Giới tinh hoa An-Nam (phần 2)

Thưa các quý độc giả!

BBT chúng tôi sau khi khôi phục lại trang web tannamtu.com, đã để lại nhiều khoảng trống so với nội dung của trang web trước khi bị sập hồi tháng 4.2014. Nay chúng tôi xin được bổ xung từng mục Rất mong các bạn độc giả thứ lỗi, đồng thời vui lòng phản ánh ý kiến của mình khi phát hiện thấy những thiếu sót của các mục trong trang tin. Chúng tôi thật lòng biết ơn sự quan tâm của các bạn độc giả.

Bài viết của Nguyễn Văn Vĩnh trên các số báo 178,179 và 180 ra ngày 13,16 và 20.10.1932 báo “L’Annam Nouveau” có nhan đề là :”Giới tinh hoa An-Nam” đã được dịch sang tiếng Việt và đăng lên trang vào ngày 4.2.2013. Sau khi trang web được khôi phục, chúng tôi mới tải lại được phần 1. Lần này, chúng tôi xin đăng lại tiếp phần 2 của bài viết.
Rất xin lỗi các quý vị độc giả!

120718_LAnnamNouveau_thumb

Trang đầu của báo “L’Annam Nouveau”.

Giới tinh hoa An-nam

(Báo L’Annam nouveau-Nước Nam mới, số 178,179 và 180

ra ngày 13, 16 và 20 tháng 10 năm 1932)

Tiếp theo và hết

Chính phủ bảo hộ, ngoài chính sách giáo dục xa lạ với chúng ta về mặt tinh thần, nếu không muốn nói là nó mập mờ và chỉ tương đối dễ hiểu ở khía cạnh thực tiễn và ứng dụng, cũng đã quan tâm đến việc tạo điều kiện cho việc hình thành một tầng lớp tinh hoa An-nam, nơi sẽ cung cấp đội ngũ thày dạy cho cả hai loại hình giáo dục: đương đại và cổ truyền. Đơn cử nhiều hiệp hội, nhiều câu lạc bộ của dân bản xứ được tài trợ một cách hào phóng, nơi người ta hy vọng sẽ quy tụ tất cả những gì là tiêu biểu cho xã hội chúng ta, cả về các hoạt động tri thức cũng như các trò giải trí được cho phép. Thật không may là cơ cấu của các tổ chức này lại hoàn toàn theo kiểu châu Âu và đương nhiên nó chỉ đem lại các kết quả có tính thực dụng. Các tổ chức đó không thể là cái gì khác ngoài hình ảnh của một xã hội hỗn loạn, chắp vá, do các điều kiện sống mới hình thành tạo nên. Lớp người cũ, do sự nghèo túng đã không thể tham gia các hoạt động tốn kém. Những người này chỉ có thể tìm thấy ở đó vai trò của các phụ huynh nghèo, những người thường hay tỏ ra chán ghét thái độ của giới trí thức chỉ quen cầu cạnh và háo danh.

Tuy nhiên, những người này lại chính là thành phần tiêu biểu nhất cho nền văn hóa truyền thống. Người Tây Âu đôi khi vời đến họ, chủ yếu do sự tế nhị và ngay sau đó lại thường thấy thất vọng. Những nhóm người này, hoặc tỏ ra xa cách và cương quyết không chịu hợp tác do nghĩ rằng chẳng có gì liên quan đến mình, hoặc bị mua chuộc một cách dễ dãi, để rồi đánh mất mình và suy thoái, trở thành những kẻ hãnh tiến.

Ngay chúng ta, những người An-nam cách tân, không phải ai cũng biết cách đối xử cho phải lẽ với lớp người cũ. Dưới mắt họ, chúng ta giống như những tín đồ mới của các học thuyết mới mà họ hoặc không thích thú gì, hoặc vượt quá tầm hiểu biết của họ cho dù các học thuyết này có tỏ ra quyến rũ thế nào chăng nữa. Hoặc giả như chúng ta tìm kiếm ở họ những giáo lý cổ xưa, những phạm trù mà họ biết chúng ta chẳng thể có năng lực và cũng chẳng ăn nhập gì với các hoạt động nháo nhào với những cuộc chạy đua kiếm tiền trong cuộc sống mới đương thời. Nói chung, chính trong những thời khắc tuyệt vọng  nhất, chúng ta hay tìm cách đắm chìm trong các giáo lý cũ, giống như với Cơ Đốc giáo, những người thất bại trong cuộc đời thường tìm đến sự cứu rỗi và an ủi của một linh mục. Tuy nhiên, khổng giáo không phải là một tôn giáo mà là một sức mạnh được chế ngự, và nhẫn nhịn theo một triết lý riêng, nhưng lại tin chắc có một ngày nào đó sẽ thống trị thế giới, mỉm cười thanh thản với chiến thắng tạm thời của nguyên lý đối kháng, kiên nhẫn chờ đợi sự trở lại tất yếu của trật tự vĩnh hằng phải được kế tiếp cái hỗn loạn nhất thời, tuân theo thuyết luân hồi vĩ đại mà các nhà hiền triết xưa đã dạy.

Nền văn hóa đó, ai cũng nghĩ, đã trở nên cằn cỗi và bị xếp xó cùng với những phong tục cổ xưa, chính điều này đã đẩy cái xã hội châu Á vào cõi hư vô hàng ngàn năm.

Song không hẳn như vậy, nền văn hóa này đã từng lên án sự náo loạn vô ích, thay vì các hoạt động thiết thực và hữu ích. Nó chối bỏ cách hành xử hỗn loạn mà người ta để cho lòng tham của những kẻ điên rồ thực hiện. Mặt khác, nó lại ca ngợi sự cần cù, thông thái của con người trong trật tự và trong sự an bình. Nó lại bảo ban  những con người nhỏ bé và khiêm nhường cách học chữ nhẫn và cách sống trước tiên phải vì chính mình, phải biết tối thiểu việc tạo ra được những cái mình cần hoặc những giá trị tương tự. Ngoài ra, nó cũng làm cho con người ta thành cao quý hơn (quân tử), vì những hành động thực sự hữu ích cho mọi người xung quanh, từ đó sẽ lan tỏa từ cá nhân đến gia đình, từ gia đình ra xã hội, và từ xã hội vào vũ trụ bao la.

Hòa bình và sự ổn định sẽ bao trùm thế giới này nếu mỗi chúng ta thấm nhuần cái đạo lý vĩ đại mà gần gũi này, nó sẽ là hình ảnh tương phản gay gắt khi chính sách của các nước phát triển đẩy con người ta đến chỗ tiêu thụ mà không cần biết mình có làm ra được cái lượng cần thiết cho nhu cầu tiêu thụ của chính mình hay không ?! Những chính sách đưa con người đến chỗ chỉ biết tiêu thụ! Thậm chí, trong một số bối cảnh nhất định, đã cản trở con người nghĩ đến việc làm ra sản phẩm. Sự bất công to lớn này đã diễn ra lâu nay trong trên thế giới này, một sự thật trớ trêu ngoài sức tưởng tượng. Các dân tộc đấu tranh không còn nhằm giành lại chủ quyền, lãnh thổ và tài nguyên, mà để giành được thị trường cho mình. Chính vì thế, thật nực cười cho các nước yếu muốn giành lại được tất cả thì phải chịu thua cuộc! Nhưng kẻ thua cuộc, thường sớm muộn gì cũng sẽ chuyển dần theo phương thức và quan điểm của kẻ thắng cuộc. Thế giới hiện đại sẽ tiếp tục là nạn nhân của những ảo tưởng về quyền lực cho đến một ngày khi nó không chịu đựng nổi, nó sẽ phải công nhận rằng người Mông Cổ, những kẻ xâm lăng cả thế giới, cướp bóc của cải và phụ nữ, còn nhất quán trong hành động hơn các thế lực đương đại. Những kẻ xâm chiếm đất nước của các dân tộc yêu hòa bình, họ bắt người dân phải tiêu thụ những thứ họ không sản xuất ra và còn vượt xa khả năng chi trả thực tế của họ dưới dạng các loại hàng hóa, như nhu yếu phẩm, thực phẩm, vải vóc…

Có thể tôi đã đi quá xa so với chủ đề chính, khi đề cập đến một nền văn hóa khả dĩ có thể tạo nên lớp người ưu tú của chúng ta, để nó sẽ phải tiếp tục là nhân tố hình thành nên các nhân vật lãnh đạo của thế giới nhỏ này của chúng ta. Tầm ảnh hưởng của phạm trù này là rất quan trọng. Nếu không thể nêu cao được sự vượt trội về lý luận trong các quan điểm của mình, chúng ta chỉ còn nước để mặc cho các sự kiện cuốn đi, tuân theo một cách nhẫn nhục việc dòng đời cuốn trôi tới nơi mà ta hy vọng sẽ có kết cục tốt đẹp hơn.

Cần phải nhắc lại, là đã đến lúc người An-nam, nếu không nói là toàn bộ dân châu Á, cần phải nghĩ đến việc trở lại là chính mình! Hãy quay lại thành chính những con người thực như trước kia, những người yêu hòa bình và luôn hướng tới những mục đích vì hòa bình.

Ngay cả trong các cuộc chiến tranh trước đây, khi lên đường chiến đấu, họ luôn nói, họ đi bình định các bộ lạc ngỗ ngược! Nếu các chủ ý không phải lúc nào cũng trong sáng, thì cái mục đích khá hài ước mà họ gán cho các cuộc chiến lại chứng minh cho riêng nó một lý tưởng về hòa bình được thực thi trong những thời kỳ có trật tự và sự phồn vinh.

Như vậy, lớp người ưu tú của chúng ta bao gồm những nhân vật được chính nền văn hóa này tạo nên và nuôi dưỡng, những người trung thành và lấy nền văn hóa này làm kim chỉ nam bất di bất dịch trong suốt cuộc đời, họ không được nao lòng ngay cả khi bị các đòi hỏi trớ trêu của cuộc sống hiện đại thúc ép. Lớp tinh hoa này tồn tại độc lập với các hoạt động của một xã hội mới, không màng tới một thế giới nhiễu nhương. Nó tồn tại trong lòng cộng đồng mà nó vẫn sẽ tiếp tục là tác nhân định hướng về tinh thần và ý chí của xã hội.

Nếu xã hội ta mong muốn vẫn tồn tại là chính mình, cần phải bằng mọi giá dành cho lớp người ưu tú chân chính một vị trí xứng đáng. Để làm được điều này, cần phải khôi phục giá trị của nền văn hóa truyền thống, không chỉ đối với nhà cầm quyền Pháp, những người ban phát danh vị và bổng lộc, mà ngay cả trong giới trí thức trẻ. Những người trẻ tuổi này, sau khi đạt được các vị trí cần thiết trong xã hội, cần phải tạo cho mình một nguyên tắc là sẽ quay trở về với cái nôi của nền văn hóa dân tộc, thông qua việc nghiên cứu các tác phẩm cổ điển đã từng tạo nên các giá trị đặc trưng của con người An-nam.

Để lớp người ưu tú này có thể hình thành và tự khẳng định mình, chỉ có thể lựa chọn và đưa vào các chủ thể đã thấm nhuần các tư tưởng lớn, tư tưởng tạo ra tâm hồn châu Á của chúng ta. Lớp người này cũng cần phải đối nghịch lại với các tham vọng của lớp tinh hoa giả hiệu, đối nghịch trong cả các quan điểm, các biến tướng nhằm thích ứng với cuộc sống đương đại và để đạt được điều này, họ phải có khả năng phản bác và bẻ gãy các luận điệu ngu dốt, cơ hội mà thường khi những người phương Tây nông cạn đã nhận định là các quan điểm chính thống của giới tinh hoa bản xứ.

Độc giả có thể tự luận ra, thông qua những gì tôi vừa nêu, các phương thức thực hiện và tôi sẵn lòng tiếp kiến để cùng bàn về các phương cách này.

Hết

NGUYỄN VĂN VĨNH

Người dịch: Nguyễn Như Phong

Hiệu đính kỹ thuật: BBT tannamtu.com

L’ELITE ANNAMITE

Le Gouvernement du Protectorat s’est bien préoccupé, -en dehors de sa politique d’enseignement dont la formule nous échappe au point de vue idéaliste, pour ne pas dire qu’elle nous parait hésitante, si elle est assez claire au point de vue pratique et utilitaire-de favoriser la création d’une élite annamite où les deux modes de formation, actuelle et ancienne, auraient leur contingent. A preuve toutes ces associations, ces cercles indigènes, généreusement appuyés, où l’on espère voir réuni, dans le travail intellectuel et dans les plaisirs permis, tout ce qu’il y a de marquant dans notre société. La technique de ces organisations est malheureusement tout à fait européenne et elle amène naturellement les seuls résultats pratiques qu’on pouvait en attendre. Ces noyaux ne seraient être, en effet, autre chose qu’un reflet hétéroclite que les nouvelles conditions de la vie ont créé. Les anciens, tenus par l’indigence loin de toutes les manifestations couteuses, n’y trouvent qu’une place de parents pauvres qui répugne généralement au tempérament du lettré, habitué à être recherché pour lui-même et honoré sans bourse délier.

C’est lui, pourtant, le type le plus représentatif de la culture traditionnelle. L’européen le recherche parfois, par raffinement, et se trouve souvent tout déçu en sa présence. Ou bien, il est distant et résolu à ne pas entrer dans cette galère où il sait n’avoir que faire ; ou bien, naïvement séduit, il s’y perd et dégénère lui-même en arriviste.

Nous-mêmes, les Annamites transformés, nous ne savons toujours pas tous nous comporter avec ces vieux comme il convient. Ou bien nous nous présentons à eux en prosélytes des doctrines nouvelles dont ils ne veulent pas ou qui semblent dépasser leur entendement malgré toutes leurs séductions. Ou bien, nous venons chercher auprès d’eux un peu de leur vieille sagesse, dont ils nous savent incapables, incompatible qu’elle est avec  l’activité fébrile et la chasse aux piastres qui caractérisent notre vie nouvelle. C’est généralement dans nos moments de déception et de découragement que nous cherchons à nous retremper dans les vieilles doctrines, comme, dans la religion chrétienne, les vaincus de la vie viennent chercher des consolations et des paroles d’apaisement auprès d’un prêtre. Mais le confucianisme n’est pas une religion. Il est lui-même une puissance vaincue, philosophiquement résignée, mais certaine de reprendre un jour les rênes du monde, souriant avec sérénité au triomphe momentané du principe contraire, attendant avec patience le retour inéluctable de l’ordre vrai, succédant fatalement au désordre, suivant cette grande Loi d’alternance si lumineusement exposée par les sages de l’antiquité.

Cette culture, dites-vous, est stérilisante et il est juste qu’on la relègue parmi les vieilles choses qui ont tenu le monde asiatique dans sa torpeur millénaire.

Pas tant que vous le pensez. Elle condamne la vaine agitation et non pas l’activité vraie et féconde ; elle rejette les gestes désordonnés permis aujourd’hui à l’ambition des sots, mais préconise le labeur utile et raisonné du sage dans l’ordre et dans la paix ; elle prêche la résignation des petits et des humbles (tieu nhan) au rôle modestement actif de l’ individu, dont le devoir est d’abord de vivre pour lui-même, produisant au moins ce qu’il consomme ou l’équivalent palpable ; mais elle prescrit à l’homme supérieur, le quan lu, une action graduellement féconde pour les autres, allant de l’individu à la famille, de la famille au pays et du pays à l’univers.

Quelle paix et quelle harmonie régneraient dans le monde si chacun s’inspirait de cette grande sagesse, abordable au premier venu ! Quel contraste frappant avec cette politique des grands pays industriels qui pousse l’individu à consommer sans s’assurer si chacun produit le juste équivalent de ce qu’il consomme ; qui le contraint à consommer en quelque sorte et, dans certaines circonstances déterminées, lui interdit même de produire. Et ainsi se commet dans le monde cette immense iniquité, inconcevable et pourtant vraie. Les peuples guerroyant non plus pour conquérir des sujets, des territoires et des biens, mais des clients à servir. A ce compte, si l’ironie était permise aux peuples faibles, il y aurait tout à gagner à être vaincus. Mais les vaincus sont peu à peu convertis aux méthodes et aux conceptions des vainqueurs, et le monde moderne continuera à être la dupe de cette illusion de puissance jusqu’au jour où il n’en pourra plus, où il sera forcé de convenir que le Mongol qui conquérait le monde pour piller les biens et ravir les femmes était peut-être plus conséquent que les puissances modernes qui conquièrent les nations pacifiques pour les obliger à consommer ce qu’elle n’ont pas produit et au-delà de ce qu’elles peuvent donner en payement réel, c’est-à-dire en produits vraiment utiles, denrées alimentaires, tissu pour habillement.

Me voilà amener à des considérations trop éloignées du sujet peut-être, en parlant de la culture qui faisait notre élite et qui doit continuer à former les dirigeants de notre monde. Cette digression était nécessaire. Sans la démonstration de la supériorité théorique de nos anciennes conceptions, il n’y aurait qu’à laisser faire les événements ou suivre avec résignation le courant qui nous emporte vers un état nettement meilleur.

Cela revient à dire qu’il est grand temps que les Annamites, pour ne pas dire tous les Asiatiques, songent à rentrer un peu en eux-mêmes et à redevenir ce qu’ils ont été de tout temps, des hommes pacifiques ayant toujours poursuivi des buts de paix, jusque dans la guerre puisqu’en allant guerroyer, ils disaient qu’ils allaient pacifier des tribus turbulentes. Si l’intention n’était pas toujours sincère, cette fin ironique attribuée à la guerre décèle, à elle seule, tout un idéal de paix, qu’on dit réalisé dans les temps où règnent l’ordre et la prospérité.

Notre élite, c’est donc l’ensemble de ceux qui se nourrissent de cette culture, s’en réclament et la prennent pour règle immuable de leur existence, même quand les nécessités des temps les contraignent à se compromettre avec les exigences bizarres de la vie moderne. Elle vit aujourd’hui en dehors de l’activité nouvelle, ignorée du monde, presqu’en parasite, au milieu d’une société dont elle continue néanmoins à détenir la direction morale.

Si notre société veut rester ce qu’elle est heureusement encore, il faut à tout prix donner à cette élite légitime la place qui lui revient et, à cet effet, revaloriser la culture traditionnelle, non seulement auprès des pouvoirs français dispensateurs d’honneurs, de richesses et de vie mais encore auprès de nos nouveaux intellectuels natifs. Il faut que ceux-ci se fassent un règle, après avoir acquis la préparation indispensable aux carrières actuelles, de se retremper dans la culture nationale pour l’étude des anciens classiques qui seuls forment des valeurs spécifiquement annamites.

Pour que cet élite se forme et s’impose, il faut qu’elle se recrute d’une façon sévère et n’admette dans son sein que des sujets ayant bien pénétré les grandes pensées qui ont fait notre âme asiatique. Il faut encore qu’elle oppose aux prétentions de la fausse élite, ses propres conceptions, mises au point pour répondre aux besoins de la vie moderne et, pour cela, être en état de réfuter, de confondre toutes les âneries opportunistes que l’Européen superficiel prend trop souvent pour des opinions authentiques de l’élite indigène.

Les lecteurs déduisent eux-mêmes de ce que j’ai dit, les moyens de réalisation, sur lesquels je ne manquerais pas d’ailleurs de les entretenir.

NGUYEN VAN-VINH

Retranscrit par PASCAL DELOHEN

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *