TƯ TƯỞNG, VIỆC LÀM CỦA NGUYỄN VĂN VĨNH LÀ CỘI NGUỒN CỦA LÒNG YÊU NƯỚC.

(Nhân đọc hồi ký của bà Đào Duy Anh – Trần Thị Như Mân)

Toa dam 2002

Tọa đàm năm 2002 (tannamtu.com)

Sau một quãng thời gian dài cân nhắc…Tháng Sáu năm 2002, Hội Khoa học Lịch sử kết hợp với Bảo tàng Cách mạng Việt Nam đã quyết định tổ chức buổi tọa đàm khoa học với chủ đề: “Tọa đàm về nhân vật lịch sử, dịch giả Nguyễn Văn Vĩnh 1882-1936”, tại trụ sở ở số nhà 25 phố Tông Đản, hà Nội,

Buổi tọa đàm được tổ chức tại hội trường tầng II, Bảo tàng Cách mạng Việt Nam. Chủ trì buổi tọa đàm, nhà sử học, Tổng biên tập Tạp chí Xưa và Nay, ông Dương Trung Quốc.

Buổi tọa đàm dự kiến mời 40 vị khách là các nhà nghiên cứu, nhà sử học, nhà văn, nhà phê bình… Thực tế đã có mặt khoảng 60 người. Tham gia buổi tọa đàm, ngoài những nhà nghiên cứu nổi danh như: giáo sư sử học Đinh Xuân Lâm, giáo sư sử học Chương Thâu, giáo sư Phong Lê, nhà nghiên cứu về Hà Nội Nguyễn Vinh Phúc (1926-2012), nhà văn Hoàng Tiến (1933-2013)…. còn có ông Nguyễn Thành (đã mất), người được Chủ tọa giới thiệu là nguyên Phó Giám đốc Bảo tàng Cách mạng Việt Nam.

Tất cả các vị khách mời có danh đều phát biểu nêu những hiểu biết có tính khái quát và đặc trưng về con người, sự nghiệp văn hóa, cuộc đời lao động của nhà báo Nguyễn Văn Vĩnh. Các ý kiến đều có nội dung thể hiện thái độ trân trọng trước những tài năng và ca ngợi những cống hiến thực sự to lớn mà Nguyễn Văn Vĩnh đã để lại cho nền văn học chữ Quốc ngữ và văn hóa Việt Nam trong thế kỷ XX.

Nhà văn Hoàng Tiến là người duy nhất xin phép Chủ tọa được đọc tham luận, các vị khách mời khác đều phát biểu trực tiếp vì nhà tổ chức không có chủ trương do đây không phải buổi hội thảo. Trong nội dung tham luận của nhà văn Hoàng Tiến còn có cả dẫn chứng về quan điểm, nhận thức và ý kiến của cụ Nguyễn Hữu Đang (1913-2007, một người nổi tiếng trong phong trào cách mạng Việt Nam giai đoạn thập kỷ Bốn mươi và Năm mươi), về vai trò lịch sử quan trọng và những đóng góp của nhà báo, dịch giả Nguyễn Văn Vĩnh trong tiến trình phát triển nền văn hóa Việt Nam ở thế kỷ XX.

Tất cả các ý kiến của các nhà khoa học phát biểu tại buổi tọa đàm, khi kết thúc đều nhận được những loạt vỗ tay hoan nghênh rất tự nhiên của người nghe. Trái lại, lời phát biểu của đại biểu Nguyễn Thành là trường hợp duy nhất làm cho toàn bộ khán phòng im lặng, gần như tuyệt đối khi ông dừng lời. Thay vì sự vỗ tay phúc đáp của người nghe, lập tức, chủ tọa nhận ngay đòi hỏi mang tính “khẩn” của những người tham dự. Ba vị đại biểu đề nghị cho phát biểu ý kiến trước nội dung phát biểu của ông Nguyễn Thành. Ba đại biểu với biểu lộ cả bằng lời nói và bằng vẻ mặt, không đồng ý với quan điểm nhìn nhận về Nguyễn Văn Vĩnh của ông Nguyễn Thành, thậm chí phát biểu của một trong ba vị khách mời còn đưa ra cam kết với ông Nguyễn Thành rằng: “Tôi sẽ đi đến cùng đường với anh về chủ đề này !”(Xin phép không nêu tên vị khách nói điều này tại đây-TG).

Điều gì dã dẫn không khí tọa đàm đến chỗ căng thẳng và “nóng” đột biến đến mức vị Chủ tọa đề nghị mọi người tham gia trao đổi cần kiềm chế và tôn trọng các ý kiến nhiều chiều. Những người hay né tránh sự thật, sợ sự thật, thậm chí muốn lảng tránh sự thật…thường hay nói: Vấn đề này nó nhạy cảm… ! ? Vậy nhạy cảm ở đâu?

Đơn giản… Trong phát biểu của ông Nguyễn Thành, bên cạnh những đánh giá thể hiện sự khâm phục tài năng, trí tuệ và sức sáng tạo đặc biệt trong văn hóa của nhà báo, dịch giả Nguyễn Văn Vĩnh, ông Thành không đồng ý như hầu hết các ý kiến phát biểu tại buổi tọa đàm rằng: Nguyễn Văn Vĩnh là người yêu nước!!!

Toa dam 2002 1NGND Nguyễn Vinh Phúc phát biểu tại Tọa đàm năm 2002 (tannamtu.com)

Thưa các quý vị độc giả! Tư tưởng của Nguyễn Văn Vĩnh về quyền bình đẳng khi làm người được thể hiện trong suốt quá trình lao động, đấu tranh với mọi thế lực trong xã hội cả hữu hình lẫn vô hình thông qua những việc làm, những điều ông viết mà mọi người đều nhận thấy khi đọc lại các di cảo của ông.

Nhìn lại xuyên thấu một cách hệ thống toàn bộ cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Văn Vĩnh (chưa ai làm việc này), tư tưởng bình đẳng về quyền con người, chính là động lực lớn nhất đã thúc đẩy Nguyễn Văn Vĩnh kiên cường đi trên con đường khai dân trí liên tục suốt 30 năm liền. Nhưng đó cũng chính là nhân tố lớn nhất làm cho tất cả những chế độ chính trị cường quyền muốn loại bỏ và tiêu diệt ông!

Nguyễn Văn Vĩnh, trong cuộc đời mình, ông chưa bao giờ nao núng vì những suy nghĩ trái chiều của những người đối lập với mình trong quá trình vận động. Khi va chạm, ông vẫn thản nhiên đi tiếp đến những phần công việc đang chờ đợi, ông bình tĩnh làm tiếp những gì mình đang theo đuổi ngay cả vào những thời khắc căng thẳng tột độ với Nhà cầm quyền, với những gương mặt chính khách khác chính kiến, thậm chí với cả sự đe nạt của kẻ bạo quyền. Thêm nữa, và cả sự nhiếc móc, mỉa mai của những nhân vật cùng hoạt động trong làng văn hóa với ông.

Ông đã chịu đựng được tất cả những điều đó vì ông tự tin sắt đá vào quyền của một thằng người, vì ông tin vào lý tưởng mình theo đuổi, tin vào quyền của một kẻ thương và yêu đồng bào mình ! Nguyễn Văn Vĩnh bình tĩnh một cách giản dị vì ông đã luôn nhận thức rằng: “ Dân chúng An Nam đã rơi vào tình cảnh lúng túng, chẳng còn biết đi theo lý tưởng nào ???” (1).

Thật vô tình, trong quá trình lần mò tìm đến những gì Nguyễn Văn Vĩnh đã làm, đã để lại, người viết bài này đã mở to mắt hơn bình thường khi đọc được hồi ký Sống với tình thương (NXB Thanh niên 2007) của một người phụ nữ Việt Nam can trường là Trần Thị Như Mân, bà đã dấn thân đi đến con đường làm cách mạng đầy hy sinh, đầy bất trắc. Con đường đã dẫn bà đến với lòng yêu nước sâu sắc nhờ việc chứng kiến tận mắt vai trò nổi bật trong xã hội thời đó của nhà yêu nước Phan Bội Châu (1867-1940).

Ấn tượng đặc biệt hơn nữa, khi được biết bà đã cùng các đồng chí của mình, với sự cổ vũ của người cháu nội của vua Minh Mạng là Tôn Nữ Đồng Canh, có bút danh là Đạm Phương (1881-1947) đã thành lập ra NỮ CÔNG HỌC HỘI (1927), là Tổ chức Phụ nữ yêu nước đầu tiên ở Việt Nam. Từ đây, bà Trần Thị Như Mân cùng với các thành viên trong Hội đã quyết định lập nên một tờ báo mang tên Phụ Nữ Tùng San (1929), là một trong hai tờ báo đầu tiên về phụ nữ ở Việt Nam.

Nói đến giá trị của báo chí, bất kể là ai cũng nên được biết và được đọc lời phát biểu của Thomas Jefferson (1743 – 1826), tác giả Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ 1776, đó là:

Nếu để cho tôi ra quyết định: có chính phủ mà không có báo chí, hoặc ngược lại, chỉ báo chí chứ chẳng cần chính phủ, tôi sẽ không do dự chọn lựa phương án thứ hai.”

Rất có thể, vào cái bối cảnh lịch sử mà Phụ Nữ Tùng San, tờ báo đầu tiên của những người phụ nữ An Nam ra đời, những người chủ trương cũng không hề quan tâm rằng nước Mỹ ở đâu? Vì vậy, họ không biết Thomas Jefferson là ai cũng là chuyện bình thường. Nhưng họ đã biết Nguyễn Văn Vĩnh là ai và ông đang làm gì cho một dân tộc đói nghèo đang bị chìm đắm trong một xã hội bần hàn với đầy rẫy sự kìm kẹp của chủ nghĩa nô dịch.

Mọi nghiên cứu, đúc kết của khoa học đã khẳng định: Bất luận hành vi nào của con người có liên quan đến trí tuệ, đều có nguồn gốc của ý thức. Từ góc nhìn này, không thể không nhận thấy nếu Nguyễn Văn Vĩnh không vì xót sa trước sự yếu kém của người dân An Nam, đặc biệt về tri thức, ông đã không nghĩ đến việc chuyển tải những tinh hoa trong văn hóa của nhân loại đến đồng bào mình nhằm khích lệ tinh thần bình đẳng và quyền đi tìm tự do của con người, thông qua việc dịch và truyền bá các tác phẩm bất hủ của các danh nhân, các triết gia danh tiếng của nhân loại.

Chắc chắn, Nguyễn Văn Vĩnh đã may mắn nhận thức được sâu sắc một triết lý khoa học của cuộc sống đã trở thành lời nguyền, đó là: “Không có chiếc chìa khóa vạn năng nào có thể mở cửa vào nền văn hóa của một dân tộc, ngoại trừ chính tâm hồn của dân tộc ấy”. Và đó chính là lòng yêu nước của một con người.

Toa dam 2002 2

Tọa đàm năm 2002 (tannamtu.com)

Để chứng minh cho nhận thức này, tôi xin phép gia đình học giả Đào Duy Anh được trích dẫn dưới đây một đoạn viết của bà Trần Thị Như Mân trong cuốn hồi ký Sống với tình thương, đoạn nói về những khó khăn bà phải đối mặt khi muốn thực hiện lòng yêu nước của bà trong việc tìm cách để phát hành tờ báo đầu tiên của phụ nữ Việt Nam, cách đây gần 90 năm về trước. Đồng thời cũng là một minh chứng cho những cố gắng bất tận của Nguyễn Văn Vĩnh nói riêng và chủ trương khai dân trí nói chung của Phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục ở đầu thế kỷ XX, tiền đề cho việc khích lệ lòng yêu nước có trí tuệ đối với người dân Việt Nam.

“ Theo gợi ý của anh Đào Duy Anh, chúng tôi phải ra một tờ báo công khai để tuyên truyền cho cuộc giải phóng phụ nữ, đấu tranh cho nữ quyền. Chúng tôi bàn nhau lấy tên tờ báo là Phụ nữ tùng san, do tôi đứng ra chủ trương. Tôi đem việc đó sang bàn với bà Đạm Phương thì được bà hết sức tán thành và hứa sẽ viết bài cho. Tôi tháo một lá đơn gởi lên tòa Khâm (Khâm sứ-TG) xin phép, nhưng chờ mãi không thấy hồi âm. Thực ra luật hồi đó không cần xin phép mà chỉ cần báo tin là đủ, miễn là có đăng ký tên người quản lý và tên nhà in chính thức là được. Nhưng ở Trung Kỳ luật pháp có phần nghiệt ngã hơn nên chúng tôi phải cẩn trọng. Anh Anh bảo nếu vậy thì không cần xin phép nữa, nhưng để nhà cầm quyền không làm khó dễ thì ta hãy ngụy trang tờ báo thành một cuốn sách, và cứ ra định kỳ.

Dựa theo cuốn tiểu thuyết Les Misérables của Victor Hugo, tôi trích từng đoạn dịch và in vào mỗi số báo. Từ số 2 tôi trích đoạn nói về Fantine, lấy tên là “Hồng nhan bạc mệnh”, số 3 trích đoạn viết về Cosette, lấy tên là: “Đầu xanh tội gì”. Tôi còn định dịch đoạn nói về Marius, nhưng chưa kịp làm thì tôi bị bắt.

Tôi chưa biết là ông Nguyễn Văn Vĩnh đã dịch bộ tiểu thuyết này dưới cái tên là Những kẻ khốn nạn, do nhà xuất bản Trung Bắc Tân văn ấn hành năm 1928; nếu biết thế thì tôi đã không múa rìu qua mắt thợ…”

(Trang 30 và 31).

Thật chua chát và mỉa mai khi ai đó đã sống bằng lòng đố kỵ và định kiến để phán quyết về những con người, nhất là khi những người bị phán quyết đã là người của lịch sử văn hóa của một đất nước. Những gì là văn hóa đều mang tinh thần mà nhà văn Pháp, người đoạt giải Nobel 1957 Albert Camus (1913-1960) đã nói:

Văn hóa: tiếng kêu của con người khi đối diện với số phận ( Culture: the cry of men in face of their destiny).

Con đường minh chứng cho một sự thật của lịch sử không bao giờ ngắn. Chỉ có con người là đôi khi có những suy nghĩ ngắn mà thôi!

Nguyễn Lân Bình.

 

 

Chú thích:

(1). Trích trong bài: Bộ mặt thật của nền giáo dục

(Le véritable aspect de la question de l’enseignement)

( Báo L’Annam Nouveau-Nước Nam mới, số141, 144 và 145 ra ngày 6, 14 và 19.6.1932 )

================================

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *