Cái đầu tiên thứ 8: NHÀ BÁO, CHỦ BÚT, BẢN BÁO DUY NHẤT TRONG LỊCH SỬ BÁO CHÍ VIỆT NAM ĐOẠT GIẢI THƯỞNG GRAND PRIX (Giải thưởng lớn) tại PARIS năm 1932.

Một số tài liệu trong quá khứ, đặc biệt là nửa đầu thế kỷ XX ở Việt Nam, khi nhìn nhận về Nguyễn Văn Vĩnh đã nêu những nhận định rất chủ quan, phiến diện cùng sự thành kiến, thậm chí cả những sự quy chụp do những hoạt động của Nguyễn Văn Vĩnh trong lĩnh vực văn hóa rất rộng lớn, đa dạng và hoàn toàn mới lạ. Trong những góc tối đó, thường những cá nhân và tổ chức mang trong lòng những định kiến về Nguyễn Văn Vĩnh, bị chi phối với nhận thức mang tính suy diễn thiếu biện chứng rằng: kẻ giầu có – là kẻ bóc lột, kẻ giỏi giang – là kẻ thân cận với bộ máy cai trị, kẻ nổi danh – là kẻ xu nịnh, kẻ nói khác mình – là kẻ theo giặc….

Sự mặc cảm của những nhóm người này với một người như Nguyễn Văn Vĩnh, kẻ luôn coi canh tân là lý tưởng, là động cơ để tồn tại đã đẩy họ sang thái cực của sự bài bác. Nhóm người mang mặc cảm đó chỉ nhìn thấy một Nguyễn Văn Vĩnh tác phong không truyền thống (mặc âu phục), nói tiếng Tây (như Tây), lúc nào cũng sẵn sàng thẳng băng phê phán không phải chỉ những tập tục cổ hủ trong đời sống sinh hoạt, mà cả những gương mặt được coi là thần tượng, bất khả xâm phạm trong số đông, hệ quả của lối tư duy sùng bái… Trong khi, nói như nhà sử học danh tiếng Nguyễn Đình Đầu:“Cụ Vĩnh không thích nịnh ai, cũng không thích ai nịnh mình. Cụ không sùng bái ai và cũng không thích ai sùng bái mình. Cụ chống vua quan là vì thế!”(Phát biểu trong bộ phim tài liệu lịch sử Người Man di Hiện đại-2006).

Nhóm người mang tư tưởng chỉ trích Nguyễn Văn Vĩnh gồm cả trong hệ thống quyền lực và cả một bộ phận trong tầng lớp các nho sỹ là sản phẩm của nền giáo dục cựu học. Họ lo sợ tư tưởng của ông, sợ sự phát triển của dân trí, dẫn người dân đến nhận thức đầy đủ về nhu cầu phải được thay đổi tận gốc không phải chỉ hệ thống cai trị mà cả những tập tục nhiều đời trong lối sống, trong tập quán mà đó lại chính là công cụ gặt hái lợi ích, là nguồn thu của hầu hết các thành viên của bộ máy cầm quyền. Họ biện lý rằng đó là lề…là thói dưới danh nghĩa phong tục do tổ tiên để lại. Sự thành kiến đã đưa họ đến chỗ không quan tâm, không xem xét những nội dung, lời lẽ và tư tưởng của đối tượng mà họ đã mang nặng định kiến.

Nhìn lại quá khứ qua các sử liệu và di cảo do Nguyễn Văn Vĩnh để lại, hầu như những người chỉ trích ông không hiểu được bao nhiêu những lý lẽ mộc mạc, đôi khi pha chút sống sượng nhưng thực sự nghiêm túc và hoàn toàn có ích. Đáng tiếc vì tính bảo hoàng, họ đã dựng lên một sự ngăn cách kéo dài trước những tư tưởng mới mà Nguyễn Văn Vĩnh cho rằng không thể thiếu để xây dựng một xã hội phát triển như: tư duy lô zích, khả năng phản biện (biện chứng), khoa học triết học, giáo dục nhân văn, kỹ thuật công nghệ, văn hóa văn nghệ, y tế và thể thao…để rồi, nửa thế kỷ sau nhìn lại, khi hiểu ra, một phần lớn trong số họ đã tỏ ra vô cùng áy náy nhưng họ đã tránh không muốn nhận rằng mình đã sai và ân hận…!

Chính vì lối sống thiếu lý trí này của con người, nên người Ba Lan mới có câu ngạn ngữ hết sức triết lý: Định kiến là nguyên nhân của mọi hận thù.

NGƯỜI NAM MỚI

Xét quan điểm và suy nghĩ của Nguyễn Văn Vĩnh qua các trang viết, không ai không đồng ý rằng cả cuộc đời ông đã tận tâm tận lực, dồn tất cả trí tuệ và tài năng vào công cuộc xây dựng con chữ tiếng Việt (bảo vật quý của nước Tổ Việt-Lời tựa Tam Quốc Chí 1909). Ông lấy đó làm nhiên liệu để cho chạy cỗ máy văn hóa nhằm cải não và gieo mầm tri thức cho những người dân chân đất mắt toét, cực kỳ lạc hậu. Cỗ máy này là loại phương tiện mới lạ và đã trở thành thứ vũ khí duy nhất mà ông có trong tay, đó là làm báo. Ông tin gần như tuyệt đối rằng, báo chí chính là thứ vũ khí tuyệt diệu cho một cuộc đấu tranh để dẫn dắt một dân tộc trở nên thực sự độc lập về văn hóa, thoát ra khỏi vòng cương tỏa của lối sống hủ Nho bế tắc. Thứ vũ khí này sẽ giúp họ đến với nhận thức thế nào là nền dân chủ và phát triển, cơ sở cho sự tồn tại của một quốc gia độc lập.

Trong lịch sử tồn tại của Nhà nước Việt Nam, tất cả các thế lực ngoại bang đều tìm cách ngăn cản sự độc lập này, nhất là sự độc lập về văn hóa! Thậm chí, chính vì cái giá trị quan trọng đặc thù đó… nó đã giết chết Nguyễn Văn Vĩnh. Tuy nhiên, chắc chắn ông không hề nuối tiếc sự trả giá đó của mình.

Cần nhìn lại một cách hệ thống những diễn biến đã trở thành dấu ấn có tính chính trị quan trọng trong cuộc đời Nguyễn Văn Vĩnh, từ đó sẽ giúp xác định được tư chất, bản chất và phẩm chất của một con người hiếm gặp. Từ những sự việc này, ở một mặt khác, chúng ta cũng nhận thấy tính tích cực của nền dân chủ của một nước Pháp văn minh, và nó đã tự mâu thuẫn ra sao với chính sách kinh doanh thuộc địa hà khắc của Chủ nghĩa Thực dân khi họ áp dụng ở các nước nhược tiểu.

Hiểu được bản chất này, chúng ta sẽ không ngạc nhiên khi Nguyễn Văn Vĩnh giành được Giải thưởng Lớn – GRAND PRIX tại Hội chợ quốc tế về Báo chí Thuộc địa, tổ chức tại Paris năm 1932.

Bài Grand PrixBài báo được chụp lại từ microfiml qua màn hình máy tính, số báo 190 ra ngày 24.11.1932

Nguyên văn bản tin trên báo

L’annam nouveau à l’honneur

L’Annam nouveau s’est vu décerner récemment le Grand Prix de l’Exposition coloniale internationale de Paris.

Nous avons exposé avec l’Annam nouveau le Trung-Bac et le Hoc-Bao. Ces deux derniers n’ont pas eu les honneurs des palmarès.

Outre que le diplôme de Grand Prix délivré par une Commission internationale sera pour l’Annam nouveau un joli décorum, il concrétise ainsi nos succès en France sinon à l’étranger.

Nous remercions sincèrement les autorités de cette récompense flatteuse ainsi que tous nos collaborateurs, de loin ou de près, qui ont contribué à notre triomphe en nous apportant généreusement leur précieux concours.

Nước Nam Mới được vinh danh

Nước Nam Mới mới đây vinh dự đón nhận Giải Lớn của Triển Lãm thuộc địa quốc tế tại Paris.

Cùng với Nước Nam Mới, chúng tôi đã trưng bày giới thiệu “Trung Bắc” và “Học Báo”. Hai tờ báo này  đã không có vinh dự nhận giải cành cọ.

Tấm bằng Giải Lớn do Ủy Ban Quốc Tế trao cho Nước Nam Mới rất đẹp, là hình ảnh thể hiện sự thành công của chúng tôi tại Pháp cũng như ở nước ngoài.

Chúng tôi chân thành cảm ơn các nhà chức trách về giải thưởng khích lệ này, cảm ơn các cộng sự gần xa đã đóng góp công lao quý giá cho sự thành công của chúng tôi.

Editor : Pascal De Lohen

Người dịch : Hương Giang.

NHỮNG DẤU ẤN CHÍNH TRỊ ĐẶC TRƯNG

1. Chính trị trong sáng.

Năm 1907, Đông Kinh Nghĩa Thục tan rã, Thủ lĩnh của Phong trào là Phan Châu Trinh bị Chính quyền Thực dân bắt giam, Nguyễn Văn Vĩnh mới 25 tuổi, là người bản xứ duy nhất đã điềm nhiên ký vào bản kiến nghị đòi Chính quyền phải trả tự do cho Phan Châu Trinh vì Phan Châu Trinh vô tội! Xin nhấn mạnh: phải trả tự do vì vô tội. Có nhiều tài liệu ghi lại rằng: các nhà yêu nước đã đòi Chính quyền ân xá, là một thực tế khác hẳn với nội dung hành động của Nguyễn Văn Vĩnh. Vì hành vi này, Nguyễn Văn Vĩnh nhận được ngay lời cảnh cáo tức khắc của một vị đại quan: “Đảo Côn Lôn còn rộng chỗ lắm đấy….Chú hãy liệu lấy!” (NXB. Nhất Tâm – Sài Gòn 1957). Sự kiện chính trị này đáp trả những ghi chép ngây ngô mang tính suy diễn của một số nho sỹ đương thời rằng, Nguyễn Văn Vĩnh không bị bắt vì là kẻ thân Pháp!!!

Các nho sỹ đó đâu có biết gì rằng năm 1906 Nguyễn Văn Vĩnh đã là người Việt Nam đầu tiên là thành viên của Hội Nhân quyền Pháp. Thậm chí khái niệm nhân quyền còn là một thứ xa lạ đối với xã hội đương thời. Họ cũng không thể hình dung được, vào thời điểm đó, những người Pháp đã phát hiện ra vô vàn những tố chất quý giá mà họ khao khát sở hữu cá thể đó để phục vụ cho chính sách cai trị, thôn tính An Nam trong lĩnh vực tư tưởng và văn hóa. Họ mới đi được nửa bước trong việc thai nghén một kế hoạch dài hạn để thu phục, biến Nguyễn Văn Vĩnh thành nhân tố đắc lực, toàn tâm toàn ý phục vụ cho một nước Đại Pháp. Vậy làm sao bắt Nguyễn Văn Vĩnh được?!

2. Chính trị hồn nhiên.

Vua Khải Định (1885-1925) được tấn phong năm 1916. Theo hệ thống hành chính cai trị của Thực dân Pháp, miền Trung có cơ quan đại diện được gọi là Tòa Khâm sứ. Tuy nhiên, theo thông lệ, nhà vua phải thực hiện việc yết kiến quan Toàn quyền Đông Dương (người có trọng trách cao nhất của nước Pháp ở Việt Nam-TG) như một hoạt động bắt buộc và Thủ phủ Toàn quyền được đóng tại Hà Nội.

Năm 1917, Đức Vua đã đi từ Huế ra Hà Nội. Ngài Toàn quyền Albert Sarraut (1872-1962) tổ chức buổi lễ khánh tiết trang trọng tại Dinh Toàn quyền (nay là Phủ Chủ tịch Hà Nội-TG). Tại buổi lễ, vị Quan Toàn quyền và Đức Vua đứng ở vị trí trung tâm để nghênh tiếp các đại diện của hệ thống cai trị cùng các đại biểu của các tầng lớp xã hội đến bái lạy cung kính (hai tay nắm vào nhau để trước ngực và cúi chào-TG) như một hình thức trình diện trước bề trên của các bề tôi dưới quyền.

Nguyễn Văn Vĩnh đi đầu trong nhóm các đại biểu của Hội đồng dân biểu Bắc kỳ (1). Khi đối diện với ngài Toàn quyền Đông dương, do đã biết nhau, quan Toàn quyền đã thản nhiên giơ tay bắt tay Nguyễn Văn Vĩnh theo nghi thức phương Tây. Chứng kiến cách hành xử của quan Toàn quyền với Nguyễn Văn Vĩnh, lại đứng sát bên ngài Toàn quyền, cộng với phong cách Âu hóa, Vua Khải Định cũng rất tự nhiên giơ tay bắt tay Nguyễn Văn Vĩnh… Nguyễn Văn Vĩnh với phản xạ bản năng, sau khi bắt tay ngài Toàn quyền cũng đưa tay bắt tay Đức Vua Khải Định.

Hành vi này của Nguyễn Văn Vĩnh là không thể được chấp nhận nhìn ở góc độ quan hệ vua tôi xét theo các quy định của triều đình phong kiến mang tính luật lệ. Việc bắt tay nhà vua là điều cấm kỵ vì đó là hành vi xâm phạm thân thể (Ngọc thể) của Đức Vua. Quy định của các triều đại phong kiến luôn luôn nghiêm cấm tuyệt đối việc đụng chạm đến thân thể Nhà Vua, mà theo cách gọi của thể chế chính trị đó được gọi là Long Thể.

Toàn bộ các quan trong triều đình có mặt tại buổi lễ đã hoảng hốt ồ to lên trong thái độ sửng sốt trước việc phải chứng kiến hành vi vi phạm luật pháp một cách trắng trợn của Nguyễn Văn Vĩnh. Ngay buổi chiều cùng ngày, cơ quan pháp luật của Triều đình Nhà Nguyễn đã dâng lên Đức Vua bản cáo trạng nghiêm khắc lên án hành vi xâm phạm Long Thể Đức Vua của Nguyễn Văn Vĩnh. Theo quy định hiện hành, việc xâm phạm Long Thể của Đức Vua là mắc trọng tội, được gọi là tội khi quân (coi thường Triều đình-TG) và chỉ có một hình thức xử phạt: Chém đầu!

Khi buổi khánh tiết kết thúc, lúc Nguyễn Văn Vĩnh đi qua trước mặt các quan trong Triều, họ đã không ngần ngại phỉ báng ông là kẻ bán nước…đồ phản quốc, đồ đi với Tây! Nguyễn Văn Vĩnh đã điềm tĩnh nói lại một cách nhẹ nhàng với các vị quan đó rằng:“Các ông bảo tôi bán Nước…Nước người ta đã bán từ bao giờ rồi còn đâu đến lượt tôi để mà bán !”.  

Đêm hôm đó, cả Hà thành lan truyền tin, Nguyễn Văn Vĩnh bị xử trảm! Tin tức bay nhanh chóng đến khắp các hang cùng ngỏ hẻm của đất Thăng Long. Gia đình Nguyễn Văn Vĩnh rơi vào cảnh hoảng loạn, sợ hãi vì lo lắng. Tuy nhiên, bản thân Nguyễn Văn Vĩnh lại có thái độ hoàn toàn bình tĩnh trước bối cảnh phức tạp này.

Thật khôi hài vì khi các quan của cơ quan luật pháp đệ trình bản tấu lên Nhà Vua với nội dung đề nghị trừng phạt thái độ khi quân của Nguyễn Văn Vĩnh bằng hình thức chém đầu, Vua Khải Định đã bật cười và nói: “Chuyện có thế mà đòi chém người ta, các vị kỳ quặc thật!”.

Những lời nói trên của Đức Vua đến tai Nguyễn Văn Vĩnh, ông thở phào nhẹ nhõm và sau sự kiện chính trị chấn động ấy, bà Nguyễn Văn Vĩnh (Đinh Thị Tính 1881-1965. TG) đã sinh hạ người con trai thứ sáu và được đặt tên là Nguyễn Kỳ (1918-2013-TG) như một sự ghi nhớ cái sự kiện đầy hoảng loạn và không thể quên này.

(Theo ghi chép của Phạm Huy Lục, nhân sỹ danh tiếng Bắc kỳ – Viện Trưởng Viện Dân biểu Bắc kỳ giai đoạn 1932-1936)  

Chân dung vua Khải Định

Chân dung vua Khải Định. Ảnh tự chụp tại lăng Khải Định – Huế.

Ảnh vẽ NVV ngày xưa

Trang bìa của một tạp chí. Tác giả với thái độ khôi hài vẽ Nguyễn Văn Vĩnh vì muốn nhiều tiền nên phải đi tìm vàng.

Tác giả hoàn toàn không thể hiểu lý do phải đi tìm vàng của Nguyễn Văn Vĩnh.

 3. Chính trị mặc định.

Năm 1925, Nhà yêu nước Phan Bội Châu (1867-1940) trở lại Việt Nam từ Trung Quốc. Trong 30 năm đầu thế kỷ XX, Việt Nam thuộc địa trở thành môi trường đã sản sinh ra không ít những gương mặt có chí khí, có lý tưởng tốt đẹp hướng đến một xã hội bình đẳng và dân chủ do được nhận thức và tiếp thu từ chính kẻ đô hộ mình. Ngược lại, những gương mặt khả kính đó cũng đã trở nên bất mãn tột độ khi phải chứng kiến những phương thức cai trị cực đoan đúng bản chất thực dân, thể hiện mặt trái của một đường lối chính trị thiếu sức sống và không linh hoạt, xuất phát từ tư duy bảo thủ của một nước Đế quốc già cộng với lối nhìn miệt thị một dân tộc kém phát triển bị coi là hạ đẳng.

Thực tế trong lịch sử đô hộ của thực dân Pháp ở Đông Dương, rất nhiều những nhân vật người Việt có tấm lòng ái quốc chân chính, có trí tuệ đích thực, họ trân trọng những bản sắc và đặc điểm tiến bộ về tính nhân văn và nền khoa học phát triển của dân tộc Pháp. Họ thành thật hy vọng vào một sự tồn tại theo thuyết lý các bên cùng tồn tại, cùng phát triển và cùng hưởng lợi. Nhưng như đã lý giải, vì bản chất thực dân, họ đã khước từ khuynh hướng chính trị này. Họ chỉ chấp nhận một nguyên tắc hết sức ấu trĩ, đó là đối phương phải thuần phục một cách thuần túy theo kiểu chỉ biết nghe lời. Ở giai đoạn lịch sử này, họ đã xử sự với các nhân sỹ xuất chúng người bản xứ theo hướng con đường một chiều, trong khi họ hiểu rất rõ, rằng với cuộc sống dân chủ chỉ có đường một chiều khi đi về nghĩa địa!

Napoléon Bonaparte (1769-1821), một vị tướng danh tiếng trong lịch sử nước Pháp đã từng nói về quan điểm chỉ huy và cách nhìn người, đó là: “Một bầy cừu chỉ huy bằng một con sư tử nguy hiểm hơn một đàn sư tử dẫn đầu bằng một con cừu”.

Nhìn lại lịch sử cai trị của Chính quyền Thực dân Pháp, họ thường tỏ ra không tin vào bất kỳ một nhà yêu nước có bản lĩnh người bản xứ nào, bất chấp cả nguyện vọng thành thực về một sách lược cực kỳ quan trọng của các nhân sỹ Việt Nam thời đó hướng đến chủ trương Pháp Việt Đề Huề. Chính Thực dân Pháp đã đẩy những nhân sỹ người Việt chân chính theo chủ trương đó biến thành trò hề lịch sử dưới con mắt của hậu thế, của chính đối tượng mà họ đã bị thua trận. Biến những con người yêu nước chân chính đó thành những phần tử xấu để các lực lượng chính trị khác dè bửu, đặt những gương mặt đáng trân trọng đó vào vị thế của sự tầm thường và là những kẻ cơ hội trong lịch sử (2). Thật là sự tệ hại!

Ở đời, khi số phận đã dẫn hai chủ thể đến với nhau vì bất cứ căn nguyên nào, thì nguyên tắc cần có đầu tiên để mối quan hệ tay đôi đó tồn tại không gây phương hại cho nhau, đó là phải tôn trọng cái tối thiểu, cái quyền được sống, được tồn tại của mỗi bên. Thôn tính nhau vì sự nghi kỵ, không có lòng tin, dẫn đến việc tìm cách triệt hạ lẫn nhau là tối kỵ, vì sau đó sẽ để lại sự hằn thù dai dẳng. Làm sao người Pháp, một dân tộc gắn với Công giáo lại không biết vị thánh Francis of Assisi đã dạy bảo họ ra sao từ hàng trăm năm trước rằng: Không ai đáng để được gọi là một kẻ thù, tất cả đều là ân nhân của bạn, và không ai làm bạn bị tổn hại. Bạn không có kẻ thù, ngoại trừ chính mình.
Sự việc Nhà cầm quyền Thực dân Pháp làm mọi cách để loại bỏ những người bản xứ yêu nước chân chính như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh và rất rất nhiều nhà yêu nước khác người Việt có thiện ý, thậm chí rất tin tưởng ở sự mở mang, khai sáng cùng tồn tại giữa đôi bên, đã thể hiện một chính sách hoàn toàn bế tắc và cực đoan của một thể chế chính trị trong lịch sử.

Vì thế, năm 1926, cơ quan An ninh cao nhất của Chính quyền Trung ương Chính phủ Thuộc địa đã bắt cả Nguyễn Văn Vĩnh. Họ bắt ông vì sau 20 năm, bằng những nỗ lực tổng hợp đầy tính toán và khá bền bỉ, họ đã bất lực trong việc khuất phục Nguyễn Văn Vĩnh đi theo con đường chính trị thực dân. Họ đã đánh giá rất cao năng lực và ảnh hưởng của Nguyễn Văn Vĩnh đối với xã hội An Nam (Émile Vayrac – Trưởng Phòng sách báo bản xứ), nhưng lại đánh giá thấp sự kiên định và lòng ái quốc bất tận của ông trong việc đấu tranh cho một xã hội bình đẳng, tự do, sản phẩm của những tư tưởng tiến bộ mà Nguyễn Văn Vĩnh đã học được từ chính nước Pháp.

Vào 8h30 ngày 15 tháng 5 năm 1926, cơ An ninh tối cao Phủ Toàn quyền Pháp tại Đông Dương đã tra vấn Nguyễn Văn Vĩnh về mối quan hệ với Phan Bội Châu (3) , về nội dung hai con người này đã bàn bạc trong kế hoạch phản đối đường lối và chính sách cai trị của Nhà cầm quyền. Họ còn hy vọng tách được mối quan hệ giữa Nguyễn Văn Vĩnh và Phan Bội Châu, họ lo sợ ảnh hưởng cách mạng của Phan Bội Châu sẽ lan tới Nguyễn Văn Vĩnh…Và đây là sự khôi hài.

Thông qua sự việc cụ thể này, một lần nữa chứng minh người Pháp thật ngây thơ trong việc hiểu Nguyễn Văn Vĩnh mà đáng ra họ phải hiểu nhiều hơn bất kỳ ai trong giai đoạn lịch sử đó. Đành rằng, không loại trừ việc họ đã rất hiểu Nguyễn Văn Vĩnh theo cái cách tư duy “một chiều” của họ.

Nguyễn Văn Vĩnh cũng như Phan Châu Trinh, họ đều giống nhau khi nhìn nhận về Phan Bội Châu (4) trong chiến lược cách mạng giải phóng dân tộc. Nhưng sự khác nhau về quan điểm và khuynh hướng chính trị giữa những con người đầy chữ nghĩa đó hoàn toàn không phải là sự đối đầu để đi đến chỗ tìm cách xóa sổ lẫn nhau.

Ngược lại, họ đã thông qua đối thoại, thông qua trao đổi và gặp gỡ để hôm nay trước lịch sử của dân tộc mình, họ không hề phải ân hận và không bị hậu thế kết án là những kẻ cùng một mẹ mà đá nhau. Chỉ có loại người không hiểu biết nhưng vì huênh hoang vẫn muốn tỏ ra ta hiểu biết, nhất là khi giành được chỗ đứng quyền lực và phát ngôn để thể hiện sự làm dáng bằng cái tri thức què quặt, mới nói rằng: những nhân vật ngày xưa đó đã bêu riếu, chống đối lẫn nhau!

Kể cả ý kiến này được cho là đúng thì cũng chỉ mới đúng có 50%, trong khi tất cả mọi người đều biết câu ngạn ngữ hùng hồn và cực kỳ chí lý của người Nga: Một nửa cái bánh mỳ vẫn được gọi là bánh mỳ, nhưng một nửa sự thật là sự giả dối.

Năm 1929, Nguyễn Văn Vĩnh đã vào tận Huế để giao du với Phan Bội Châu. Hai người đã vi hành ra Cửa Thuận An (Xe nhà ông, ông cầm lấy lái..).- (Trích điếu văn của Phan Bội Châu in trên bìa 4 cuốn sách Nguyễn Văn Vĩnh là ai? NXB Tri Thức 2013) với khá nhiều những diễn biến tư tưởng được cả đôi bên bộc lộ và chứng kiến lẫn nhau thông qua các câu chuyện trong chuyến đi. Chuyến đi phải được gọi là lịch sử này giữa Nguyễn Văn Vĩnh và Phan Bội Châu đã biến thành sự ồn ào công khai ba năm sau đó (1932) trên mặt báo L’Annam Nouveau (Nước Nam mới). Nhưng cũng chính sự ồn ào có tính chính trị này mà khi Nguyễn Văn Vĩnh qua đời, Phan Bội Châu đã không dấu sự nuối tiếc, sự quý trọng và cả nỗi niềm sâu kín trong bài điếu gửi đến tang lễ Nguyễn Văn Vĩnh ngày 8.5.1936 tại Hà Nội. “…Tôi đau cảm quá nên có mấy hàng chữ điếu ông…. Mây hạc sẽ về đâu ôi bạn ta ngọc báu của năm châu…”.

Chắc chắn trong lịch sử cận đại Việt Nam, mẫu hình tư tưởng chính trị như Nguyễn Văn Vĩnh khó có thể tìm thấy người thứ hai như ông. Nguyễn Văn Vĩnh dấn thân vào một cuộc đấu tranh cho sự tự do, sự bình đẳng và sự bác ái lấy điểm xuất phát từ nền tảng thứ nhất là văn hóa, là tri thức, là nghị lực của mỗi thành viên trong một xã hội cộng với việc học tập, tiếp thu những tiến bộ và thành quả của các dân tộc phát triển khác trong lịch sử tồn tại và đi lên của thế giới loài người. Điều này phải được hiểu và coi đó là sự phát huy nội lực!

Trong tất cả các di cảo mà Nguyễn Văn Vĩnh để lại, chúng ta sẽ không tìm thấy bất cứ một ý định nào, một lời cầu cạnh nào của ông hướng đến sự trông đợi ảnh hưởng hay sức mạnh của bất cứ một lực lượng ngoại bang nào.

Anh bìa báo Trung BắcTrang bìa của báo Trung Bắc Chủ Nhật số ra ngày 7.5.1944 đăng bài của Vũ Bằng nhân ngày giỗ Nguyễn Văn Vĩnh lần thứ tám.

Ảnh Nguyễn Văn Vĩnh với người con trai Nguyễn Nhược Pháp (Ảnh chụp năm 1920).

Theo Nguyễn Văn Vĩnh, việc trao đổi trên mặt báo một cách trung thực và công khai về lý tưởng yêu nước và quan điểm chính trị phục vụ cho mục tiêu xây dựng một xã hội tiến bộ trước bàn dân thiên hạ chính là sức mạnh của một xã hội. Ông coi đó là giá trị của trí tuệ, của tính trung thực, của những con người có ý thức trách nhiệm với độc giả của mình. Tờ báo này của ông, không chỉ có những bài viết thể hiện những quan điểm của Nguyễn Văn Vĩnh về Phan Bội Châu, mà đối với cả Triều đình Huế trong đó có vua Bảo Đại, Ngô Đình Diệm, Phạm Quỳnh…. những chủ thể đang ở vị trí quyền lực. Ông cũng nghiêm túc đề cập đến những vấn đề liên quan trực tiếp cả hệ thống chính trị thuộc địa mà đứng đầu là ngài Toàn quyền Đông Dương Pierre Marie Antoine Pasquier (1877-1934).

Nguyễn Văn Vĩnh đã phơi bày tất cả những gì là yếu kém, là phi lý, là bất cập của toàn bộ hệ thống xã hội đương thời trên tờ báo này. Không chỉ phê phán, không chỉ vạch ra những bất công của các chính sách cai trị và cả các diễn biến xã hội ở khắp mọi mặt, Nguyễn Văn Vĩnh còn đưa ra những giải pháp khác nhau để yêu cầu khắc phục, thay đổi với mục đích để đạt đến hiệu quả tích cực nếu đem áp dụng. Đơn giản, ông chỉ muốn thấy một xã hội tiến bộ.

MỘT TỜ BÁO KHÔNG CÓ THỎA HIỆP

Ngay từ những số báo đầu của L’Annam Nouveau (Nước Nam mới), để chứng minh sự hợp lý và tính thực tiễn của học thuyết chính trị Trực trị (Anministration directe) do Nguyễn văn Vĩnh đề xướng, với mục tiêu loại bỏ bộ máy vua quan nhà Nguyễn, vì theo ông đó là một bộ máy bù nhìn, không có thực lực. Đồng thời, ông phê phán âm mưu hướng xã hội Việt Nam đến chủ trương duy trì chế độ Quân chủ Chuyên chế, mà theo Nguyễn Văn Vĩnh đó là sự cản trở đường tiến hóa của dân tộc Việt Nam, là tiếp tục nuôi dưỡng cơ hội cho tầng lớp trung gian hà hiếp và đè nén người dân lao động, lấy nền tảng chính trị theo tinh thần của bản Hòa ước Patenôtre ký giữa Triều đình Huế và Thực dân Pháp năm 1884.

Nguyễn Văn Vĩnh đã không ngần ngại cho đăng ngay bài: Những vụ áp phe chính trị (La politique des affaires). Cụ thể hơn, ông đã viết bài: Bản tường trình của ông Jules Ferry, bộ trưởng ngoại giao, chủ tịch hội đồng, về những vấn đề trong dự án luật của bản hòa ước 6/6/1884 nhân danh ông J.G tổng thống cộng hòa Pháp (Exposé des motifs du projet de loi du traité de 6 juin 1884 aux noms de M Jules Grévy Président de la RF (République Francaise) par M. Jules Ferry, Président de conseil Ministre des affaires étrangères). Hoặc để hiểu rõ hơn nhận thức chính trị của Nguyễn Văn Vĩnh, có thể đọc 3 bài liên tiếp với đầu đề là: Thể chế cho xứ Đông Dương (Le statut Indochinois) trên số báo 17, 18 và 19 tháng 4.1931.

Trên tờ báo tiếng Pháp này, một tờ báo mà dư luận xã hội (Ai giỏi đoán thì đoán cái nầy chơi.) thông qua những nhân vật danh tiếng thời đó đã thách đố và mỉa mai về khả năng tồn tại của Nguyễn Văn Vĩnh trước chính thể độc tài (Vì sao Nguyễn Văn Vĩnh thành lập báo L’ Annam Nouveau (Nước Nam mới) 1931? ). Nhưng ông đã không lùi bước, bất chấp sự o ép gay gắt của toàn bộ hệ thống chính trị, thậm chí kèm theo cả sự đe nạt và hăm dọa ở mọi góc độ trong cuộc sống gia đình.

Các quý vị sẽ ngạc nhiên nếu có cơ hội tiếp cận với tờ báo tiếng Pháp đặc biệt này, vì về cơ bản, mọi công việc của tờ báo đều do một người lo toan, chịu trách nhiệm, đặc biệt là nội dung, số lượng cũng như chất lượng các bài viết làm sao để đảm bảo một tuần ra hai số với 8 trang khổ giấy 61cm x 45cm. Ở đây chúng ta chưa bàn đến các vấn đề nan giải khi làm một tờ báo như: vốn tài chính, xử lý các yêu cầu kỹ thuật, nguồn vật tư và các thiết bị cho công việc in và xuất bản hoặc hoạt động tiêu thụ… Nguyễn Văn Vĩnh, một “người nhà quê” đã viết hoàn toàn bằng tiếng Pháp và cho đăng, không thiếu về bất cứ một lĩnh vực nào trong xã hội đương thời, kể cả tình hình và những biến động lớn ở trong nước và trường quốc tế.

Những ví dụ về một số bài báo gây ấn tượng của Nguyễn Văn Vĩnh trên L’Annam Nouveau (Nước Nam mới):

  • Viện Dân biểu (Chambre des représentants). 3 bài liên tiếp đầu năm 1931.
  • Báo chí bản xứ tự do (La presse indigène libre). 6 bài liên tiếp.
  • Chế độ đút lót hối lộ muôn hình vạn trạng (La concussion sous ses différentes formes). 4 bài liên tiếp.
  • Bản án chế độ thuộc địa (Le procès du colonalisme). 3 bài liền.
  • Vấn đề rượu cồn (La question des alcools). 7 bài liền.
  • Hãy nói thẳng chuyện cái hiến pháp đích thực cần cho chúng ta (Parlons franc, la vraie constitution qu’il nous faut). 8 bài liền.
  • Cuộc đời mới và cuộc sống cũ (Vie moderne et vie aucienne). 12 bài liền.

Rõ ràng chúng ta khó có thể tin được rằng, một kẻ bị trị, làm Chủ bút một tờ báo viết bằng tiếng Pháp (do bị cấm viết bằng tiếng mẹ đẻ), thứ tiếng của kẻ cai trị mình, để đối chọi về chính trị với chính người Pháp, và nó lại được trao giải thưởng lớn tại chính quê hương của kẻ cai trị….là một điều hôm nay chúng ta khó hình dung. Nội dung viết của kẻ bị trị đó đã làm đau đầu nhức óc cả một bộ máy chính trị đến mức nào, nhưng đã làm hài lòng hội đồng chấm giải đến đâu? Là điều thật thú vị! Trường hợp nếu văn phong và trình độ Pháp ngữ của kẻ bị trị đó chỉ đạt đến ngưỡng thông thường theo kiểu làm báo để kiếm ăn thì chắc chắn sẽ không có chuyện nhận giải thưởng!

Lập luận trên đây nếu chỉ là suy diễn thì lý do gì mà năm 1935, Nhà cầm quyền lại phải tiếp tục “mặc cả” để Nguyễn Văn Vĩnh phải dừng bút, phải chấm dứt việc viết? Thậm chí còn cam kết sẽ xóa nợ nếu chấm dứt hoạt động.

Vậy là, con chữ, thứ mà nhân loại tìm ra khi qua đầu của một kẻ có trí tuệ nó sẽ mạnh đến mức nào?! Việc cương quyết không nhân nhượng chính quyền của Nguyễn Văn Vĩnh đã trở thành quyết tâm của Nhà Cầm quyền quyết định xiết nợ theo cách “Thỏa thuận” đi đào vàng để trả. Và họ đã thành công việc bẻ gãy một cây bút gây kinh hoàng cho chế độ cai trị vào tháng Ba năm 1936.

Ngày nay, bài toán với các vị là Tổng Biên tập một tờ báo 8 trang bằng tiếng mẹ đẻ, trong điều kiện công nghệ hiện đại, với bao nhiêu nhân viên, cán bộ làm công việc biên tập và viết bài? Nguồn tài chính từ đâu, từ ai? Dù chẳng dễ nhưng chắc chắn không khó quá như Nguyễn Văn Vĩnh một thời!

Những người làm báo ngày nay đâu có phải đối đầu với chính thể để phải tuyên bố ngay trên trang nhất của số báo đầu tiên của mình khi xuất bản tờ L’Annam Nouveau (Nước Nam mới) ra ngày 21.1.1931 tại Hà Nội như Nguyễn Văn Vĩnh:

“Báo L’ANNAM NOUVEAU tôn trọng chính quyền đã được lập nên, trọng con người của tất cả những đại diện của nó, nhưng không sợ ai và không nịnh ai”.

(L’ANNAM NOUVEAU Respecte l’autorite Étabelie danns la personne ces tous ses representants mais ne craint personne et neflatte personne).

Đọc lại một trong nhiều quan điểm nêu trong tuyên ngôn của Nguyễn Văn Vĩnh có thể ai đó trong chúng ta trộm nghĩ: Sao ông lại liều đến như vậy?

Không! Nguyễn Văn Vĩnh không liều, ông không hề là kẻ ấu trĩ để nhắm mắt dũng cảm, vì xét cho đến cùng, sự dũng cảm nào của con người cũng để đem đến một cái gì đó, trong khi thể chế chính trị đương thời đã quá một lần cam kết sẽ dành cho ông nhiều cái gì đó, kể cả danh và lợi. Nào Bắc đẩu Bội tinh, nào chiếc ghế quan Thượng thư (Bộ trưởng-TG), nào xóa nợ… Nguyễn Văn Vĩnh đã không hề như kẻ nào đó với lối sống hám lợi và háo danh, suy từ bụng họ ra bụng người khác để gán cho ông cái sự tầm thường vì ông chỉ mong một cuộc sống tối rượu sâm panh, sáng sữa bò!

Nguyễn Văn Vĩnh chỉ đơn giản chứng minh quyết tâm và lòng trung thực của mình dành cho việc xây dựng một nền dân chủ thực sự, một sự bình đẳng khi người ta là con người, và ngăn chặn được mức độ nào đó sự tiếp tục tha hóa của một xã hội mà đáng lý ra nó đã không phải rơi vào thảm cảnh như ông chứng kiến.

Thật bất công vì nửa thế kỷ sau, một bộ phận những người tiếp nối đã nhân danh trách nhiệm nhưng không muốn nhìn nhận và coi đó là sự hy sinh dũng cảm của Nguyễn Văn Vĩnh, họ không tin tiền nhân đã gọi Nguyễn Văn Vĩnh là người công dân vĩ đại. Điều này chỉ làm cho hậu thế thêm ngờ vực…

Còn quá nhiều điều để bàn về những lý tưởng mà Nguyễn Văn Vĩnh đã theo đuổi trong suốt một chiều dài lịch sử. Đáng tiếc và thật tệ hại khi một xã hội vì quá thực dụng, nên đã thiếu mặn mà với những lĩnh vực không đem lại những món lợi tiền bạc. Đó là còn chưa kể đến vẫn tồn tại những định kiến mơ hồ, ngấm ngầm ngăn cản cả những ai muốn tìm đến sự thật (kể cả chính hậu duệ của ông), để rồi theo thuộc tính, người ta sẽ chỉ chép miệng khi nghĩ đến đề tài Nguyễn Văn Vĩnh. Và nếu nhận thức này không sai thì chúng ta sẽ mãi mãi sống trong sự bất lực vì day dứt như đầu đề của một bài viết trên VNN ngày 4.7. 2015 rằng: Có những giá trị người đã rời bỏ thế gian…Điều này không khác gì tội lỗi!

Tin rằng, sẽ đến một lúc, đề tài về nhà báo Nguyễn Văn Vĩnh cũng giống như việc gần đây, người ta đã nhận thấy trong kinh doanh xuất khẩu hoa quả tươi, từ những phương trời xa, người tiêu dùng muốn được tìm lại vị ngọt của quê cha đất tổ qua quả nhãn lồng Hưng Yên. Vậy là, nhờ những người Việt Nam bôn ba ở khắp các miền trái đất, những người Việt biết và nhớ cái cội nguồn chân phương, cái gốc gác thằng người, nhớ cái ngon, cái ngọt, cái hương quê qua hương thơm của quả nhãn lồng Hưng Yên, mới làm cho ngành xuất khẩu rau quả của Việt Nam phải lặn lội tìm về cội nguồn của cây nhãn lồng. Người dân Hưng Yên mới lo lắng chăm chút, bảo vệ những cây nhãn lồng cổ thụ để mong giữ được giống, được gien, giữ được niềm kiêu hãnh chân chính mà tạo hóa đã ban cho mảnh đất Hưng Yên một thứ báu vật, cho dù đó chỉ là một thứ quả để ăn.

Cũng rất có thể, sau khi bài viết này được công bố, cơ quan quản lý nghành báo của Việt Nam cũng chẳng mấy xúc động hay tự hào gì ghê gớm về một tờ báo dù là của một người Việt Nam đã từng giành được vị thế của sự nể trọng trước công luận quốc tế từ hơn 80 năm trước trong lĩnh vực thông tin, văn hóa báo chí. Nhưng họ không thể không nhận thấy (kể cả cố tình) nhà báo Nguyễn Văn Vĩnh, một người Việt 100% đã thành công ra sao trong sự nghiệp xây dựng văn hóa chữ viết theo con đường làm báo, và ông cũng đã thành công ra sao trong việc chứng minh trước sức mạnh cường quyền của Đế quốc, Thực dân một giá trị thiêng liêng của con người làm báo chân chính.

Nhà nước đang cố sức xây dựng chiến lược phát triển thông tin và tầm nhìn đến năm 2030 để làm gì khi chưa có chiến lược xây dựng con người chân chính đến năm 2020?!

CÁI KẾT BI THẢM NHƯNG BẤT KHUẤT

Việc tháng 12 năm 1935, Nhà Cầm quyền Thực dân vì lo sợ tư tưởng dân chủ của Nguyễn Văn Vĩnh như một sự vạch mặt chính trị, đặt hệ thống cai trị vào ghế của những kẻ tội lỗi trong việc áp bức một cách tàn nhẫn người dân Việt Nam không phải chỉ về vật chất, mà cả về cuộc sống tinh thần, đối lập với tinh thần cách mạng vĩ đại của Công xã Paris 1789 là Tự do – Bình đẳng – Bác ái. Và họ đã o ép đến nhẫn tâm để Nguyễn Văn Vĩnh phải rời bỏ tờ báo yêu quý của mình với lý do rất hạ tiện: vay tiền ngân hàng phải trả gấp, đủ thấy cái đê tiện của một thể chế chính trị bế tắc và suy yếu.

Nếu ai đó biết và hiểu được vai trò ghê tởm của tổ chức SDECE, một tổ chức chuyên thực hiện việc thủ tiêu những nhân tài, những nhà chính trị danh tiếng của các nước thuộc địa của nước Pháp trong thế kỷ XX, thì lại càng thấy chua chát khi những người nhân danh bảo vệ lịch sử, bảo vệ truyền thống, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc đã lập lờ trong việc vinh danh những cống hiến của Nguyễn Văn Vĩnh trong lịch sử phát triển văn hóa, văn học chữ Quốc ngữ, niềm tự hào bất tận của dân tộc Việt Nam. Điều này có thể được hiểu như một sự chối bỏ hay đồng ý với cách xử thế của Chính quyền Thực dân với Nguyễn Văn Vĩnh hay không?

Xét cho đến cùng, đúng như Nguyễn Văn Vĩnh đã xác định khi trao đổi với nhà yêu nước Huỳnh Thúc Kháng (1876-1947) trên tờ báo định mệnh L’Annam Nouveau (Nước Nam mới) 1931-1936 về quan điểm yêu nước của Phan Bội Châu được công khai trên các số báo năm 1932, ông đã nêu:

“Cái hố sâu ngăn cách một nhà Nho chân chính như ông, người không còn tin vào những tư tưởng lẫn những phương pháp của quá khứ, với một người man di hiện đại như tôi, sản phẩm của một nền giáo dục hỗn tạp và khiếm khuyết, đang muốn tìm một vài chân lý trong cùng cái quá khứ đó, mà tôi, tất nhiên cũng không biết gì hơn ông Kháng, dù sao, cái quá khứ đó cũng hiện lên đối với tôi như một nguồn sức sống và ánh sáng chưa được biết tới. Chúng ta đã gặp nhau trên cùng một con đường, ai cũng cho là mình đi đúng hướng…chẳng qua vì con đường đó chưa có. Giống như, rốt cùng, cả hai chúng ta đều đang đi tìm chân lý, thì không nhất thiết cứ phải đi theo cùng một hướng!”

C’est la fossé séparant le vrai lettré qu’il est et qui ne croit plus aux idées ni aux méthodes du passé, du barbare moderne que je crois être, produit d’une éducation mixte et incomplète, qui essaie de trouver quelque vérité dans ce même passé qu’il ne connait certainement pas autant que M. Khang, lequel lui apparait néanmoins comme une source méconnue de vie et de lumière.

Nous nous croisons sur le chemin et chacun de nous prétend aller du bout côté précisément parce qu’il n’y est pas encore. Comme, après tout, nous allons tous deux à la recherche de la verité, il n’est pas indispensable d’aller dans la même direction.

(Người dịch từ Pháp văn Đào Hùng)

It is the gulf separating the real scholar that I am but who no longer believes in the ideas and the methods of the past from that of themodern barbarian I believe myself to be. The product of a mixed andincomplete education, I tried to find something real in this same past,one which I certainly do not know as well as M. Huynh Thuc Khang.

The [latter] appeared nonetheless to me as an unsuspecting source oflife and light. We crossed paths on the same road and each of us claims

( Người dịch từ Pháp văn sang Anh văn Christopher Gosha – GS đại học Quebec – Canada )

NGUYỄN LÂN BÌNH

Tannamtu.com

Chú thích:

1. Viện Dân biểu Bắc Kỳ (tiếng Pháp: Chambre des Représentants du Peuple du Tonkin), được thành lập ngày 10 tháng 4 năm 1926 theo nghị định của Toàn quyền Đông Dương Alexandre Varenne, là một cơ quan tư vấn cho chính quyền Bảo hộ của người PhápBắc Kỳ. Viện Dân biểu Bắc Kỳ có nhiệm vụ góp ý kiến cho chính quyền khi được tham vấn, nhưng tuyệt đối cấm bàn về chính trị, và muốn thảo luận thêm vấn đề gì, phải được phép của Thống sứ Bắc Kỳ (Wikipedia).

 2. Văn kiện Đảng Cộng sản Đông dương giai đoạn 1929-1935. Trang 290 và 437. NXB. Sự Thật năm 1964.

 3. Tài liệu lưu trữ của Trung tâm lưu trữ Hải ngoại Quốc gia Pháp. Toàn bộ nội dung văn bản này cùng mã số quốc gia sẽ được trình bày trong bài biết tiếp theo có tựa đề: Cái đầu tiên thứ 9.

4. Phan Châu Trinh toàn tập, tập 3, trang 66-68. NXB. Đà Nẵng 2005.

05

Toàn bộ trang nhất báo L’Annam Nuoveau (Nước Nam mới).

BBT. Tannamtu.com xin chân thành cảm ơn các bạn hữu gần xa đã cung cấp bổ xung những tư liệu quý giá để bài viết được đầy đủ và sinh động phần minh họa.

                                   ====================

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *