Hãy học và quý tiếng Việt !

Lúc tôi còn bé, mẹ tôi hay bảo anh em tôi rằng : “Tao sinh ra chúng mày là người Việt, mà chúng mày không biết tiếng Việt, thế thì nhà này còn mặt mũi gì với đời ?”.

 

DSCF0041Trang đầu của cuốn từ điển Việt-Bồ-La in năm 1651 tại Roma (Ảnh minh họa của BBT.tannamtu.com).

Bấy giờ gia đình tôi đang ở một vùng ngoại ô. Dân đa phần là Mỹ trắng, lắm kẻ thất học còn kỳ thị chủng tộc, chỉ có riêng gia đình tôi là người Á Đông. Ra đường, đi chợ, đi học, bị người ta miệt thị, chọc quê, gọi là “người Tàu” (vùng ấy bây giờ đỡ hơn nhiều rồi, có nhẽ vì ngày càng nhiều dân thiểu số định cư và làm ăn ở đó). Cứ thế, từ bé chí lớn tôi chỉ biết rằng bố mẹ tôi bảo tôi là người Việt, mà người Mỹ cũng chẳng chấp nhận tôi là người Mỹ.

Năm tôi lên mười tám tuổi, xuống núi ở trọ chốn phồn hoa thị thành, tôi mới ở gần cộng đồng người Việt và kết bạn với người Việt Nam. Bấy giờ cũng là lần đầu tiên tôi bị người khác gọi là “người Tây”, là “Mỹ con”. Nhưng, những người gọi tôi như thế chẳng phải là người Mỹ, mà chính lại là đồng bào của tôi. Thậm chí, có dân sang du học, vốn tiếng Anh thì bập bẹ, thế mà nhất định không chịu nói tiếng Việt với tôi khi biết tôi sinh trưởng ở đây. Tôi sinh trưởng ở Mỹ, tôi thạo tiếng Anh, tôi có quốc tịch Mỹ, nhưng bấy nhiêu điều có làm tôi trở nên người Mỹ chăng ? Có làm đất Mỹ trở thành quê hương của tôi chăng ? Người Minh Hương tị nạn ở Việt Nam đã vài trăm năm, mà chúng ta vẫn xem họ là người Tàu, cớ sao đồng bào Việt tị nạn mới vài chục năm mà đã bị người quốc nội coi thường và gọi là người ngoại quốc ?

Tôi nói tiếng Việt cũng thạo, nhưng vì sinh trưởng ở Mỹ, giọng Bắc của cha ông không thể nào giữ cho thuần túy được. Điều đó tuy bất đắc dĩ, mà cũng khiến tôi phải thẹn với tổ tiên. Song le, ngôn ngữ cũng biến đổi theo thời gian. Giọng Hà Nội năm 2015 đã khác giọng Hà Nội năm 1915, tiếng Việt quốc nội sau năm 1975 khác tiếng Việt trước năm 1975. Có nhiều từ vựng tôi học từ bé, coi như là tiếng tầm thường nhật dụng, “phi trường”, “tòa Bạch Ốc” chẳng hạn – mà sau này tôi mới biết người quốc nội gọi là “sân bay”, “Nhà Trắng”. Người quốc nội, dân du học cũng dùng nhiều từ Hán-Việt mà tôi cả đời chưa hề dùng đến – “bức xúc” chẳng hạn. Những từ vựng ấy sau năm 1975 mới phổ biến, đối với tôi nghe rất lạ lẫm. Thậm chí, đọc sách viết sau năm 1975 còn khó hiểu hơn đọc báo Nam Phong, sách Tự Lực văn đoàn.

Chủ nhật này là Mother’s Day ở Mỹ. Cũng vì gặp ngày lễ, nhớ lời từ huấn mà có chút cảm khái vậy. Đa số lớp trẻ sinh trưởng ở hải ngoại thực sự không thạo tiếng Việt. Đừng vì thế mà khinh bạc, đừng vì thế mà chịu thua không thèm dạy cho chúng biết tiếng mẹ đẻ của chúng. Chúng tôi vẫn là người Việt Nam ạ, tiếng Việt dù bập bẹ đến đâu vẫn là tiếng mẹ đẻ ạ. Lùn tịt, tóc đen, da vàng, mắt hí, mũi tẹt… còn lâu mới làm được Mỹ con ạ. Bất quá là hoàn cảnh lịch sử đưa đến thảm trạng và nguy cơ mất gốc này mà thôi. Chính tôi hồi 15 tuổi hãy còn mù chữ Quốc ngữ, lúc ấy cũng chẳng biết viết lách gì cả. Tôi vì vâng lời gia mẫu mà nỗ lực học chữ Quốc ngữ và sau đó học thêm chữ Hán, chữ Nôm. Thảy đều nhờ bố mẹ tôi dậy dỗ tôi rằng : “Mày là người Việt Nam !“.

Là người Việt thì phải biết tiếng Việt. Ước vọng của tôi cho đồng bào hải ngoại cũng chỉ có thế thôi. Chẳng cần học chữ Hán, chữ Nôm làm chi. Học và quý tiếng Việt là được rồi. Nhưng làm điều đó không có ý nghĩ gì đối với người ngoại quốc. Phải tự xem mình là người Việt, phải biết tự trọng dòng máu Lạc Hồng, tự hào tiếng nói Nam quốc. Như thế lòng mới bền vậy !

 

Nguyễn Thụy Đan

Nguồn TTXVA. Ngày 9.5.2015

 

 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *