Về Nguyễn Nhược Pháp

Thưa các quý vị độc giả!

Tháng 12 năm ngoái (2014), nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của thi sỹ Nguyễn Nhược Pháp, trang tin tannamtu.com đã đăng bài viết: “100 năm không thể là sự việc tự nhiên…!” bày tỏ nỗi niềm xót xa khi xã hội hiện thời đã có thái độ thờ ơ, vô cảm trước dấu ấn 100 năm ngày sinh của một thi sỹ nổi danh trong lịch sử văn hóa, thi ca Việt Nam, người đã để lại sự thổn thức và những cảm xúc mênh mang về tình yêu quê hương đất nước đến bất tận qua tác phẩm để đời “Đi chùa Hương”.

Nỗi xót xa của chúng tôi cũng đã được đền bù bằng sự nhận lỗi của một số người làm công tác văn hóa văn nghệ liên quan đến đề tài Nguyễn Nhược Pháp.

Đặc biệt, chúng tôi thấy được an ủi rất nhiều khi nhận được 2 bài viết từ năm 1938, đăng trên số 8 của Tạp chí “Tiểu thuyết Thứ Năm” xuất bản tại Hà Nội ngày 24.11.1938, do Nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân sưu tầm và gửi đến cho chúng tôi.

Trong không khí mùa lễ hội Chùa Hương của Xuân Ất Mùi, một mùa lễ hội mà bất cứ người Việt Nam nào khi đặt chân đến nơi, đều được nghe thấy âm hưởng của bài thơ “Đi Chùa Hương”, tác phẩm để đời của thi sỹ Nguyễn Nhược Pháp được phổ nhạc, đã thật sự trở thành bài hát gần gũi với mọi vị khách thập phương. Trong tâm lý xã hội, tên tuổi của thi sỹ Nguyễn Nhược Pháp đã mặc nhiên được gắn liền với di tích kỳ vỹ của dân tộc Việt nam là Chùa Hương.

Được sự nhất trí của Nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân, BBT chúng tôi xin được giới thiệu 2 bài viết này với các quý độc giả để cùng chia sẻ những cảm nhận, những tình cảm quý hóa và nỗi đau sâu sắc của bạn bè, đồng nghiệp làm văn hóa khi mất đi một con người đáng quý trong làng văn nghệ Việt Nam gần tám chục năm trước.

BBT chúng tôi chân thành cảm ơn Nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân đã giúp chúng tôi làm phong phú hơn những hiểu biết của mình về Thi sỹ Nguyễn Nhược Pháp, xin cảm ơn ông Lại Nguyên Ân cũng đã giúp các con cháu là hậu duệ của Thi sỹ Nguyễn Nhược Pháp có thêm niềm tự hào về một người thân tài danh trong gia tộc của mình.

Trân trọng!

T/M BBT Tannamtu.com

Nguyễn Lân Bình.

images

ANH NGUYỄN NHƯỢC PHÁP

Hanoi đã mất một tài hoa. Văn chương đã mất một đứa con. Và chúng ta đã mất một người bạn: anh Nguyễn Nhược Pháp đã tạ thế hồi 7 giờ sáng ngày 19 Novembre 1938, tại nhà thương Lanessan, Hanoi.

4 giờ chiều chủ nhật 20.11.1938, giờ và ngày chua xót cho lịch sử văn học của chúng ta, gia quyến anh Nguyễn Nhược Pháp cùng một số đông bạn học và tất cả các nhà văn nhà thơ có hay không được quen anh, đã theo xe tang anh trong một bầu không khí yên lặng, thương tâm và cảm động vô cùng.

Anh đã được an táng ở Hợp Thiện, giữa tiếng khóc thầm của đủ mặt những văn sĩ và bạn anh.

Dưới đây là bài điếu văn của bọn anh em bạn văn, chúng tôi đã cử anh Lưu Trọng Lư làm và anh Nguyễn Mạnh Chất đã đọc trước huyệt anh ngày hôm an táng. – T.T.T.N.

***

Khi chúng tôi năm ba anh em đương ngồi họp chuyện thì được cái tin buồn thảm ấy: Anh Nguyễn Nhược Pháp thân yêu của chúng tôi đã không còn ở đời này nữa. Cái tin ấy đến chúng tôi, bớt vẻ đột ngột, vì chúng tôi đã được hay trước anh ốm, mà ốm cái bệnh ngặt nghèo. Cái chết của anh không vì thế mà bớt vẻ thương tâm và hãi hùng.

Giời ơi! Thật có thế, cái chết đối với một thiếu niên như anh thật mới là hãi hùng và thương tâm! Tôi tiếc rằng không được là bạn thân của anh, sống ở bên anh những giờ thân ái để có thể thuật lại đây cái đời anh cho những người đương đứng xung quanh nấm mộ anh, với một mối thương xót trong lòng, và với một câu hỏi lạnh lùng trong khối óc: “À làm sao con người ấy lại có thể chết được?‟

Một câu hỏi giản dị như thế chỉ có làm cho người ta rơi được nước mắt mà không thể giúp người ta tìm được một câu trả lời ổn thỏa.

Anh Pháp ! Làm sao anh lại có thể chết được ? Anh ơi ! cái chết đối với anh là một sự vô lý.

Vì ở anh, trên thân xác anh, trên tinh thần anh, không có một triệu chứng suy vi, không có một dấu hiệu đen ám. Anh là màu nắng mới đang reo ngoài cỏ nội. Anh là đóa hoa đang rung động trong vườn xuân. Anh là mai sau, anh là hy vọng… Và đời mở ra dưới mắt anh còn như một buổi mai trong sáng: Những hạt sương không phải là những hạt lệ, mà chính là những màu mỡ để phát sinh, để nảy nở, để chồi mọc…

Anh là một thiếu niên có hầu hết những đức tính mà không có một tật xấu của tuổi ấy! Những người đã được gần anh phải nhận rằng: anh là hiện thân của sự trong sạch, nhưng anh Pháp ơi, có phải vì thế mà mệnh anh đoản chăng? Bây giờ đây, anh đã đến trước ngõ của miền cực lạc, anh hãy quay lại nói cho chúng tôi hay sự ghen tuông, lòng ham muốn vô lý của các vị thần minh, các vị ấy đã cướp lấy ở trong tay thân mẫu anh, các anh em chị em anh, bà con anh, bạn bè anh một người thiếu niên trong sạch hiền hậu, và để chỉ vứt lại giữa cõi phàm trần này toàn là một bọn thiếu niên mà hầu hết lòng ham sống đã nguội rồi. Bắt những người muốn sống không được sống, bắt những người sợ sống phải sống mãi. Anh Pháp ơi, có lẽ đó là cái trò chơi vô cùng tàn ác của các vị thần minh. Vì thế, hôm nay anh đi với một sự thương tiếc không cùng, mà chúng tôi ở lại với một ngậm ngùi vô hạn. Anh thì thương tiếc cuộc đời mà chúng tôi thì ngậm ngùi số phận. Không biết bao giờ anh còn trở lại với cuộc đời nữa, mà chúng tôi không còn biết bao giờ mới trả xong nợ thế… Trong những điều mà lúc ra đi, anh thương tiếc hơn hết có lẽ là cái sự nghiệp văn chương đương dang dở của anh. Vì còn là một kẻ thư sinh, anh đã tỏ ra là một nhà văn, một nhà thơ, một nhà kịch chứa chan hy vọng. Làm sao những bài thơ như “Đi chùa Hương‟, bản kịch “Người chị‟, “Sầm Sơn‟ − những đóa hoa ấy lại chỉ có một mùa mà thôi? Lẽ ra anh phải sống, anh còn phải sống nhiều nữa để mà làm trọn cái thiên chức thiêng liêng của nhà văn sĩ là yêu đương và rắc sự yêu đương, tìm cái đẹp và gieo cái đẹp khắp trong lòng người và ngoài cây cỏ.

Nhưng trời đất nào đã để cho ta làm xong một việc gì đâu! Biết bao tài hoa đã vùi dập giữa thời rực rỡ!

Không phải lần này là lần đầu tiên chúng tôi đến trước mộ một thanh niên văn sĩ như anh để thống trách sự mỏng manh của mọi vật và vẻ tàn ác của hóa công. Trước chúng tôi và sau chúng tôi, trong bóng tối hay ngoài ánh sáng, đã biết bao người, biết bao nhà văn đã khóc đã gào đã thét vì cái luật lệ bất công ấy. Nhưng mà tạo hóa làm thinh, nghìn muôn năm vẫn không thay cái vẻ mặt sắt đá ấy. Điều này mới lại càng tai ác! Bọn nhà văn chúng ta lại là nạn nhân trước hết của luật lệ ấy.

Sáng hôm nay tình cờ chúng tôi được ngồi ăn một mâm rượu với ông Tản Đà. Vô tình nhà thi sĩ nói với chúng tôi: “Trời còn cho sống, tôi sẽ viết hết cuốn “Thiên lương thuyết‟, nếu trời không cho sống thì nấm mộ tôi sẽ xây giữa những trang sách ấy!‟

Nếu nhà thi sĩ ấy đã biết cái chết của anh thì những hạt lệ già ấy có lẽ sáng nay đã rơi trên mâm rượu.

Nhưng tôi, tôi nhắc lại bao nhiêu điều không vui ấy để làm gì? Có phải là để vương víu hương hồn anh trong khi xa lìa cõi thế?

Không, không bao giờ lại thế; chúng tôi chỉ muốn, trong vùng không khí cảm động này, giữa người chết và người sống nhắc lại một câu, một sự thật đã cũ là: đã trót sinh ra kiếp nhà văn là phải vui lòng nhận lĩnh hết sự đùa nghịch oái oăm của số mệnh.

Thôi bây giờ xin rước anh đi và chúng tôi cầu cho hương hồn anh muôn năm được an thỏa.

● Nguồn:

Tiểu Thuyết Thứ Năm, Hà Nội, s. 8 (24 Novembre 1938), tr. 3.




ANH NGUYỄN NHƯỢC PHÁP

12 giờ trưa hôm qua, anh Nguyễn Kỳ, em ruột anh Nguyễn Nhược Pháp, đã lại tận nhà báo cho tôi biết cái tin đau đớn: anh Nguyễn Nhược Pháp tạ thế.

Tôi rụng rời cả chân tay!

Nhưng sau những giây sửng sốt, khi tôi sực nhớ rằng anh Pháp đã là một thi sĩ, thì tôi không kinh ngạc nữa. Sau anh Vũ Lang tới anh Nguyễn Nhược Pháp, tôi đã biết thế nào là số mệnh của nhà văn.

Anh Pháp là tác giả tập thơ “Ngày xưa‟, hình ảnh trung thành của cả một thời đại cổ nên thơ. Giá trị tập thơ đó thế nào, nhiều bạn đã nói đến, và anh Tràng Kiều trên tập “Hà Nội Báo‟ anh chủ trương cũng đã nói hết rồi. Tôi không cần nhắc lại. Những vở kịch ngắn và hai vở kịch dài “Người học vẽ‟ và “Sầm Sơn‟ đã khiến chúng ta hiểu hiểu tất cả tài nghệ viết kịch của anh.

Lời văn giản dị của anh, trong thơ cũng như trong kịch, phải chăng là tượng trưng của một đời bình tĩnh và một tâm hồn giản dị?

Sống bình tĩnh ngày này qua ngày kia, đời anh là một đời phẳng lặng. Anh yêu sự hiu quạnh, ít bạn bè, ít cười nói, và rất ngay thẳng. Người bạn thân nhất của anh, người đã hiểu anh hơn hết là anh Huy Thông. Và vì thế mà tôi được quen anh, gần anh luôn và hiểu thấu tính tình anh.

Tâm hồn anh là một tâm hồn nhẹ như khói, nhưng cũng là tâm hồn kỳ dị với những ai không hiểu nổi anh. Anh buồn buồn một cách nhẹ nhàng. Sự vui của anh chỉ có từng giây, và một đôi khi nó hàm chứa ở trong một sự bí mật mà không ai hiểu nổi. Nhưng phần nhiều, anh vui một cách giản dị và ngây thơ lạ thường.

Chúng ta hãy xem anh mỉm cười:

Mê nàng bao nhiêu người làm thơ…

Con tôi xinh xinh quá

Bao giờ cô lấy chồng?

Sống trong tuổi bồng bột nhất của thanh niên, anh không biết tình yêu là gì. Anh lãnh đạm trước tất cả nhan sắc phảng phất bên anh. Anh từ chối một cách bình tĩnh tất cả những tấm lòng yêu dấu người ta mang đến tặng anh.

Nhưng tôi, tôi được hiểu hơn. Tính tình thùy mị của anh là do ảnh hưởng của gia đình. Còn tâm hồn cao quý hay trái tim trong trẻo của anh là do ảnh hưởng của một đời tình nên thơ và trong sạch, − tôi có thể nói là một “đời tình‟ được chăng? – trong ngày thơ ấu xa lắc xa lơ của anh. Nhưng đó là chuyện riêng, tôi hối hận đã viết ra đây một câu chuyện mà hình như lúc sinh thời anh muốn dấu, không cho ai biết.

Hai năm trước, năm 1936, chúng tôi: anh Pháp, anh Thông và tôi đã hợp tác định tổ chức một một ban kịch, thành lập một tờ báo, thi hành một cải cách vĩ đại trong nghề kịch và trong văn chương. Nhưng vì hồi đó, chúng tôi còn ít kinh nghiệm quá nên công cuộc chúng tôi mơ tưởng đã bị hai lần thất bại.

Nhưng chẳng vì thế mà chúng tôi nản trí. Cách đây 9 tháng, khi anh Pháp tiễn chân anh Thông ra sân ga Hà Nội để sang Pháp du học, anh Pháp còn nắm tay bạn và nhắc:

− Tôi chờ anh bốn năm nữa để làm việc.

Khi xe lửa bắt đầu lăn bánh, anh Pháp đứng lẫn trong những người tiễn chân, cầm mùi xoa vẫy theo và khóc…

Ai có thể quên được cái phút ấy, phút êm đềm mà tình bè bạn thiêng liêng giữa hai anh đã thốt ra bằng giọt nước mắt?

Tôi sực nhớ tới nhà văn hào La Boétie khi thở hơi cuối cùng trong tay người bạn văn chương Montaigne.

Tin anh Pháp ốm, anh Thông cũng đã biết từ nửa tháng trước trong khi anh Thông cũng đang mệt ở bên Pháp. Và trong hai tháng anh Pháp nằm điều trị ở nhà thương Lanessan, tôi đã nhiều lần mang vào những lá thư cầu chúc sức khỏe của anh Thông viết về cho anh. Lần sau cùng, tôi vẫn mừng, chưa thấy một tượng trưng nào của sự chết biến đổi trên nét mặt anh cũng như trong lời nói. Anh vẫn đọc sách, vẫn nhờ tôi viết thư chúc anh Thông chóng mạnh, vẫn tin rằng đời anh chưa đến nỗi… Khi bắt tay ra về, anh còn mỉm cười khôi hài dặn tôi – nhưng mà bằng một giọng nghẹn ngào và chua xót lạ thường:

– Anh viết thư cho anh Thông luôn luôn hộ tôi. Cần nhất là anh cứ bảo là tôi bớt nhiều rồi, gần khỏi rồi. Tôi vẫn chờ anh ấy bốn năm nữa để làm việc và để cùng đi ăn phở…

Tôi không ngờ lời khôi hài ấy là lời cuối cùng tôi được nghe ở miệng anh. Khi bắt tay ra về, tôi không ngờ rằng đó là cái bắt tay vĩnh biệt giữa anh và tôi.

Lá thư chúc khỏi bệnh của anh Thông mới gửi về trước hôm anh Pháp mất, tôi chưa kịp mang vào nhà thương cho anh, thì trưa hôm nay, tôi được tin anh qua đời. Trong hai tuần nữa, có lẽ tin sét đánh này mới tới người bạn thân nhất của anh ở Pháp. Anh Huy Thông sẽ đau đớn thế nào… Và có lẽ thất vọng đến thế nào nữa. Vì, anh đã không được, như nhà văn Mongtaigne, nhận hơi thở cuối cùng của người bạn thân nhất. Rồi đây anh cũng sẽ không được cùng anh Pháp hợp tác trong công cuộc văn chương kia nữa.

− Tôi chờ anh bốn năm nữa để làm việc!

Câu ấy còn văng vẳng bên tai tôi. Tôi tưởng còn trông thấy hai người bạn nắm tay nhau ngoài sân ga Hà Nội và hứa hẹn nhau một ngày tái ngộ, và bao nhiêu công cuộc bồi đắp cho văn nghệ mai sau.

Nhưng anh Pháp ơi! Bốn năm nữa … còn có bao giờ có nữa.

Tôi không ngờ chút nào lần từ biệt cảm động ở sân ga Hà Nội lại là ngày vĩnh biệt của hai anh, ngày cuối cùng của một đời bè bạn, và phút giây sau chót mà hai anh còn trông thấy nhau, còn nói với nhau…

Nối gót thân phụ anh, ông Nguyễn Văn Vĩnh, anh Pháp vẫn mơ tưởng được hy sinh tất cả đời mình cho văn nghệ. “Ngày xưa‟, “Người học vẽ‟, “Sầm Sơn‟ chỉ là bước đầu cỏn con của anh. Anh còn định làm việc nhiều hơn nữa, vĩ đại hơn nữa cho văn học. Nhưng than ôi! Số mệnh, số mệnh tàn ác, số mệnh bất công đã thờ ơ cắt đứt đời anh: Anh đã qua đời trong lúc tuổi trẻ và tài năng anh còn hứa hẹn nhiều quá cho tương lai văn nghệ. Tác giả “Ngày xưa‟ đã ra người “ngày xưa‟ rồi!

Mặc dầu! Một vài tác phẩm đầy giá trị của anh cũng đủ để lưu tên anh lại hậu thế. Tên anh đã ghi rõ rệt vào bia đá thời gian.

Đó là một an ủi xứng đáng nhất cho nhà văn, cho linh hồn anh, linh hồn một thi sĩ đã bị Số Mệnh bạc đãi giữa cái tuổi 24 đáng lẽ đầy vui vẻ và đầy hy vọng của anh.

Chiều nay đây, bọn nhà văn chúng tôi – biết đâu rồi đây sẽ chẳng cùng một số mệnh như anh – đã tụ họp đông đủ ở nơi anh chết, và đã cùng ngậm ngùi bước theo linh cữu anh để cùng đưa anh tới phần mộ nơi an nghỉ cuối cùng của một đời tài hoa bạc mệnh.

Xin anh nhận thấy ở riêng tôi một người thứ hai nữa, một người bạn thân yêu của anh lạc nơi đô hội xa xôi, anh Huy Thông.

Rồi đây, năm năm, tôi sẽ thay mặt anh Thông mang hoa tới đặt trước mồ anh, để chờ tới bốn năm giời nữa, người bạn yêu dấu của anh trở về đây rỏ nước mắt lên mồ người xấu số.

Anh Pháp! Tôi nghẹn lời rồi. Chúc hồn anh được lên thiên đường nhé! Trong vườn thời gian mà mưa gió phũ phàng, anh để yên cho chúng tôi dựng tượng đồng và khắc tên anh vào bia đá! Bọn nhà văn chúng tôi – mà nhất là anh Huy Thông – chúng tôi không bạc bẽo với một người có công nghiệp cho văn nghệ bao giờ.

Đáng lẽ tôi còn nói nhiều, nhiều lắm về anh. Nhưng trong giờ đau đớn này, giờ mà văn chương mất một đứa con, giờ mà anh Huy Thông mất một người bạn, giờ mà gia đình anh mất một người máu mủ, tôi không nói được dài nữa.

Trước khi ngừng lời, tôi thay mặt tất cả những ai đã biết tài anh, tôi thay mặt anh Huy Thông ở xa, và riêng tôi, xin chân thành chia buồn cùng tang quyến, và kính cẩn nghiêng mình trước linh cữu anh mà chào anh lần cuối cùng…

PHẠM HUY THÁI

Viết ngày 20 Novembre 1938

● Nguồn:

Tiểu Thuyết Thứ Năm, Hà Nội, s. 8 (24 Novembre 1938), tr. 4, 21.


Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *