Nguyễn Văn Vĩnh đã quyết tâm nghĩ và thực hiện việc cải tiến chữ Quốc Ngữ khi bị kỹ thuật điện tín quốc tế chối bỏ do tiếng Việt có quá nhiều dấu và âm sắc, và ông đã thành công(17). Lần đầu tiên, tiếng Việt được chuyển qua điện tín theo nguyên tắc a a = â, a w = ă, u w = ư…. Và đó là năm 1927.

Thành công trong việc cải tiến chữ Quốc Ngữ dùng trong nghành bưu điện đã “xui khiến” Nguyễn Văn Vĩnh còn quyết tâm hơn trong việc xây dựng chữ Quốc Ngữ Cải Tiến (Le Quốc-Ngữ Modifié). Nguyên lý của máy in linotype, phát minh khoa học của thế giới ra đời năm 1886, thay thế hệ monotype, không thể chứa hết 127 mẫu chữ cái khác nhau của chữ Quốc Ngữ, đồng thời, máy đánh chữ nhập từ châu Âu về Việt Nam không có dấu…Những thực tế này đã khich lệ Nguyễn Văn Vĩnh nghĩ ra một mẫu chữ cải tiến nhằm thuận lợi hơn trong việc hòa nhập với công nghệ in ấn của Thế giới. Một thí dụ: Năm dấu: sắc, huyền, hỏi, ngã nặng được Nguyễn Văn Vĩnh thay thế bằng: q, f, j, z, w và được đặt phía sau của từ.

Từ năm 1927 đến năm 1930, trên báo “Trung Bắc Tân Văn” mỗi số báo đều có một bài báo được Nguyễn Văn Vĩnh viết theo nguyên tắc của chữ Quốc Ngữ cải tiến. Mục đích là để giúp người đọc làm quen dần với mẫu chữ mới này. Ngoài ra, theo Nguyễn Văn Vĩnh, việc cải tiến chữ Quốc Ngữ mới giúp không thể nhầm lẫn khi viết cẩu thả do đánh nhầm dấu, vì các dấu đã được quy định thành các chữ cái, trong khi các phát âm vẫn như cũ. Hơn nữa, việc sử dụng chữ Quốc Ngữ cải tiến sẽ tận dụng được tất cả các hộp xếp chữ của máy in hiện đang sử dụng ở Việt Nam. Người thợ xếp chữ sẽ thuận lợi hơn, chi phí sẽ ít hơn. Phương pháp này tạo điều kiện để công nghiệp in ấn ở Việt Nam áp dụng được các phát minh, sáng chế của Thế giới. Đặc biệt, các loại máy đánh chữ nhập vào Việt Nam đều sử dụng được mà không bị bỏ phí.(18).

Đến thời điếm này, Nguyễn Văn Vĩnh đã đi được một chặng đường dài trong sự nghiệp xây dựng nền tảng tiếp thu học vấn và tri thức cho đồng bào mình. Kho kiến thức tiến bộ về tất cả các lĩnh vực của nhân loại đã đến được với người Việt Nam thông qua vai trò chữ Quốc Ngữ. Thật trớ trêu, những thành công này của Nguyễn Văn Vĩnh lại đi ngược với chiến lược cai trị của chính quyền Thực dân.

Nhà cầm quyền thực dân, một mặt muốn áp dụng việc sử dụng chữ Quốc Ngữ làm công cụ chính trị để cai trị, họ không muốn Nguyễn Văn Vĩnh biến nó thành nhân tố khai sáng cho trí tuệ người Việt. Mặt khác, tất cả những “ưu ái” của Nhà cầm quyền dành cho Nguyễn Văn Vĩnh, mục đích để Nguyễn Văn Vĩnh phải thực sự là công cụ và là đồng minh đích thực của họ. Vậy nhưng, Nguyễn Văn Vĩnh càng trưởng thành càng trượt xa mục tiêu chính trị của Chính phủ Thuộc địa.

Năm 1930, Chính quyền Thực dân không chịu đựng nổi vai trò và ảnh hưởng của Nguyễn Văn Vĩnh, họ quyết định tịch thu giấy phép xuất bản báo chí và sách bằng chữ Quốc Ngữ. Tịch thu nhà in Trung Bắc Tân văn. Họ đã thực hiện việc xóa bỏ những thành công đang dần thành hiện thực của Nguyễn Văn Vĩnh trong dự án Chữ Quốc Ngữ Đổi Mới, bằng cách cho Nhà in Viễn Đông (IDEO) xuất bản vội vàng một cuốn sách in bằng chữ Quốc Ngữ cải tiến theo kỹ thuật in Linotype với khổ sách 10cm x 14cm, dày 146 trang có tựa đề “Hướng dẫn đối thoại Pháp-Nam”. Lấy tên của cha cố đạo R. P. Barbier là tác giả. Chính quyền Thực dân đã vội vã đến mức lập tức bắt Nhà in Viễn Đông phải đăng ký bản quyền sáng chế phát minh và yêu cầu Viện Viễn Đông Bác Cổ Pháp chứng nhận.

Phản ứng trước thực tế này, ngày 29.5.1932, trên số báo “L’Annam Nouveau-Nước Nam mới” số 139, Nguyễn Văn Vĩnh đã viết bài “Cuốn sách đầu tiên được in ra bằng Chữ Quốc Ngữ đổi mới- Le premier livre imprimé en Quoc-ngu ré formé”, phân tích chi tiết những bất hợp lý trong nội dung của cuốn sách và thẳng thắn lên án cách hành xử mang tích thủ đoạn của Chính quyền. Thực chất, đây là sự cướp công với mục đích dập vùi, đẩy Nguyễn Văn Vĩnh đến chỗ phải đầu hàng.

Đầu năm 1931, đứng trước hàng loạt những khó khăn và khủng hoảng do Nhà cầm quyền Thực dân dồn ép, Nguyễn Văn Vĩnh bị chặt đứt tất cả các cánh tay trong sự nghiệp. Nhưng Nguyễn Văn Vĩnh đã không lùi bước.

Thực dân Pháp cấm thành lập các đảng phái chính trị. Cấm Nguyễn Văn Vĩnh viết và xuất bản các ấn phẩm bằng chữ Quốc Ngữ, họ ra ba điều kiện rất rõ ràng nếu không muốn bị phá sản với Nguyễn Văn Vĩnh gồm:

– Chấm dứt việc viết.

– Chấm dứt việc phê phán chính quyền và triều đình Huế.

– Chấp nhận làm thượng thư cho triều đình Huế.

Nguyễn Văn Vĩnh chống lại những đòi hỏi này của Chính phủ Thuộc địa. Bất chấp những khó khăn toàn diện trong cuộc sống, ông đứng ra tổ chức thành lập tờ báo “L’Annam Nouveau-Nước Nam mới” viết bằng tiếng Pháp, với các mục đích:

– Tiếng Pháp không phải xin phép.

– Tiếp tục vận động xã hội chống chế độ Bảo hộ và Quân chủ Lập hiến.

– Xây dựng và kêu gọi xã hội và chính quyền đi theo học thuyết Trực trị.

– Tiếp tục phổ biến những kiến thức xã hội tiến bộ về khoa học, văn hóa, chính trị, ngoại giao, thương mại, công và nông nghiệp….

Năm 1935, Thực dân Pháp đã hết kiên nhẫn. Một lần nữa, để hạ gục Nguyễn Văn Vĩnh, họ đã sống sượng đưa ra những sự áp đặt để ông lựa chọn như sau:

– Chấp nhận làm quan cho triều đình Huế.

– Không chấp nhận điều kiện một, sẽ bị tịch biên toàn bộ tài sản để phát mại và buộc phải trả nợ những khoản vay cho dù chưa đến hạn thanh toán và bị kết án phá sản. Hoặc phải sang Lào tìm vàng để trả nợ Chính phủ.

– Phải đi tù.

Là một người liêm sỷ, chính trực, Nguyễn Văn Vĩnh đã bác bỏ tất cả các điều kiện nghe như là sự ưu ái của Nhà cầm quyền, ông từ chối cả việc Nhà nước Pháp hai lần muốn tặng ông huân chương Bắc đẩu Bội tinh. Ông chấp nhận đi sang Lào theo sự sắp xếp của Chính phủ Thuộc địa như một giải pháp để trả món nợ khổng lồ ông đã vay trước đó liên quan đến hoạt động xuất bản và phát triển văn hóa.

Tháng Ba năm 1936, Nguyễn Văn Vĩnh từ biệt gia đình và người thân đến một nơi hoàn toàn heo hút, xa lạ. Không một ai nghĩ rằng, sự nghiệp đồ sộ của ông sẽ chấm dứt trên một con thuyền độc mộc lênh đênh trên dòng sông Sê Băng Hiêng (Nhánh của sông Sê Pôn, miền Nam nước Lào), trừ Nhà cầm quyền Thực dân. Người ta đã tìm thấy ông toàn thân tím đen, một tay vẫn giữ chặt cây bút và tay kia là một quyển sổ. Ông vẫn đang viết tiếp loạt bài phóng sự có nhan đề “Một tháng với những người tìm vàng”, và đó là ngày 1.5.1936. Nhà cầm quyền loan tin: Ngày 2.5.1936, Nguyễn Văn Vĩnh đã chết vì sốt rét và kiết lỵ!!!

Những thành viên của “Hội Tam điểm”(19)đã đưa xác ông về Hà Nội và tổ chức đám tang với 2 đêm và 1 ngày. Hàng vạn người đã đến vĩnh biệt ông với hàng chục các bài điếu văn tiễn biệt, trong đó có bài điếu viết bằng cả hai thứ chữ là Hán và Quốc Ngữ của Nhà yêu nước Phan Bội Châu (1867-1940). Người ta gọi Nguyễn Văn Vĩnh là “Ông tổ của nghề báo” và là “Người công dân vĩ đại” (20).

Để nhìn lại toàn bộ sự nghiệp của Nguyễn Văn Vĩnh, chí sĩ Nguyễn Văn Tố (1889-1947) đã viết và đăng trên tạp chí Tin tức-Hội Tương tác Giáo dục Đông Kinh số 16 ra tháng Sáu năm 1936 tại Hà Nội, xin trích đoạn:

“Mặc dù mất sớm, song Nguyễn Văn Vĩnh đã hoàn thành được một đại sự nghiệp, nó sẽ còn lưu lại mãi sau khi ông mất đi, như một bằng chứng bất hủ về sự tồn tại của ông. Tên tuổi ông sẽ được ghi khắc mãi mãi trong lịch sử văn học nước Nam, như một trong những bậc thầy đã làm được nhiều nhất cho sự phát triển của nền văn học đó. Tên ông sẽ không chỉ được viện dẫn bởi những người Tây học nhất quyết sẽ đi theo con đường do ông khai phá, mà tên tuổi đó cũng chẳng thể nào vô tình hay cố ý bị bỏ quên bởi bất kỳ ai, khi định đến với toàn bộ trào lưu tư tưởng ở xứ Đông Dương trong vòng ba chục năm qua. Bởi vì, riêng việc ông toàn tâm toàn ý phát triển chữ quốc ngữ(14), chỉ riêng việc đó thôi, đã bộc lộ toàn bộ cái giá trị của một con người đã đóng góp nhiều hơn bất kỳ ai, để khiến cho cái thứ chữ đó trở thành một trong những thành tựu bền lâu của trí tuệ con người.”(21).

Hà Nội, 12.5. 2015.

Tác giả : Nguyễn Lân Bình

Chủ nhiệm trang tin Tannamtu.com.

Các link liên quan:

Phần 1

Vén mây giữa trời thấy sách lớp 6 Cánh Buồm

Chú thích:

  1. Trích trong cuốn “Chữ văn Quốc ngữ thời kỳ đầu Pháp thuộc” của giáo sư Nguyễn Văn Trung. Nhà Xuất bản Nam Sơn xuất bản tại Sài Gòn năm 1974.
  2. Phát biểu của Nguyễn Văn Vĩnh ngày 4.8.1907 tại Hội Quán Trí tri (47 Hàng Quạt, Hà Nội) nhân ngày thành lập Hội dịch sách. Người ghi lại: Nguyễn Văn Tố. Tạp chí Tin tức-Hội Tương tác Giáo dục Đông Kinh số 16 ra tháng Sáu năm 1936 tại Hà Nội.
  3. Ban Trị sự của tòa báo có hai nhóm các nhân sĩ nổi tiếng. Phái Tân học, chịu ảnh hưởng của văn hóa phương Tây gồm: Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Duy Tốn, Trần Trọng Kim, Phạm Quỳnh…Phái Cựu học, chịu ảnh hưởng của Nho học gồm: Phan Kế Bĩnh, Dương Bá Trạc, Hoàng Tăng Bí, Nguyễn Đỗ Mục, Phạm Huy Lục, Nguyễn Khắc Hiếu…
  4. “Đông Dương Tạp Chí – Tờ báo chữ Quốc Ngữ sớm nhất ở Hà Nội” Tác giả Hoàng Cương và Thu Hường. Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I.
  5. Tạp chí Tem-Bưu điện Việt Nam số tháng 11.2011. Tác giả Đoàn Quang Vinh.
  6. “Cuộc cách mạng đổi mới” đăng trên các số từ 115 đến 118 tháng 3.1932 của báo L’Annam Nouveau-Nước Nam mới.
  7. “Hội Tam Điểm” (La Franc Maçonnerie) của những người thợ lao động ra đời từ thế kỷ XVI tại nước Anh. Là một hội đoàn hoạt động kín và chỉ kết nạp những người tốt trên khắp Thế giới. Một trong những tinh thần của Hội là: tự do tư tưởng, chống lại sự độc đoán và chuyên quyền của vua chúa và giáo hội. Nhiều hội viên của Hội là những nhà chính trị, là danh nhân nổi tiếng Thế giới như: Tổng thống Mỹ Washington, Abraham Lincoln, thủ tướng Anh Winston Churchill, nhạc sĩ Mozart, các triết gia như Montesquieu, Voltaire…
  8. Trích các điếu văn đọc tại tang lễ Nguyễn Văn Vĩnh ngày 8.5.1936 tại Hà Nội. (tannamtu.com).
  9. Trích trong bài “Sự nghiệp Nguyễn Văn Vĩnh” của Nguyễn Văn Tố, đăng trên Tạp chí Tin tức-Hội Tương tác Giáo dục Đông Kinh số 16 ra tháng Sáu năm 1936 tại Hà Nội.


Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *