Những bài báo định mệnh

Lời dẫn

Đã xấp xỉ 80 năm học giả Nguyễn Văn Vĩnh từ trần (1936-2015), xã hội đã tiêu đi không biết bao nhiêu giấy mực, bao nhiêu thời gian, bao nhiêu dung lượng khổng lồ của tri thức của những người quan tâm đến sự nghiệp đầy dấu ấn của ông trong lịch sử văn hóa cận đại ở Việt Nam. Thực tế đã diễn ra những cuộc tranh luận căng thẳng giữa những cá nhân, tổ chức xã hội, giữa những luồng tư tưởng khác nhau qua các giai đoạn lịch sử khi nhận định, đánh giá về con người và sự nghiệp của Nguyễn Văn Vĩnh.

Tuy nhiên, từng ấy thời gian cùng những diễn biến phức tạp trong tranh luận xã hội cho đến giờ này, dường như vẫn chưa có một sự đúc kết nào có tính tổng quát lịch sử về đề tài Nguyễn Văn Vĩnh.

Hệ quả này không lạ! Hơn một thế kỷ qua, đất nước đã luôn bị giằng xé không phải chỉ về mặt địa lý mà cả những ý thức hệ tư tưởng khác nhau ảnh hưởng của các trào lưu cách mạng trên thế giới, để lại những vết thương sâu đậm trong tâm lý, trong tình cảm con người, tạo ra những trở ngại lâu dài trong việc hòa hợp, hòa giải, gỡ bỏ hận thù giữa nhiều thế hệ người Việt Nam. Chúng ta vẫn đang đi tìm một loại hình tư tưởng tích cực, phù hợp và bền vững nhằm phục vụ cho sự tồn vong và phát triển của dân tộc mình, âu cũng là quy luật của sự tiến hóa và thực tế này sẽ tiếp tục với một sự tự vận động cho đến một ngày… khi chúng ta bắt gặp và giữ lại một loại hình tư tưởng thích hợp với bản chất, tính cách, hoàn cảnh địa lý của một dân tộc, một đất nước như đất nước Việt Nam.

BBT Tannamtu xin tiếp tục làm cái công việc nhỏ bé là trình bày những hiểu biết có cơ sở của mình thông qua các tư liệu được thu thập từ các nguồn lưu trữ khác nhau liên quan đến những hoạt động tư tưởng và sinh hoạt chính trị của Nguyễn Văn Vĩnh với mong muốn đơn giản của những người làm công việc khai quật sự thật, chứng minh bản chất và con người Nguyễn Văn Vĩnh, mẫu người dùng sức mạnh nội lực cộng với những phát minh của nhân loại làm căn bản để xây dựng một nền dân chủ phát triển. Đồng thời làm sáng tỏ cái quá khứ sống động, thẳng thắn và đầy ngạc nhiên giữa cá nhân ông với thời đại mình tồn tại. Nguyễn Văn Vĩnh, con người chỉ coi sự tiến bộ xã hội là mục tiêu quan trọng duy nhất mà thôi.

Công việc này, khi đạt được kết quả, sẽ chứng minh một cách xác đáng tính trung thực khác thường và đầy tài năng cùng với nhiệt huyết tràn trề của Nguyễn Văn Vĩnh, người đã đóng góp đáng kể cho sự phát triển tri thức, nhiên liệu cho trí tuệ của một dân tộc cần mẫn luôn khát khao sự tiến bộ. Đồng thời cũng sẽ giúp cho những thắc mắc kéo dài của lịch sử, rằng vì sao các hệ thống chính trị thường né tránh đề tài được coi là “nhạy cảm” này.

Liên quan đến quan điểm về xã hội và chính trị của Nguyễn Văn Vĩnh, về những khác biệt giữa ông với những nhân vật quan trọng trong thời đại ông tồn tại, nguyên nhân dẫn đến sự mâu thuẫn và khủng bố ông, BBT chúng tôi xin được giới thiệu bài viết thể hiện một phần tính cách, suy nghĩa, lối sống và đặc biệt là lời thú nhận của chính ông: “… đối với một chính quyền chỉ có danh nghĩa và tôi sẵn sàng quên rằng ít nhất trong lúc này, mình là kẻ thù khó loại bỏ của một chế độ “hai chính phủ”.

Bài viết “Vấn đề trang phục – QUESTION DE COSTUME” là một trong số 7 bài viết của Nguyễn Văn Vĩnh trong chương mục “Từ Triều đình Huế trở về – MON VOYAGE EN ANNAM” được đăng trên tờ báo tiếng Pháp “L’Annam Nouveau-Nước Nam mới” trong năm 1933. Cách dịch tên chương mục này là cách hiểu hoàn toàn theo nghĩa đen trong gia đình Nguyễn Văn Vĩnh, sau khi ông thực hiện chuyến vi hành vào kinh thành Huế tháng 9 năm 1933, theo lời mời của Vua Bảo Đại và có sự “xắp đặt” của Chính phủ Thuộc địa.

Ảnh cưới Bảo Đại 1934

Ảnh cưới vua Bảo Đại 1934 (nguồn: internet)

Bẩy bài viết nói trên được thực hiện vào bối cảnh gay cấn nhất trong quan hệ chính trị giữa Nguyễn Văn Vĩnh và Chính phủ Thuộc địa, giai đoạn mà Đức Vua Bảo Đại sau khi quyết định tự mình chấp chính tháng 4 năm 1932 đã sắc phong 5 vị có xuất thân từ giới tri thức nhậm chức Thượng thư (Bộ trưởng), trong đó có Phạm Quỳnh (1890-1945), Ngô Đình Diệm (1901-1963), Hồ Đắc Khải (1894-1948)…

Bảo Đại 1948

Cựu hoàng Bảo Đại năm 1948

Chuyến kinh lý của Nguyễn Văn Vĩnh thăm Triều đình Huế năm 1933 và 7 bài viết của ông cùng với sự từ chối dứt khoát lời đề nghị làm Thượng thư của Bộ máy cầm quyền đã đưa ông đến bờ vực của sự trả thù.

Bộ máy cường quyền đến lúc này đã hết kiên nhẫn trong việc “mặc cả” với ông về việc phải chấm dứt những phê phán kéo dài về hệ thống chính trị đầy bất công bằng ngòi bút trên các phương tiện truyền thông xã hội.

Sự bất lực của cả hệ thống chính trị trong cuộc “mặc cả” này, đã kích động họ quyết định tiêu diệt đối tượng “là kẻ thù khó loại bỏ của một chế độ” bằng cách bổ xung thêm một điều kiện đê tiện nhất hòng hạ gục Nguyễn Văn Vĩnh, đó là việc ông phải đi tù, bên cạnh 2 điều kiện đã được thông báo trước để lựa chọn là vào Huế làm Thượng thư hoặc đi sang Lào đào vàng để trả nợ, bất chấp thời hạn của khế ước vay nợ ngân hàng để đầu tư cho việc xây dựng Trung tâm Âu Tây tư tưởng mới thực hiện được 1/3 thời gian.

Nguyễn Văn Vĩnh đã từng tâm sự với những người thân trong gia đình của mình rằng: đi tù là khốn nạn nhất vì nó đánh vào phẩm giá và nhân cách của ông, điều mà Nguyễn Văn Vĩnh coi trọng hơn bất kỳ cái gì khác trong cuộc đời của mình! Và đây chính là lý do đẩy ông đến sự lựa chọn, chấp nhận việc đi đày sang Lào với danh nghĩa tìm vàng để trả nợ.

Ông đã hoàn toàn tự tin rằng, bị đi đày, vẫn viết được vì viết là lẽ sống của ông, viết là thứ vũ khí quan trọng nhất mà ông có, viết là điều mà hệ thống chính trị trong giai đoạn lịch sử đó sợ hơn bất kỳ một lực lượng cách mạng nào khác.

Việc chấp nhận điều kiện đi Lào của ông đã làm hầu hết những người đương thời hoàn toàn không cảm nhận được cái lý do sâu xa đã đặt ông vào sự lựa chọn đó, để rồi cả xã hội cũng bị rơi vào cái bẫy truyền thông của Nhà Cầm quyền, rằng Nguyễn Văn Vĩnh muốn sự giàu sang, muốn nhiều tiền…!!!

Nguyễn Đình Đăng
“Sự ra đời của chữ Quốc ngữ – Cái chết siêu việt của ông Nguyễn Văn Vĩnh”
(2001, sơn dầu, 65 x 80 cm)

Cho đến hôm nay, các thế hệ đi sau vẫn khó để hiểu, để chia sẻ và thậm chí có cả một nhóm người nhân danh là những nhà nghiên cứu vẫn sống với cái nhận thức lừa dối đó của lịch sử về Nguyễn Văn Vĩnh. Đáng tiếc đó là, nội dung này vẫn còn nguyên trong cuốn từ điển Văn học Việt Nam bộ mới in năm 2004 của Nhà Xuất bản Thế Giới!

Thông thường, để hiểu một con người, một nhân cách, một đối tượng nào đó trong xã hội thì việc đọc những gì người đó viết ra bằng con chữ là cơ sở mang tính khoa học nhất, sát thực nhất và khó xuyên tạc nhất.

Không vô cớ, cả cuộc đời Nguyễn Văn Vĩnh đã lăn lộn và lao động cật lực để đồng bào mình có con chữ riêng, vì theo ông việc có con chữ riêng sẽ xây dựng được nền văn hóa độc lập và nền văn hóa riêng là bản sắc của một dân tộc đã không thể bị đồng hóa qua suốt chiều dài của lịch sử gắn liền với các cuộc thôn tính của các thế lực ngoại bang. Con chữ cũng là cái duy nhất tồn tại được vĩnh cửu trong quá trình tiến hóa của nhân loại.

Khi bàn đến phạm trù chữ viết, cụ thể là chữ Quốc ngữ mới càng thấy cái sự hoảng hốt và lo sợ của các thế lực chính trị ngoại bang trong lịch sử khi nhìn Nguyễn Văn Vĩnh, một kẻ gắn liền với lĩnh vực này. Thật mỉa mai và chua chát vì hơn 20 năm trước khi Nhà cầm quyền ra lệnh cấm ông viết bằng chữ Quốc ngữ (1931), họ đã cổ vũ, khuyến khích Nguyễn Văn Vĩnh xây dựng, quảng bá, phổ cập con chữ tiếng Việt cho dân tộc mình như thế nào?!

Nhìn lại những vết thương, những nguyên nhân dẫn đến những nỗi đau trong sự nghiệp của Nguyễn Văn Vĩnh, chúng ta cảm nhận sâu sắc cái tinh thần bất diệt của ông, cái niềm hãnh diện vô tận của ông và cũng là cái nguồn cơn dẫn đến sự hằn học của cường quyền đối với ông. Tất cả chỉ vì ông đã giãi bầy về cái tuyệt hảo của cái chữ viết của dân tộc mình từ năm 1909 trong lời tựa của một tác phẩm văn học kinh điển Trung Hoa “Tam Quốc Chí Diễn Nghĩa” được in lần đầu tiên bằng chữ Quốc ngữ ở Việt Nam do ông và người đồng chí của mình là Phan Kế Bính (1875-1921) thực hiện. Nguyễn Văn Vĩnh lúc đó đã hoàn toàn chắc chắn rằng người dân sẽ thích, sẽ cuốn hút được con dân Việt quan tâm đến chữ Quốc ngữ khi tiếp cận với văn hóa, văn học, và ông hân hoan:

“Cái hạnh – phúc ấy, cái điềm hay cho hậu vận nước Tổ – Việt ta ấy, là nhờ ở

như chữ quốc – ngữ. Chữ đâu mà hay thay! mà dễ đọc thay! gốc hai mươi ba chữ, năm dấu soay vần, mà tiếng nước Nam bao nhiêu cũng viết được đủ.

Chữ quý hoá chưa! học vài ba tháng mà tay đã cầm được quản bút, đến chốn chẳng cần ai!…”. (Trích nguyên văn từ bản in lần thứ nhất của cuốn TAM QUỐC CHÍ DIỄN NGHĨA).

BBT.Tannamtu.com

NGUYỄN LÂN BÌNH.

03

QUESTION DE COSTUME

(Vấn đề trang phục)

Khi một vị vua phải xuất hiện trước dân chúng trong lễ phục, bao giờ ông ta cũng phải chọn cho mình một bộ trang phục để thực sự thuận lợi cho việc đi lại hoặc dễ dàng cho sự tạo dáng nghiêm chỉnh, mà cụ thể ở đây là một bộ quần áo được cắt may làm sao cho cẩn thật theo phong cách, màu sắc của người Việt Nam đồng thời thể hiện được sự khác biệt giữa một vị vua và dân chúng. Nên chăng, nhà vua có thể xuất hiện với phong cách hiện đại trước dân chúng Bắc Kỳ, đối tượng cũng đã có những sự tiến bộ mạnh mẽ về phương diện sinh hoạt thời trang Âu châu hiện đại như kiểu: áo đuôi tôm, áo giắc két, áo rơ đanh gốt hay áo vét tông…?

Đây là một vấn đề mà với cá nhân tôi, là người rất quan tâm đến việc làm sao để Đức vua Bảo Đại được hoan nghêng chào đón ở phía Bắc Việt Nam. Vấn đề này được đặt ra một cách thẳng thắn trong sự tin cậy cùng với tình cảm riêng của tôi, một người bao giờ cũng tôn trọng những người đại diện cho chính quyền, ngay cả đối với một chính quyền chỉ có danh nghĩa và tôi sẵn sàng quên rằng ít nhất trong lúc này, mình là kẻ thù khó loại bỏ của một chế độ “hai chính phủ”, từ đó dám góp ý chân thành vào một vấn đề có tính hình thức mà nếu chỉ thoáng nghĩ nó chẳng quan trọng gì, nhưng suy rộng ra nó có ảnh hưởng không nhỏ.

Ý kiến chủ quan của tôi, nhà vua có thể xuất hiện với bất cứ loại trang phục nào. Điều quan trong là ngài phải đứng vững được trong bộ trang phục mà mình sẽ mặc. Tôi không nghi ngờ Đức vua Bảo Đại là một hoàng tử đẹp trai, có học và được sống một cuộc đời niên thiếu hoàn toàn ở châu Âu, được chứng kiến tận mắt cách hành xử của những bậc vương tôn công tử, của các bậc nguyên thủ của các quốc gia Âu châu đã ăn vận ra sao trong những buổi đại lễ có đông dân chúng mà vẫn thể hiện được một cách thoải mái vai trò của một vị quan lớn giữa những thần dân của mình. Lời ăn tiếng nói, cử chỉ tác phong, vẻ mặt, thái độ của một vị vua sẽ là điều quyết định sự khâm phục, sự kính trọng của dân chúng, và cũng từ đó vấn đề trang phục sẽ tự nó biết mất mà chỉ còn lại con người của vị vua đó mà thôi. Chính thực tế này, nó sẽ tự nâng cao vị vua đó lên trong con mắt các thần dân. Trái lại, vấn đề lễ phục sẽ trở nên bắt buộc khi ông vua đó chỉ có một mình, khi dân chúng chẳng cần biết con người của ngài ra sao. Mọi người sẽ chỉ nhìn vào vương niệm với những tác phong được quy định theo nghi lễ, kèm theo lối cười cùng đôi ba câu nói đã được xắp đặt đúng theo lễ nghi mà chỉ cần học thuộc lòng là đủ rồi.

Đức vua Bảo Đại có dự định sẽ ra mắt chúng ta dưới cả hai hình thức. Về hình thức, Đức vua thật xứng đáng để dân chúng chiêm ngưỡng. Nét mặt của Ngài cao quý theo góc phân tích của các chuyên gia lão luyện về nhân chủng học nhận định khá chi tiết, họ đã cắt nghĩa cả hình dáng của đôi dái tai, cái miệng, vầng trán, cái cầm của Ngài. Chúng tôi biết, có nhiều các tiểu thư trẻ, đẹp, con nhà danh giá được thiên hạ bắt gặp họ đang ngây ngất trên các khán đài của trường đua ngựa khi đi xem cá ngựa được may mắn vì buổi hôm đó có mặt Ngài và nụ cười của Ngài đã ám ảnh mãi không nguôi trong giấc của các cô. Hình ảnh lúc Đức Vua vắt chiếc áo khoác lên trên đôi vai khỏe khoắn khi bước lên xe đã trở thành cả một bài thơ làm cho không thiếu gì các cô nàng thiếu nữ cứ ngâm nga mãi không bao giờ dứt.

Những lần Đức Vua đi dạo qua các con phố buôn bán, ngài ăn vận theo kiểu Âu rất lịch sự. Điều này cũng đã từng làm cho không ít người thất vọng vì họ đã đứng hàng giờ liền trên vỉa hè nơi các con phố Ngài đi qua với hy vọng được ngắm nhìn thần tượng của mình trong dáng vẻ truyền thống chứ không phải một vị Vua chỉ ăn vận chỉnh tề theo lối phương Tây, cùng với dáng điệu, cách nói năng bình dân không dấu được nhiều điều rằng nó không phản ánh đúng những gì Ngài đang nghĩ.

Nét mặt Đức Vua có những điểm đặc trưng giúp cho Ngài được mến mộ, đặc biệt là bộ phận những người được tiếp xúc khi nhận thấy nhiều ý kiến của Ngài có tính dân chủ. Đức Vua đã thật thoải mái khi trò chuyện với bất kỳ ai. Những lúc như vậy, hình như Ngài đã quên đi một cách tự nhiên lối cư sử, nói năng phải theo cách đã được quy định trong một loại từ điển riêng với một loại văn phạm đặc biệt.

Đức Vua khi trò chuyện đã gọi mọi người chung quanh là các ông và xưng tôi như những người cùng vai phải lứa. Quần chúng ngưỡng mộ Ngài. Đức Vua đã sẵn sàng hạ mình để làm những việc bình thường nhất để thể hiện sự khiêm nhường. Ngài cũng đã tỏ ra e ngại trước dân chúng khi thấy sự sủng ái của các thần dân mang chất ái mộ.

Sự “thiếu” trịnh trọng của Đức Vua đã làm mếch lòng không ít các vị quan và một số người có mặt trong cuộc họp của Đại Hội đồng Kinh tế – Tài chính Đông Dương. Họ trông đợi ở vị Hoàng Đế, ở Đức Vua sẽ có một bài diễn văn dài viết sẵn và đọc lên với một chất giọng hùng hồn như ông De Lachevrotière (1), hay với một chất giọng dịu dàng của một phụ nữ cay nghiệt như ông Nguyễn Phan Long (2) . Và điều này sẽ làm vừa lòng những kẻ bảo thủ, những người chỉ thích Đức Vua phải luôn là thần thánh và chỉ phát biểu thông qua những cận thần của mình. Trong thực tế, họ chỉ muốn thần tượng của mình luôn phải ở trong cung điện, không thể đi dạo chơi bên cạnh những người dân thường. Họ cũng không có thói quen được phép nhìn ngắm và ngỏ lời trực tiếp với Ngài. Vậy là những người bảo thủ sẽ vừa lòng ở khía cạnh này và bất bình ở khía cạnh khác.

Những việc làm của Đức Vua như đã kể thực sự trở thành một việc làm khó khăn, vì Ngài là Đức Vua hiện đại! Ngài đã tự thấy là không thể cứ ở mãi như trong cấm cung, trong lâu đài, đặc biệt là từ lâu không cong cung cấm nữa, nhất là Ngài lại là người chưa có vợ, đúng hơn, Ngài là một vị Vua chưa có hoàng hậu. Ngài phải có quyền xuất hiện trước dân chúng, phải có quyền thực hiện những cuộc kinh lý chí ít là ngay trong đất nước của mình, và tại sao Ngài lại không có thể một lần đi thăm Bắc Kỳ, nơi mà người Pháp – Người che chở Ngài thực lòng – bao giờ cũng khẳng định rằng Bắc Kỳ là một bộ phận trong sự toàn vẹn lãnh thổ của Vương triều!

Cuộc vi hành của Đức Vua đã đặt ra hàng loạt các vấn đề thật gai góc, và thật may vì nó không khó quá đến nỗi không xử lý được, nhất là người dân phía Bắc cũng khá dễ dãi trong những việc làm có tính tượng trưng miễn là những gì họ đang có vẫn còn nguyên. Với những điều kiện như vậy, trong một vài ngày, dân chúng tiếp đón vị Vua của họ đúng như một người đầy quyền uy đứng sau vị Toàn quyền, người đại diện cho một nền Cộng hòa.

Mọi người sẵn sàng bỏ qua sự lãng quên những nghi thức cổ xưa và sẵn sàng có mặt để nghênh đón Đức Vua bằng những lời chào mừng nồng nhiệt như khi đón rước bất cứ một vị anh hùng nào. Cụ thể, mọi người sẽ hô vang hoan hô, hoan hô khi Đức Vua bước chân lên những nhịp cầu Thê Húc…

Tôi nghĩ rằng cần phải ghi lại tất cả những diễn biến này vì nó liên quan đến việc trang phục của Đức Vua Bảo Đại và như một sự xác nhận những ý kiến của tôi.

Lễ phục là vấn đề cần thiết với một vị Vua khi xuất hiện trước dân chúng, nhưng khi các thần dân thực sự quý trọng vị Vua của mình thì vấn đề áo quần lại chẳng còn quan trọng bao nhiêu.

NGUYỄN VĂN VĨNH

L’ANNAM NOUVEAU số 296 ngày 7.12.1933.

Chú thích:

1. Henri chavigny Lachevrotière (1883-1951) sinh tại Sài Gòn. Ông là nhà báo và nhà chính trị gia Pháp – Việt khá nổi tiếng.

2. Nguyễn Phan Long (1889 – 1960) là nhà báo, nhà chính trị Việt Nam. Ông cũng là người được Hoàng Đế Bảo Đại cử giữ chức Thủ tướng đầu tiên của Quốc gia Việt Nam là một chính thể thuộc Liên bang Đông Dương thuộc Liên hiệp Pháp tồn tại từ 1948 đến 1955 và thủ đô là Sài Gòn.

Người dịch:

Nguyễn Kỳ (1918-2013)- Con trai thứ sáu của học giả NVV.

Biên tập và chú thích: tannamtu.com.

Comments

  1. Tran Kim Anh

    Bài viết thật sâu sắc,phải ngẫm nghĩ thật kỹ mới hiểu được ý của tác giả.Cảm ơn Lân Bình

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *