Người sót lại của dòng máu sỹ phu Bắc Hà… theo như lời một học trò

TỪ BIỆT NĂM ẤT MÙI 2015!

Thưa các quý vị độc giả!

Những ngày cuối của một năm, theo bản năng, tôi hay bùi ngùi nghĩ về những người quen đã mất. Đặc biệt, những người thân và gần gũi với đề tài Tan Nam Tử -Nguyễn Văn Vĩnh.

Trong số những người đã ra đi vĩnh viễn, có một gương mặt luôn tạo cho tôi những xúc động sâu sắc và thương tiếc mỗi khi nghĩ đến, đó là nhà báo, nhà thơ, giảng viên Khoa Báo chí, Học viện Báo chí và Tuyên truyền – Trần Hòa Bình (1956 – 2008).

Tôi biết Trần Hòa Bình qua một bài báo đăng trên báo Tiền Phong năm 1996 có tựa đề “Con Ve Sầu Đông – Tây”, viết về học giả Nguyễn Văn Vĩnh. Ngày đó, vốn hiểu biết về sự nghiệp của cụ Vĩnh ở trong tôi rất sơ sài và ít ỏi, nhưng tôi được bài báo của Trần Hòa Bình làm thức tỉnh. Tôi đã trăn trở và đi tìm anh để làm quen, vậy mà mãi gần chục năm sau, nhờ việc vô tình được gặp nhà thơ Hồng Thanh Quang trong một buổi lễ đối ngoại, và tôi đã thành bạn với Trần Hòa Bình.

Trần Hòa Bình, với tôi là một gương mặt đáng quý. Anh không ồn ào, không căng thẳng mặc dù anh có một tâm trạng rất khác với cuộc sống hàng ngày của nhiều người. Tôi thích cái điềm tĩnh và thâm trầm của anh. Tôi mê cái cách diễn đạt của anh, và tôi nể cái cách nói chuyện với phụ nữ của anh.

Thật tiếc vì ngày đó, tôi đã trông đợi để được dự buổi bảo vệ luận văn thạc sỹ với đề tài Nguyễn Văn Vĩnh, mà mãi sau ngày anh mất, tôi mới biết người hướng dẫn đề tài của anh là giáo sư Trần Quốc Vượng (1934 – 2005). Nếu Trần Hòa Bình hoàn thành việc bảo vệ đề tài Nguyễn Văn Vĩnh ngày đó, có lẽ anh đã là người đầu tiên ở phần phía Bắc Việt Nam thực hiện chủ đề này, một chủ đề mà cho đến lúc đó, các nhà chuyên môn vẫn dùng từ gai góc đặt cho Nguyễn Văn Vĩnh.

Tôi chỉ thật sự cảm nhận hết cái tuyệt diệu, cái linh thiêng của Trần Hòa Bình, đó là qua buổi chiếu bộ phim tài liệu “Mạn đàm về Người Man di Hiện đại” tháng 10 năm 2008 cho hơn 200 sinh viên của Khoa Báo chí, trường ĐHKHXH và Nhân văn Hà Nội. Khi trên màn ảnh xuất hiện Trần Hòa Bình, toàn bộ hội trường đã òa lên, nức nở…. Còn tôi thì không kìm chế được những giọt nước mắt khi chứng kiến những tình cảm dạt dào của các bạn sinh viên được gặp người thầy cũ qua màn ảnh. Tôi hiểu, sự súc động mà các bạn sinh viên bộc lộ chính là tấm lòng quý mến người thầy đã khuất, chính là những giá trị mà khi còn sống, Trần Hòa Bình đã tạo dựng được trong tâm hồn của các em. Tôi hãnh diện vì tôi được là bạn của Trần thi sỹ!

Tôi mãi tin rằng, nếu không phải là một người tài, không phải là con người tiêu biểu, sẽ không bao giờ xây dựng được những hình ảnh đẹp trong lớp hậu sinh của cuộc đời này. Tôi càng quý trọng cái hồn và cái tâm của Trần Hòa Bình đối với sự nghiệp, đối với cuộc sống khi càng ngày, trên con đường đi của tôi, càng gặp nhiều lời ca ngợi những biệt tài mỗi lần nhắc đến nhà báo Trần Hòa Bình.

Những ngày cuối của một năm, với cái rét tê tái của một mùa Đông u ám… tôi càng nghĩ đến những người tuyệt vời như Trần Hòa Bình mà không còn nữa. Tạo hóa đã quá cay nghiệt khi mang những người tài ra đi sớm. Tôi xin gửi tới vong linh của người quá cố đôi lời này và cũng xin đăng lại một bài viết của người đương thời về nhà báo, nhà thơ Trần Hòa Bình, như những nén hương thơm trước vong hồn của anh trong những ngày cuối năm. Vừa là để bày tỏ lòng quý trọng, vừa là để tri ân với người bạn quá cố và chia sẻ với những ai cũng có những suy nghĩ như tôi.

Trân trọng!

NGUYỄN LÂN BÌNH.

Hà Nội, 1.2.2016.

Người sót lại của dòng máu sỹ phu Bắc Hà… theo như lời một học trò

Mờ sáng, một cậu sinh viên nhắn tin, thầy ơi, thầy Trần Hòa Bình mất rồi, em không dám tin đó là sự thật, chỉ nhắn thầy có cách nào kiểm tra. Nhà báo Huy Minh nghẹn ngào, em vừa trong nhà xác Việt Đức nhìn mặt thầy lần cuối, gió thổi ù ù, hòm sắt lạnh ngắt, thầy đi lúc 11h đêm qua (16/8/2008). Tôi đã khóc, và giờ đây vẫn đang khóc. Quá đột ngột, có cái gì hoang mang, hãi hùng, tủi tủi cho cái kiếp quá cô lẻ của con người. Sao lại có thể ra đi dễ dàng thế hả thầy?

Nhà thơ Trần Hòa Bình – Ảnh: Đỗ Doãn Hoàng

Tôi ngửa mặt lên trời, tháng 8, Hà Nội, không biết đã chớm thu chưa. Bài thơ mà vĩnh viễn thi đàn Việt Nam phải ghi nhớ, hàng triệu triệu người đã ghi nhớ, thầy tôi đã nhặt được cũng trong một ngày thu, khi bước ra khỏi giảng đường Đại học Báo chí thì một chiếc lá rơi thẳng vào mái đầu bù rù cú vọ của thầy: “Thêm một chiếc là rụng/ Thế là thành mùa thu/ Thêm một tiếng chim gù/ Thành ban mai tinh khiết…” (Bài thơ “Thêm một” của Trần Hòa Bình). Một ban mai, hay một tiếng chim gù đã rủ thầy tôi ra đi? Ở tuổi ba mươi, có thể là do ngẫu nhiên, nhưng tôi nghĩ là do tôi quá trẻ để phải khóc quặn lòng trước sự ra đi của một người thầy đã quá gắn bó với mình. Hôm nay, người ra đi là thầy Trần Hòa Bình. Quả là tôi chưa lần nào thảng thốt vì một người thầy như hôm nay. Lý do nữa là thầy tôi quá “thanh niên tính”, quá trẻ so với cái tuổi 53 của mình. Có thể còn một lý do nữa, mười mấy năm tôi học thầy rồi giao du với thầy như bạn vong niên “chén chú chén anh”, là ngần ấy năm thầy sống độc thân nuôi cô con gái của vợ cũ, ngần ấy năm thầy liên tục có những mối tình với những cô gái rất trẻ, rất tử tế – và điều đó làm tôi có cảm giác thấy còn quá trẻ so với cái ba-rem “bốn chín chưa qua, năm ba lại tới” lúc này của thầy, trong Cõi Người.

Nụ cười hào hoa, phong cách ga-lăng cổ điển chưa bao giờ thay đổi. Lúc nào cũng đeo ba lô rất là 9x, tay đeo cái vòng rất là Hàn Quốc (dù mười năm trước phim Hàn chưa tràn bứa phứa sang ta), cổ có khi đeo cả cái dây đen có miếng gốm màu nâu rất là… trai lơ. Tay có khi đeo cái xích bạc to như con rết được chạm khắc cầu kỳ, cổ kính. Liên tục hút thuốc, tôi cảm giác môi thầy bợt đi vì thuốc lá. Kính lúc nào cũng tròn như cậu bé Harry Potter. Tóc lúc nào (tôi nhấn mạnh là lúc nào cũng thế, mấy chục năm qua) cũng phủ đến tận chân mày, phủ kín trán, dày sù, cong queo như rễ tre. Tôi chưa bao giờ nhìn thấy vừng trán của thầy. Người suốt đời làm thơ, nhưng Trần Hòa Bình hình như chưa bao giờ in một tập thơ nào thì phải. Cũng chưa bao giờ tôi nghe ông đọc thơ. Tôi chỉ đọc thơ của thầy trên báo chí, và trong sách vở, có nhiều bài của thầy, hình như chả tập thơ tình nào người ta không “tinh tuyển”. Điều đáng nói nhất trong ngày thường của thi sỹ Trần Hòa Bình là các mối tình. Chẳng ai trách một người đàn ông độc thân khi họ yêu. Yêu cháy bỏng, hết mình, không giấu diếm.

Vì người ta đã viết lên báo, nên tôi mới dám kể câu chuyện này ra khi khóc nhớ người thầy vừa từ trần của mình: Trần Hòa Bình liên tục có các mối tình. Căn nhà cấp 4, do Học viện Báo chí Truyên truyền “chia” cho, thầy Bình và con gái vẫn “tá túc” từ rất rất lâu. Thỉnh thoảng lại có một cô gái trẻ xách va ly đến ở với thầy tôi. Những người đàn bà, cánh sinh viên nữ, đôi khi tỏ ra oán trách cái người hào hoa quá thể và cũng giăng hoa quá thể. Đàn ông thì xót xa chia sẻ, yêu nhiều thì khổ lắm! Thầy bảo, yêu là mất, là thiệt thòi, càng yêu càng cô đơn, vì cô độc nên mới phải yêu. Mà thầy có yêu đúp hai cô một lúc bao giờ đâu, có lừa dối tệ bạc ai bao giờ đâu, có chồng vợ đàng hoàng rồi còn mèo mả gà đồng gì đâu. Thầy tôi thật thà với các cuộc tình và luôn là người độc thân “gà trống nuôi con”. Không xác thịt nhiều, ít tính đến du hí, nhà nghỉ, thầy đi tìm vẻ đẹp nào đó, mà hình như càng nỗ lực đi tìm lại càng bị thất vọng chồng lên thất vọng?

Thỉnh thoảng lại một cô xách va ly rời nhà thầy đi lấy chồng, lại cô khác đến và nhà thầy lại thay một cái ổ khóa mới. Bởi khi chung sống, cô ấy đã được thầy giáo nghèo, nhà báo nghèo (thầy từng làm Phó Tổng Biên tập Tạp chí Gia đình khá lâu), thi sỹ vô sản cho người đàn bà của mình cứ cầm toàn bộ chìa khóa ngôi nhà. Khi cô ấy đi, phải thay ổ khóa, không phải sợ mất trộm, mà vì sợ hai cô cùng được… trao chìa khóa. Chuyện này nhà báo Huy Minh đã viết trên báo, tôi mới dám kể lại, dù những gì tôi biết còn kỹ hơn, sâu cay hơn chuyện cái ổ khóa rất nhiều. Khi đến thăm thầy, không gặp, cửa đóng, thấy cái ổ khóa mới, thế là Huy Minh lại lẩm bẩm “thêm một tiếng chim gù”, “thêm một chiếc lá rụng” vào đời thầy mình rồi. Tôi thì chớt nhả, thầy làm bài “Thêm một”, rồi cứ thế, danh sách người yêu của thầy thêm mãi, thêm mãi. Thầy cười nhẹ, chả ra cười, chả ra im lặng.

…”Lần cuối cùng tôi gặp thầy, là khi mắt thầy long lanh nói về những người học trò đã vang danh trong làng báo, hôm ấy, thầy đứng chân Phản biện cho luận văn của sinh viên Giang Hải; tôi chính là người hướng dẫn luận văn đó…”- Ảnh: Đỗ Doãn Hoàng

Nhưng mà tôi cũng biết, có một điều chắc chắn: thầy tôi rất thật thà với các cuộc tình, có nhiều cuộc chia tay, chỉ một mình thầy đau. Không cuộc chia tay nào là thầy không đau, bất biết cô ấy có từng nghe được tiếng chim gù trong ban mai tinh khiết của thầy hay không. Hình như họ thường làm thầy tôi tuyệt vọng.

Lần đầu tôi gặp thầy là ở trên bục giảng. Vẫn kính tròn, tóc xòa xoăn, quần bò, áo phông, hoặc áo cổ tròn nút khuy cài cổ kính, thầy đứng khoanh tay, tựa lưng hông vào cái bàn giáo viên và nói chuyện suốt buổi này qua buổi khác. Thầy dạy cái môn cực kỳ khô khan là: Lịch sử báo chí Việt Nam và thế giới. Tôi, cũng là người từng đứng trên bục giảng cho sinh viên các trường báo chí khá nhiều, tôi dám khẳng định rằng: nếu không phải Trần Hòa Bình dạy, thì thật khó để cho hàng nghìn nhà báo tương lai nhai được món khô rách như… lịch sử báo chí. Sinh viên, các thế hệ nuốt lấy từng lời của thầy. Đôi khi đó là lời hào hoa, kiểu gỡ rối tơ lòng của mục Tầm Thư trên báo Tiền Phong mà nhiều năm qua Trần Hòa Bình đang phụ trách. Đôi khi là sự nghẹn ngào của thầy khi nói về các nhà báo tâm huyết như Nguyễn Văn Vĩnh, các trí thức như Phạm Quỳnh, các nhà canh tân báo chí thời ông Tản Đà còn bôn ba làm báo khắp Bắc Nam, khi mà “giặc” nó còn kiểm duyệt, “bắt bớ” các nhà canh tân có tư tưởng khả kính. Thầy đau nỗi đau của các đại trí thức trong buổi giao thời xưa cũ. Vừa rồi, nghĩa là hơn 10 năm sau khi tôi ra trường, thầy vẫn đeo đẳng đề tài về những cống hiến quá lớn của bậc trí giả Nguyễn Văn Vĩnh, thầy vẫn nửa đêm đường đột gọi tôi dậy yêu cầu phải đi với thầy tìm hiểu rõ ngọn nguồn các câu chuyện, rồi tổ chức hội thảo, viết sách về những vĩ nhân như thế. Thầy hướng dẫn em trai tôi làm đề tài về “Các nhà báo trong nhà tù thực dân”, với những trang báo quật cường được viết trong cả toilet của Địa ngục trần gian, vẽ maket báo bằng thuốc đỏ sát trùng cùng thuốc ký ninh vàng.

Em bé ở Mường Phăng, Điện Biên – nhà thơ Trần Hòa Bình đã rất quý mến, nhờ tôi chụp ảnh và gửi tặng để thầy có thể “khi nào nhớ lại mở ra xem”. – Ảnh: Đỗ Doãn Hoàng

Người ta bảo, Trần Hòa Bình rất “lông bông”, tôi không nghĩ thế. Ông đã đi cái con đường “hành đạo” kiêu hùng của một sỹ phu Bắc Hà đích thực, song, có phải ai cũng hiểu được? Ông đã tự nhận mình là mảnh vỡ của một vì sao buồn.

Trên giảng đường, ngoài quán cà phê, Trần Hòa Bình say sưa nói về “Trai xứ Đoài”, về vùng xứ Đoài mây trắng, “tôi nhớ xứ Đoài mây trắng lắm”. “Cách biệt bao ngày quê Bất Bạt/ Chiều xanh chưa thấy bóng Ba Vì”, câu thơ của Quang Dũng, hình như phải đến khi gặp Trần Hòa Bình tôi mới hiểu được phần nào, phải đến dăm năm làm báo đào bới mảnh đất huyền thoại Ba Vì quê thầy, quê tôi, tôi mới hiểu được thơ về “Đôi mắt người Sơn Tây” nó hay, nó làm Trần Hòa Bình mê đắm đến thế nào. Thầy thì cứ quả quyết: “Trai xứ Đoài và trai xứ Bắc”, xưa và cả nay nữa, là nhất “thiên hạ” đấy, rồi thầy cười hàm ý gì đó mà tôi chả dám chắc bây giờ tôi đã hiểu nổi. Sau 10 năm làm báo, thầy vẫn thỉnh thoảng gọi cho tôi, có khi là rủ ra “Quán Xưa” làm chén rượu với điều kiện thầy là người giả tiền, có khi là bay lên bầu trời Tây Bắc rồi lang thang bản làng núi vút ngàn trùng xa, để rồi rượu vào tôi nhảy cẫng đọc thơ ven triền dốc – chứ không phải thi sỹ lừng danh Trần Hòa Bình. Lúc ấy, ông chỉ cười nhẹ.

Ông là người ham lang thang, có khi lang thang qua các cuộc tình buồn, có khi lang thang khắp xứ sở, có khi lang thang qua rất nhiều tòa soạn báo. Điều mà các nhà báo trẻ ở cái lò “Trần Hòa Bình” ra đều kính trọng ông, ấy là sự chung thủy như nhất với bạn hữu, học trò. Trần Hòa Bình biết cõi sống và cõi chết mong manh? Tôi linh cảm thế khi thầy tự nhận mình là mảnh vỡ của một vì sao buồn, khi quan sát nhiều năm, thầy cứ thản nhiên trước những được – mất, giàu – nghèo, danh vọng. Ba ngôi chúa tiền tài danh vọng tình yêu, thầy tôi chỉ cần có một ngôi. Còn lại, vật chất, đối với thầy, tất cả nó rất là… như nhau. Chắc là thầy sẽ rất buồn, khi có những đứa học trò, có nghề trong tay, búa xua đi làm giàu bằng mọi nhẽ, kể cả bán linh hồn cho sự cẩu thả, kể cả tù tội vì đi đêm với Satan.

Chưa bao giờ thấy ông kiến thiết cái gì, mua bán cái gì, thèm thuồng cái gì. Ung dung tự tại. Chỉ động viên học trò có bài viết hay, có cuốn sách hay, chứ chẳng thèm chúc mừng địa vị chức tước. Thầy sẵn sàng đi ăn cưới trò ở rất xa, lúc nào nó bỏ vợ bỏ chồng, thầy có thể nằm gác chân lên nó tâm sự một đêm ở nhà thầy để gỡ rối tơ lòng. Có lẽ, mục Tầm Thư rất trí tuệ, văn hóa và tâm huyết của Báo Tiền Phong cũng phải nghiên cứu thêm về vai trò Tầm Thư 24/24 của thầy tôi, thì mới là vẹn nghĩa. Học trò cũ gặp thầy, thầy bảo, hay là ta xưng anh em với nhau cho nó trẻ, tôi hơn ông có chục tuổi gì đó thôi mà. Có đứa khóc nức nở: Thầy mắng em đấy à? Em đói thầy cho ăn bánh mỳ, em không có tiền thuê nhà trọ, thầy dắt em về nhà tá túc, thầy nắn em từng nếp và miếng cơm, từng nếp cùng ly rượu sao cho có trên có dưới, có văn hóa ẩm thực. Thế mà thầy bắt em gọi bằng Anh, thôi cho em gọi là Cha. Thầy lại cười xòa, thôi đi ông à, tôi nói thế, ông đừng khóc, vì là tôi sợ các em nó chê tôi già. Thầy hài hước thế, để học trò nó đỡ khóc.

Nhà thơ Trần Hòa Bình, với một cô xòe xứ Thái mộng mơ ở bản Phiêng Lơi của miền Tây Bắc mà ông mê đắm, năm 2006. – Ảnh: Đỗ Doãn Hoàng

Tôi gọi Trần Hòa Bình là mảnh vỡ còn lại của dòng máu sỹ phu Bắc Hà. Thầy cười. Nửa đêm, thầy nhắn tin, bảo: cuốn sách chú mày mới ra, được. Tặng tớ đi chứ. Tôi cằn nhằn là không có thời gian, làm ẩu, thầy bảo: cứ 6 bài hay, 4 bài đọc được, thế là tờ báo, là cuốn sách đã thành công. Đừng cầu toàn. Này, ông đi Điện Biên với tôi được không? Tôi cho người mang vé máy bay sang, có thằng bạn rủ đi, tôi với ông đều là thằng nghèo mà. Một học trò của thầy mang vé đến cho tôi. Thầy lại mũ bê-rê, áo cổ tròn, đeo miếng sứ trước cổ, lang thang ở xứ sở hoa ban. Đêm xòe, ai đó nhận ra thi sỹ Trần Hòa Bình nổi danh đang ngồi khuất nẻo trong một góc nhà sàn, hàng chục hàng cúc bướm của các noọng (em) Thái bay lượn xung quanh, họ trân trọng mời tắt nhạc múa sạp để thi sỹ Trần Hòa Bình đọc thơ. Thầy tôi e ngại đọc một bài thơ mới làm, rồi lại mơ màng khói thuốc nhìn ra suối Phiêng Lơi âm âm chảy trong lòng đá lớn. Thầy vừa là người của đêm xòe, vừa không phải thế, mà thầy là người của các vì sao buồn trên xa xăm kia.

Sự cao đạo, sự kiêu hùng trong những ý tưởng riêng, sự cô đơn của tâm hồn thi sỹ khép kín đã khiến Trần Hòa Bình là tâm điểm của rất nhiều bài phỏng vấn của báo chí lâu nay. Hình như người ta phỏng vấn ông trở về, đăng báo chí đấy, nhưng người ta đều hiểu, họ đã bất lực trước sự bí ẩn của đá tảng cô độc Trần Hòa Bình. Nhưng rồi, có một câu trên báo, tôi đã đọc rồi rất đồng cảm với thầy, đó – hình như là gan ruột của thầy, đại ý: Sỹ phu Bắc Hà ơi, trí thức trẻ ơi, sao nặng lòng với mua đất, làm nhà, chạy sổ đỏ thế, sao quày quả làm hết cả những việc đó để đến nỗi tuổi thanh xuân đi qua mà chả làm gì thế. Sao không nghĩ được cái gì ngoài việc chạy sổ đỏ ư? Sống ở đời, có nhất nhất là phải có cái sổ đỏ không. Ta là trí thức, sao không nghĩ cái gì lớn hơn ngoài vật chất?

Bạn bè tôi, có đứa 10 năm tìm gặp thầy, thở dài rằng, thầy vẫn cũ kỹ thế, vẫn “chăm bẵm” một đám học trò chưa xin việc được đến mười mấy thằng, vẫn an ủi các em rằng: “Nhân sinh ngã tài tất hữu dụng” (Trời sinh ta có tài tất sẽ sinh ra chỗ… sử dụng) – trong khi “ghế ít… người nhiều”, các em xin việc đến bạc mặt, đến héo rũ hồn thơ cũng chả có chỗ kiếm ăn. Tôi đã chứng kiến thầy mình đem những cậu học trò yếu đuối, có anh chỉ cao 1,4m (xin lỗi anh bạn này, tôi không chê hình thức của anh, chỉ nói sự thật này để thấy rằng, thầy của chúng ta đã quá nỗ lực vì anh) đi xin việc. Trông cảnh tượng buồn so mà xúc động muốn khóc. Thầy làm tất cả vì đám học trò, dù không thể không nói rằng, có nhiều đứa ăn bám thầy đã 5 năm mà vẫn phụ công thầy, vẫn dốt và lười. Đôi lúc, tôi đã nghĩ: Trần Hòa Bình nghèo mãi là vì cái sự tử tế đó của ông! Lòng tốt, tâm sức của thầy không phải đã bị lợi dụng, nhưng đúng là thầy quá tốt, tốt đến phát cáu.

Tôi tự hỏi, không biết rồi số điện thoại quen thuộc với trí thức cả nước 0913221690 của Trần Hòa Bình rồi có vĩnh viễn chia tay cõi trần bụi bặm này như thầy tôi không? Tôi vẫn chờ một tin nhắn, một cuộc gọi từ thầy, có khi là nhờ tôi “gỡ” cho cô con gái rượu của thầy khỏi cảnh ách tắc không thể mua vé về Hà Nội được khi đi du lịch Sa Pa, có khi là nhờ dạy hộ thầy vài buổi trước đám sinh viên muốn gặp người đang sống với sự kiện nóng bỏng, có khi là “ông cho tôi xin cuốn sách này mới ra, tôi đã trông thấy ngoài sạp”, có khi là “ông ở nhà à, vợ có ở gần không, ông ra cổng đi tôi nói chuyện này, cô bạn của tôi có quen vợ ông…”. Như thầy, như anh, như bạn vong niên, thầy chẳng giấu tôi điều gì, kể cả sự tự hào của thầy về trai xứ Đoài quê thầy rất hào hoa; kể cả một cuộc tình mới chớm hay là mới vừa đứt đoạn. Nhưng hình như chưa bao giờ thầy thấy lo toan về sự thật mà các nhà báo họ trò của thầy từ khắp cả nước đang phải đau lòng hôm nay: cái chết. Bài thơ nổi tiếng nhất mà cả đời thầy có được, như món quà của thượng đến ban tặng anh giáo viên dạy văn của Sư phạm 2 thuở nào, thầy cũng đã viết buồn bã thế này: “Thêm một đêm trăng tàn, lại thấy mình đang khuyết”. 53 năm cuộc đời, thầy vẫn hằng ngày hao khuyết đi để tiến về cõi già, cõi tịch mịch như hôm nay, chỉ có điều, niềm lạc quan, tinh thần thi sỹ, lối trầm mặc của sỹ phu Bắc Hà luôn khiến thầy không thấy, hoặc không chấp nhận nói ra cái điều kiếp phận kia.

Các thế hệ sinh viên báo chí ở Học viện, từ nay, sẽ không bao giờ còn được nhận sự ân cần mang thương hiệu Trần Hòa Bình nữa: khi mà thầy lên ban quản lý kí túc xá, nói với các đồng chí ấy rằng, ông đừng trục xuất nó ra khỏi Ký túc, vì nó rất ngoan, chỉ nhỡ nóng nảy, ông đuổi nó, nó lại xuống nhà tôi ở thì chật lắm. Thầy gọi sinh viên ra hành lang, lôi trong ba lô ra cái bản thảo choe choét đỏ “tôi đã sửa cho chú”, chú chép lại rồi tôi gửi đăng báo cho, bài đầu tiên trong đời là quan trọng lắm đấy. Căn nhà nhỏ ấy, sẽ không còn là nơi cư ngụ, là cái ga xép chờ việc, chờ thuê nhà trọ của không ít nhà báo trẻ khi còn lận đận công danh nữa.

Một chân dung của thầy tôi, Trần Hòa Bình – Ảnh: Đỗ Doãn Hoàng

Tôi và thầy Trần Hòa Bình cùng sinh ra ở Ba Vì, cùng vỗ ngực tự nhận mình là trai xứ Đoài, là người của miền mây trắng cổ tích kia. Đêm nào lang thang ở phố cổ Thành Sơn “đất đá ong khô nhiều ngấn lệ”, tôi cũng nhớ đến một câu thơ của ai đó đã được đám trẻ chúng tôi “cải biến” cho nó thành thơ viết về quê mình: “Đêm Thành Sơn thơm nghẹn lòng hoa sữa/ Ngôi sao em ngân ngấn khóc bên trời”. Biết là không phải thơ Trần Hòa Bình, nhưng tôi cứ tin, Trần Hòa Bình cũng sẽ nghẹn lòng với những hàng hoa sữa cổ thụ, xanh rì bạc phếch rêu mốc vòi vọi trên bầu trời thành cổ Sơn Tây kia, như thế. Trần Hòa Bình là mảnh vỡ của một vì sao buồn “ngân ngấn khóc bên trời kia”? Tôi chưa bao giờ nói với thầy Bình cái liên tưởng “ngớ ngẩn” đó cả. Cũng định nói. Mới hôm nào thầy gọi điện mời ra “Quán Xưa” tâm sự, tôi đã xin “cáo” vì phải cho con học bài, ai dè, đó là lần cuối cùng được sai hẹn với thầy. Lần cuối cùng tôi gặp thầy, là khi mắt thầy long lanh nói về những người học trò đã vang danh trong làng báo, hôm ấy, thầy đứng chân Phản biện cho luận văn của sinh viên Giang Hải; tôi chính là người hướng dẫn luận văn đó. Trời ạ, thầy trò bấm nhau, tôi cười vô sự, “cho mấy điểm hả thầy?”, “ông cứ cho 9, cho nó khách quan, chứ tôi biết, ông đang muốn cho 10 cho nó… sướng!”.

Thầy Bình ơi, ai ngờ đó là lần cuối cùng thầy trò nhìn nhau và cười. Thầy phản biện, thầy hỏi sinh viên rất “sốc” về nhân vật mà chúng nó nghiên cứu, nhân vật ấy chính là tôi (Đỗ Doãn Hoàng), khiến tôi cũng phải ngượng nghịu và thấy ấm áp, vì thầy trò giờ đã như anh em ruột thịt rồi. Tôi chụp một loạt ảnh thầy tôi trong cái ngày bảo vệ luận văn đó, gửi qua email, thầy viết thư cảm ơn, “Tôi thích lắm, ông chụp tôi rồi, xem lại, hóa ra tôi vẫn… phong độ lắm”, nếu ở quán, làm đôi chén mắt trâu rồi, thầy sẽ bảo, “tôi phong độ, còn nhiều em mê” rồi cười chẳng ra buồn, chẳng ra vui. Thầy ạ, đó là lần đầu tiên em chụp ảnh thầy, cũng là lần cuối cùng, và đó, mới đây thôi, cũng sẽ là một trong những bức ảnh mới nhất, cuối cùng mà ở Đời này, thi sỹ Trần Hòa Bình có được. Sự ra đi của thầy, khiến em hiểu sâu sắc lời thầy, rằng sao mà sỹ phu Bắc Hà cứ bỏ sự nghiệp để chúi mũi vào lo làm sổ đỏ, sổ hồng thế… Thầy thấy mình đang khuyết sau mỗi độ trăng tàn, thầy đã thấy cái sắc không của kiếp người từ lâu, thầy đã dạy cho cả thế hệ các nhà báo trẻ chúng em (và nhiều người khác) độ ấy một lẽ sống cống hiến, quân tử, nghĩa hiệp, biết chối từ tham sân si. Đó là lý do, sự ra đi của thầy dù đau đớn, em cũng thấy được an ủi, thấy thầy, dù tiếc nuối dở dang, cũng nên ngậm cười vì mình đã sống rất đẹp.

Thầy đi, chúng em khóc. Thưa, giờ này, bạn hữu, học trò của thầy, các nhà báo, nhà văn, từ nhiều vùng miền của cả nước này đang lục tục trở về tiễn thầy trong chuyến đi vĩnh quyết. Sao người ta từ bỏ tất cả dễ dàng thế, hả thầy?

Lễ viếng nhà thơ Trần Hòa Bình diễn ra từ 7h đến 10h ngày 19/8 tại Bệnh viện Việt Đức. Tang lễ được tổ chức cùng ngày tại Đài hóa thân Hoàn Vũ (Hà Nội).

Thêm một

Thêm một chiếc lá rụng,
Thế là thành mùa thu.
Thêm một tiếng chim gù,
Thành ban mai tinh khiết.

Dĩ nhiên là tôi biết,
Thêm một – lắm điều hay.
Nhưng mà tôi cũng biết,
Thêm một – phiền toái thay!

Thêm một lời dại dột,
Tức thì em bỏ đi.
Nhưng thêm chút lầm lì,
Thế nào em cũng khóc.

Thêm một người thứ ba,
Chuyện tình đâm dang dở.
Cứ thêm một lời hứa,
Lại một lần khả nghi.

Nhận thêm một thiệp cưới,
Thấy mình lẻ loi hơn.
Thêm một đêm trăng tàn,
Lại thấy mình đang khuyết.

Dĩ nhiên là tôi biết,
Thêm một lắm điều hay.

Trần Hòa Bình

Nhà thơ Trần Hòa Bình với “nụ cười hào hoa, phong cách ga-lăng cổ điển chưa bao giờ thay đổi” – Ảnh: Đỗ Doãn Hoàng

 

Đỗ Doãn Hoàng (Vietimes)

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *