NGUYỄN VĂN VĨNH VỚI CHỐNG ĐÚT LÓT và HỐI LỘ – Bài 2

CHẾ ĐỘ ĐÚT LÓT, HỐI LỘ MUÔN HÌNH VẠN TRẠNG

( La concussion sous ses différentes formes)

                                                     Bài 2, L’Annam Nouveau số 111 ngày 21.2.1932.

Các chức sắc ở làng HN 1915

Các chức sắc ở làng HN 1915

 Vâng, khi đã là ân huệ, cần phải biết hưởng thụ, đừng lạm dụng. Đạo lý của tính thực dụng được thiết lập nhằm mục đích sử dụng những khoản lợi Trời cho này, đó là:

  • Ăn của dân nhưng phải được việc cho dân.
  • Ăn tiền cũng phải có nhân có nghĩa.
  • Ăn nó vừa phải, đúng mức.
  • Ăn cũng phải có nghĩa lý:

Ai đem cho thì xin, không được bóp nặn!

Tài lộc mà có, hãy để tự nhiên nó đến, đừng tìm cách bới ra mà ăn.

Trên đây là những dẫn dụ của cái đạo lý đối với kẻ thực dụng. Ngược lại, những kết luận sâu đây dành cho bọn ăn hối lộ xấu xa thô bỉ:

  • Ăn tiền một cách độc ác, nhẫn tâm.
  • Bất chấp nhân tính, không loại trừ bất cứ ai.
  • Tìm cách bới móc, bóp nặn của người.

Những khoản thu nhập phi pháp này mà người ta gọi là bổng lộc. Có những vị trí xã hội “tốt” bổng, nhưng trái lại cũng có trường hợp chẳng sơ múi gì. Có những thu nhập bên ngoài pháp luật và lại không bị coi là bất chính vì người ta công khai. Đó cũng chính là điều người ta biến thành những lời chúc tụng vào dịp đầu năm mới.

Song, đó là những quan điểm của kẻ được hưởng lợi. Bây giờ chúng ta hãy xem người dân nghĩ thế nào. Người dân thường chấp nhận rằng họ phải lo cho tầng lớp quan lại, các viên chức nhà nước, một số những quyền lợi không nằm trong các quy định, trong luật pháp, trong hệ thống hành chính.

Đầu tiên, một cách đều đặn có tính định kỳ, họ đem quà biếu vào những ngày lễ của tháng Năm và tháng Mười cùng với dịp Tết. Những phần quà đó là hiện vật như: gạo, gà, ngỗng, trứng, hoa quả, chè uống hoặc các sản phẩm của địa phương làm ra, họ dành cho các vị quan thanh liêm vốn vẫn tự bằng lòng với lối sống và tập quán thông thường. Những vị quan đó chỉ mong người dân biểu thị lòng biết ơn chân thành, họ coi đó là những biểu hiện của sự lệ thuộc tương hỗ và sự tôn trọng lẫn nhau.

Có những món quà giá trị hơn được mua ở những cửa hàng ngoại quốc thay vì những sản phẩm thông thường, điều này dành cho những kẻ giàu có khá giả, hoặc bản thân những vị quan tỏ ý không thích nhận những thứ quà linh tinh, vì có nhận rồi cũng không biết dùng làm gì nếu không đem chia lại cho những người thân quen.

Có những vị quan còn tuyên bố một cách thô lỗ, vô liêm sỉ trước những thuộc hạ của mình rằng, chỉ thích nhận quà biếu bằng tiền mặt mà các cơ quan dưới quyền thường chung nhau đem biếu. Với cách này, các vị quan chọn một người trong số thuộc hạ đứng ra thu, sau đó kín đáo đem đến nộp cho vị quan đó.

Có thể cùng xếp vào loại này các sự kiện gần như bắt buộc, đó là: lễ mừng nhậm chức các quan hàng tổng, hàng xã, gia đình các quan có việc hỷ, lễ mừng thọ lục, thập niên của các thân phụ, thân mẫu, lễ hiếu, ngày giỗ v.v… Với vị quan tử tế thì nhận được các lễ vật của người dân đem đến từ tấm lòng, và họ cũng chỉ nhận quà vào lễ nhậm chức, họ coi đó việc mà các thần dân bày tỏ lòng tôn kính theo ý thức tôn ti trật tự.

Có những vị quan đối với các buổi lễ có tính chất vui vẻ của riêng gia đình, họ chỉ mời những đồng sự trực tiếp, có sự gắn bó thân mật kèm theo lời dặn đừng mang quà cho đỡ phải tốn kém tiền bạc. Còn với các đối tượng khác, họ để tự nhiên, không áp đặt. Việc mời mọc đối với các viên chức đến những buổi liên hoan gia đình là một vấn đề rất tế nhị, nó chỉ được mọi người đón nhận và coi trọng nếu vị quan đó là người có lòng tốt một cách rõ ràng và đương nhiên lời mời của ông ta là vì tình thân, muốn làm vui lòng người được mời, chứ không vì có ý lấy cớ để người được mời sẽ phải nghĩ đến chuyện cống nạp những món quà đắt tiền hợp với sở thích riêng cũng như uy thế là bề trên của ông ta.

Có những thói tục phải chấp nhận, thậm chí có tính áp đặt đối với những viên chức, thuộc hạ phải có mặt tại các buổi lễ riêng của gia đình các quan huyện như: tang ma của tứ thân phụ mẫu và người vợ, 2 ngày giỗ (bố, mẹ) của vị quan, đám cưới con trai cả hoặc con gái trưởng nhà quan (với các vị quan có đông con, người lịch sự sẽ không để các thuộc hạ nhất nhất phải tham gia việc cưới hỏi của các con thứ, phải để tùy họ ứng xử).

Ngược lại, rất đáng chê trách các vị quan lạm dụng việc mình quản lý đông nhân viên dưới quyền khi lấy việc gia đình để đòi sự tham góp của họ. Cũng có những vị quan, có những lý do cá nhân, họ tìm cách tổ chức các buổi vui riêng ở những nơi kín đáo, giấu các nhân viên dưới quyền, tránh không để họ phải quan tâm. Thật hay nữa là ông ta chỉ mời dăm ba người thật thân cận và lưu ý họ chỉ nên tặng những thứ giản dị, rẻ tiền nếu vào những dịp mà theo tập quán thường khi đến phải có quà. Việc mời các nhân viên dưới quyền tham gia các buổi vui gia đình và yêu cầu không đem theo tặng phẩm là cách hành xử hết sức văn minh, nhưng cũng chỉ được mọi người chấp nhận khi tất cả đều tin rằng vị quan đó thực lòng. Chẳng dễ để các vị làm sếp thực hiện được.

Còn có kiểu tặng quà khác mà cơ bản là do sự tự nguyện của người tặng. Vào dịp tân gia, cũng là để kỷ niệm một sự kiện quan trọng có tính gắn kết thân tình, để bộc lộ sự quý mến chân thành, các nhân viên cộng sự có tính tập thể muốn để lại dấu ấn bằng một vật kỷ niệm với cách, tặng cấp trên bức tranh thêu mỹ thuật, hoặc bức tranh sơn mài sơn son thếp vàng dùng cho mục đích trang trí trong nhà. Tùy thuộc vào mức độ gần gũi, thân tình của đôi bên cho và nhận, có những bức tranh ghi nội dung viết tặng còn đắt giá hơn vật tặng, có cả những trường hợp ngược lại. Nội dung viết tặng mà đem theo ý nghĩa văn hóa lớn, giá trị hơn hẳn chính cái khung của bức tranh thì người nhận còn bỏ tiền túi ra để mua cái khung khác đắt tiền hơn, có giá trị mỹ thuật hơn thay vào. Điều này chỉ sảy ra khi người nhận tặng phẩm tự thấy vinh dự vì món quà thể hiện sự chân thành. Những kỷ niệm, những biểu hiện của sự quý mến chân thật thường là hiếm thấy, nhất là khi quà tặng được đem đến cho sếp quá nhiều thì cần phải xem xét!

Tuy nhiên, có những loại quà giá trị kinh tế không cao, song lại được diễn ra thường xuyên, có tính tự nguyện và vì thế nó đã tạo ra một nguồn thu nhất định ở các cơ quan thuộc Nhà nước. Đó là các buổi ra mắt (lễ trình diện) khi vào cửa quan và phải nộp tiền. Trước đây, nghi thức này chỉ đơn giản là 2 hộp trà cho mỗi lần vào hầu (trình bày) việc đơn giản, nhưng nếu là việc quan trọng thì sẽ là 8 hộp. Cho dù các quan không có ý định làm giàu cho các nhà buôn trà tầu, nhưng có một nhóm người được lập ra làm việc này ngay trong dinh thự của quan. Một người đầy tớ tin cậy được giao nhiệm vụ đứng ra nhận, đồng thời thống kê những hộp trà nhỏ này và cũng không cần biết bên trong có gì. Những chiếc hộp trà này lại được bán lại ngay cho người lái buôn có cửa hàng ngoài cổng dinh với giá đã xác định, không quan tâm đến chất lượng trong hộp. Người lái buôn này được phép kinh doanh ở vị trí đó theo sự ưu đãi và phải đóng tiền cho nhà quan. Những hộp trà này phải được đánh dấu và sẽ được tiếp tục bán cho khách hàng đến sau, rồi cứ tiếp tục quay vòng như thế. Chúng vào dinh bằng cửa trước và đi ra bằng cửa sau cũng giống như những kẻ đánh bạc, nó chỉ có giá trị khi mua đúng cửa giao dịch được chỉ định.

Dần dà, kiểu “tặng” quà này đã bị loại bỏ vì sự cồng kềnh…và bị mang tiếng khi mọi người nhìn thấy số lượng lớn lên và kiểu cách khi dâng tặng phức tạp thay vì đưa thẳng bằng tiền. Thời gian đầu, những người “nhà quê” còn quan tâm đến một chút về hình thức. Họ chọn những đồng tiền sáng bóng để trên một cái khay và dâng lên bằng hai tay. Vì lý do này, người Tây đã gọi hành vi này của dân ta bằng cụm từ: “Một lạy”. Sau này, họ thấy cái cảnh trên một cái khay to mà chỉ có 50 xu (đúng bằng giá của 2 hộp trà). Thế là, một cách tổ chức khác cái kiểu cách dâng tặng này vì họ cho đó là sự thiếu lịch sự và phiền toái.

Có một người đầy tớ chuyên hầu trà cho quan được biến thành người đứng thu tiền khi vào cửa và theo lệnh là chỉ cho người nào vào sau khi đã nộp tiền, đồng thời sẽ phải biết cộng lại, trình báo với quan khoản tiền thu được. Quan (chủ nhà) cũng ghi chép cẩn thận để cuối ngày kiểm tra, so sánh giữa đôi bên. Họ coi như vậy là nghiêm túc với cách hiểu, người đầy tớ thực hiện vai trò “đón khách” và việc nhận tiền, chỉ là do được khách “bo” cho mà thôi. Quan (chủ nhà) vẫn giữ được danh giá là người “cao thượng” khi có quyền đuổi không tiếp những kẻ dại dột vì không theo “lệ” mới mà vẫn cứ mang theo những hộp trà. Kẻ bị đuổi sẽ tìm gặp ở ngoài cửa ai đó, để rồi sẽ được chỉ dẫn cho họ biết làm theo cái lệ mới.

Tôi không định nhấn mạnh thêm những chi tiết của cái cách tổ chức này, bởi lẽ nó có thể biến hóa vô tận. Như vậy, phương thức này coi như đã được chấp nhận và những khoản thu nhập thông thường của một vị sếp sẽ tùy thuộc vào tính chất công việc mà không liên quan gì tới mức độ quan trọng của nó. Từ thực tế này, các quan muốn có thu nhập nhiều lên trong một tháng thì lệ thuộc vào việc đẩy mạnh hoạt động này đến đâu.

Cả một chuỗi những thủ tục hành chính được tạo dựng nên để buộc những kẻ đi khiếu nại và dân đen khi có việc đến cửa quan phải lần lượt lê qua tất cả các cấp theo một trật tự chặt chẽ nhằm tạo cho các vị trí đều có thu nhập, nhiều hay ít tùy theo tầm quan trọng của những nấc thang đó. Các vị quan lớn mà biết cách tổ chức và điều hành bộ máy làm tiền to lớn này thì, ngoài số tiền qua cửa để xin được gặp, vị quan đó còn nhận được một phần tiền lợi của các bộ phận và nhân viên dưới quyền thu được nhờ chính cái trật tự do vị quan đó sắp đặt. Cuối cùng, nó trở thành một bộ máy làm tiền thật “khoa học” và khéo léo ngang tầm với sự chuẩn hóa các tiêu chuẩn của nước Mỹ.

Đây là sự bắt ép người dân phải mất tiền của vì họ cũng không hiểu rõ và cũng không thấy nguy hiểm gì cụ thể, nhất là đối với dân quê không hề phàn nàn gì khi phải vào cửa quan. Nộp các khoản tiền đó, họ cũng chẳng ta thán mặc dù đều có nhận xét chung rằng, quan hệ với các nhà cầm quyền là quá đắt đỏ và tìm cách tránh đi được trong phạm vi cho phép. Nhưng, các quan lại thạo đời đến mức, họ biết tạo ra cấp số nhân các mối “quan hệ” để đẩy người dân đen phải tìm đến họ. Chính điều này, đồng bào của chúng ta luôn sẵn sàng xếp vào hàng thánh nhân các vị quan biết đơn giản hóa sự việc, giảm được cho người dân các chi phí đến mức thấp nhất, tránh cho họ sự phiền phức khi phải tiếp xúc với cơ quan công quyền.

Những nhân viên, thuộc hạ, đủ loại hình môi giới bám xung quanh vị quan, tìm đủ mọi cách vòi vĩnh, dọa nạt, ăn hiếp những kẻ khốn cùng khi có việc phải đến những nơi ghê tởm này. Một vị quan có đạo đức là người nhận thấy rõ sự khiếp sợ và nỗi gian truân do chính các cận thần của ông ta gây nên đối với những thường dân ngay khi mới đến xin được gặp.

Sự cần thiết phải giữ đôi chút uy tín buộc các nhà quan phải tuyển những nhóm tùy tùng biết nhìn vào đám dân đen mà sống. Vì vậy, các vị quan phải làm ngược lại với cách mà các nhà buôn thường làm, nghĩa là phải biết tránh cho những dân thường việc phải đến gặp quan hay những tùy tùng của mình. Đành rằng, có tùy tùng thì phải có cách nuôi sống họ, nhưng chỉ ở mức tối thiểu cần thiết. Các tùy tùng nhiều khi chẳng ra sao, thậm chí sự tồn tại của họ là phi đạo lý. Bọn người này chỉ thấy sung sướng khi được phục vụ các ông quan vô đạo đức, chúng sẽ kêu ca nếu phải phục vụ một vị quan quá tốt và cho phép người dân tiếp cận ông một cách dễ dãi.

(Còn nữa)

NGUYỄN VĂN VĨNH

Người dịch: Nguyễn Kỳ, Bùi Tường Trác và Nguyễn Thị Mười.

Hiệu đính kỹ thuật: BBT Tannamtu.com

 

Comments

  1. Tran Kim Anh

    Cụ Nguyễn Văn Vĩnh có cái nhìn thật sâu sắc, ngày nay tham nhũng tinh vi hơn rất nhiều.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *