100 năm không thể là sự việc tự nhiên…!

Nỗi niềm

Mùa hè năm nay, trong rất nhiều lần giao tiếp với những gương mặt vừa có danh, vừa có phận trong xã hội văn học và văn hoá ở Việt Nam*, tôi đã có sự trao đổi với họ như một lời tâm sự rằng: năm nay tròn 100 năm ngày sinh nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp (1914-1938). Những quý vị đó đều thảng thốt thể hiện sự trân trọng với đầy tính thân mật khi nghe tôi chia sẻ… Ai trong số họ cũng khẳng định không đắn đo: Chúng ta phải làm cái gì đó, 100 năm, ý nghĩa lắm…!

Việc tôi bày tỏ với họ, những gương mặt mà tôi luôn có lòng tin về một nhân cách của những người có lương tâm nghề nghiệp, những người có một ảnh hưởng nhất định trong bầu sinh quyển văn hoá ở đất nước này, không phải để “xin” điều gì đó, cái gì đó, hay phải thế này, thế khác với một nhà thơ vĩnh viễn được công chúng yêu mến vì nó gắn liền với chùa Hương, nơi linh thiêng từ trong tâm khảm của mỗi người Việt Nam yêu quê hương.

Càng không phải để họ ban phát cho vong linh thiêng liêng của một người mà chính tất cả họ đã được học từ những người từng là thầy dạy của họ rằng giá trị hồn thơ của Nguyễn Nhược Pháp đã ảnh hưởng và có ý nghĩa như thế nào đối với kho tàng văn hoá Việt Nam.

Gần 100 năm trước, khi Nguyễn Nhược Pháp làm thơ, cụ cử Mai Đăng Đệ, thành viên của Ban Trị sự báo Trung Bắc Tân Văn (Nhật báo đầu tiên trong lịch sử báo chí Việt Nam) đã hét lên với những đồng nghiệp của mình trong toà soạn khi đọc thơ Nguyễn Nhược Pháp rằng:“Gớm chết! Thơ hay quá, ông thiên tướng ơi! Phải đọc đi, đọc ngay đi mới được”.

Vào những năm cuối của thế kỷ XX, một ngày đẹp trời, Sở Văn hoá tỉnh Hà Tây cũ đã long trọng chủ động tổ chức một buổi lễ rước tấm bia được làm bằng kinh phí của tỉnh với nội dung ghi rõ: Phần mộ danh nhân văn hoá Nguyễn Nhược Pháp, về gắn tại khu mộ của gia tộc nhà thơ ở nghĩa trang Bãi Sấu, xã Phượng Dực, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây (Nay là huyện Phú Xuyên, Hà Nội). Một nghĩa cử không thể không gọi là trân trọng và cả niềm tự hào của hậu thế.

Thân phận.

Nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp sinh ngày 12.12.1914 tại số nhà 50 phố Hàng Trống, Hà Nội. Mẹ Nguyễn Nhược Pháp là người Thổ ở Lạng Sơn và là vợ hai của học giả Nguyễn Văn Vĩnh.

Năm 1916, mẹ Nguyễn Nhược Pháp tự vẫn. Ông Nguyễn Văn Vĩnh đưa Nguyễn Nhược Pháp về ở với bà vợ cả và gia đình ở 39 phố Mã Mây, Hà Nội. Năm 1923, gia đình ông Nguyễn Văn Vĩnh chuyển lên số nhà 13-15 phố Thuỵ Khuê (Trước cửa nhà là trường Chu Văn An hiện nay). Ông Nguyễn Văn Vĩnh và gia đình đã yêu thương và tôn trọng Nguyễn Nhược Pháp hết mực, một phần vì mẹ mất sớm, nhưng mặt khác vì Nguyễn Nhược Pháp rất giỏi và nhiều tài lẻ.

NNP1

Nguyễn Nhược Pháp chụp năm 1923

Đầu những năm 1930, Nguyễn Nhược Pháp thi đỗ và theo học trường đại học Luật khoa ở Hà Nội. Năm 1938, Nguyễn Nhược Pháp bị ốm nặng, các bác sỹ nhận định bị bệnh lao và Nguyễn Nhược Pháp đã qua đời ở tuổi 24 tại bệnh viện Đồn Thuỷ (nay là quân y viện 108). Khi qua đời, các anh chị em ruột đã thấy dưới gối nằm trên giường bệnh của bệnh viện, Nguyễn Nhược Pháp để lại 3 bức thư.

Bức thứ nhất: Nguyễn Nhược Pháp viết bằng tiếng Pháp cho các bác sỹ và các hộ lý của bệnh viện để cảm ơn vì mọi người đã tận tình cứu chữa và chăm sóc cho mình.

Bức thứ hai: Nguyễn Nhược Pháp viết để vĩnh biệt gia đình, vĩnh biệt mẹ già cùng các anh chị lớn và ôm hôn các em. Trong thư, Nguyễn Nhược Pháp đã kể lại những nỗi đau đớn khi lâm bệnh và nói rằng: mình chẳng có tội tình gì trên cõi đời này. Nguyễn Nhược Pháp còn an ủi mọi người thân rằng: xuống suối vàng, cuộc đời Pháp sẽ sung sướng hơn

Bức thư thứ ba: Nguyễn Nhược Pháp viết gửi riêng cho anh trai là Nguyễn Giang để góp ý với anh trong việc chăm sóc mẹ già và quan tâm đến các em của mình nhiều hơn.

Thi thể Nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp lúc đầu được an táng tại nghĩa trang Hợp Thiện, Mai động, Hà Nội. Sau vì đây là phần đất của gia đình học giả Nguyễn Văn Vĩnh đã bị ép phá sản, chính quyền đương thời bán cho chủ mới và bị bắt buộc phải di dời nên những ngôi mộ của gia đình học giả Nguyễn Văn Vĩnh đã được chuyển về quê nhà. Nhưng những biến động trong lịch sử đất nước, cùng những tổn thất và mất mát không thể đong đếm được của gia đình học giả Nguyễn Văn Vĩnh là một phần nguyên nhân của việc tạo ra hậu quả, đó là việc mất vị trí xác định ngôi mộ của nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp tại khu đất nghĩa trang của xã Phượng Dực.

Sau rất nhiều năm lo lắng và phiền muộn của các con cháu trong gia tộc học giả Nguyễn Văn Vĩnh, phần vì tâm linh, phần vì lời nguyền của cụ bà cả học giả Nguyễn Văn Vĩnh (cụ bà Đinh Thị Tính), rằng: “Khi nào tao chết, nhớ cho tao nằm cạnh thằng Pháp!”, ngày 20.12.2012, bằng nhiều sự cố gắng và những may mắn lớn, các con cháu trong gia tộc học giả Nguyễn Văn Vĩnh đã thành công trong việc xác định phần mộ của nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp, đồng thời đã quy tập về khu mộ của gia tộc được củng cố và tôn tạo năm 2010. Lời nguyền của cụ bà cả học giả Nguyễn Văn Vĩnh đã được thành hiện thực sau 47 năm thật dài…

Sự nghiệp.

Nguyễn Nhược Pháp hoàn toàn bước đi tự nhiên vào con đường văn học và nghệ thuật. Ông là sinh viên trường Luật Hà Nội khi ông đã hoàn thành 2 tập thơ là “Ngày xưa” và “Ngày xanh”.

Nguyễn Nhược Pháp là tác giả của 10 vở kịch, trong đó có các vở đã trở nên gần gũi với thế hệ những người cùng thời với ông như: “Người học vẽ-Kịch 3 hồi”, “Một chiều Chủ Nhật” và “Khỏi nấc” đều là kịch một màn, “Sầm Sơn- Kịch vui 3 hồi” và “Người lao”…

Nguyễn Nhược Pháp đã sáng tác được 10 truyện ngắn như: “Tình trẻ thơ”, “Mẹ và con”, “Bức thư”… Hầu hết các tác phẩm này đều đã xuất bản đầu năm 1950 tại Hà Nội.

Nguyễn Nhược Pháp có 10 bài phê bình văn học được viết bằng tiếng Pháp và đăng trên tờ báo L’Annam Nouveau (Nước Nam mới). Những bài phê bình này được các yếu nhân cùng thời như: Bàng Bá Lân, Mai Đăng Đệ, Nguyễn Kim Chương, Nguyễn Vỹ, Phạm Huy Thông, Hoài Thanh đã đánh giá là ngay thẳng và chân thành.

Trong suốt nhiều thập kỷ qua, việc hậu thế chỉ có khái niệm giản dị rằng khi nói đến Ngyễn Nhược Pháp thì biểu chưng là “Em đi chùa Hương”. Thực tế này đã bộc lộ một góc khuất của hệ thống giáo dục xã hội văn học ở Việt Nam. Tuy nhiên, chỉ một bài thơ “Em đi chùa Hương” thôi cũng đã đủ để thấy hết cái hồn bất diệt của những người làm văn hoá, của các nhà thơ, nhà văn chân chính đã để lại gì cho hậu thế, đã đem đến gì cho văn hoá dân tộc. Thế mới biết tri ân trong văn chương là vô luân tuổi!

Hà Nội, ngày 10.12.2014

Nguyễn Lân Bình



NNP2


Người cao nhất ở giữa là Nguyễn Nhược Pháp.

Lần lượt từ trái sang phải là những người em của Nguyễn Nhược Pháp: Nguyễn Kỳ, Nguyễn Dực, Nguyễn Thị Mười, Nguyễn Phổ và nhỏ nhất là Nguyễn Hồ. Ảnh chụp năm 1925.

NHÀ THƠ XUÂN DIỆU VIẾT TẶNG NGUYỄN NHƯỢC PHÁP

Nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp mất ngày 19.12.1938 (Dương lịch).

Đêm ngày 20.12.1938, vì xót xa và quý mến bạn, nhà thơ Xuân Diệu (1916 – 1985) đã viết bài thơ khóc bạn có đầu đề là “Viễn Khách” để tặng Nguyễn Nhược Pháp. Bài thơ này đã được đưa vào tập thơ “Thơ Thơ” của nhà thơ Xuân Diệu.

Năm 2008, nhân 70 năm ngày giỗ của nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp, chúng tôi đã công bố lần đầu tiên bài thơ “Khóc bạn” của nhà thơ Nguyễn Bính. Lần này, nhân 100 năm ngày sinh của nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp, BBT.tannamtu xin được trân trọng công bố lại bài thơ của nhà thơ Xuân Diệu viết tặng Nguyễn Nhược Pháp.

VIỄN KHÁCH

Tặng Nguyễn Nhược Pháp.

Đương lục hoàng hôn xuống,

Là giờ viễn khách đi.

Nước đượm màu li biệt

Trời vương hương biệt li.

Mây lạc hình xa xôi;

Gió than phiền trách móc,

Mây ôi và gió ôi!

Chớ nên làm họ khóc.

Mắt nghẹn nhìn thâu dạ;

Môi khô hết níu lời…

Chân dời, tay muốn rã…

Kẻ khuất, kẻ trông vời…

Hôm nào như hôm qua

Mà kề trên gối sành?

Anh đi đường có hoa…

Tôi nằm trong tuổi lạnh.

Buổi chiều ra cửa sổ;

Bóng chụp cả trời tôi!

Ôm mặt khóc rưng rức;

Ra đi là hết rồi.

XUÂN DIỆU.



Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *